Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
Hồi ức Đại học Sư phạm Huế
Hồi ức Đại học Sư phạm Huế - Trần Công Tín

 

Năm 1963, sau khi tốt nghiệp Tú tài 2 (tú tài toàn phần ban C), tôi chọn thi vào trường Đại Học Sư Phạm ban Việt Hán. Hồi ấy, Sư Phạm rất có giá trị và được trọng nể (khác với bây giờ) vì vào học ở đó, sinh viên có rất nhiều quyền lợi:

   - Toàn bộ sinh viên được hưởng học bổng suốt 4 năm học (kể cả những người ở lại lớp 1 năm), mỗi tháng được lãnh 1500 đồng đủ để chi tiêu sung túc vì hồi đó vàng 700 đồng/chỉ.

   - Khi ra trường được bổ dụng ngay làm giáo sư đệ nhị cấp chánh ngạch (nghĩa là vào biên chế ngay). Với quy chế này, nếu mình có bị gọi nhập ngũ thì cũng được hưởng lương giáo sư nhiều gấp 2 lần lương chuẩn úy (hồi 1967, lương chuẩn úy khoảng 4000 đồng chỉ số 250, trong khi lương giáo sư đệ nhị cấp được 8000 đồng chỉ số 470).

 

Bởi thế rất nhiều người nộp đơn dự thi Sư Phạm. Ban của tôi có hơn 100 người thi và lấy đỗ 22 người. Thí sinh phải qua 2 kỳ thi: viết và vấn đáp.

 

Kỳ thi viết diễn ra ở giảng đường C (rạp hát Morin cũ, sức chứa khoảng 250 người) và trải qua 3 môn: Giảng văn, Văn học Sử và Pháp văn. Thi xong độ một tuần thì có bảng để vào vấn đáp. Ở phần thi này, chúng tôi chịu sự sát hạch của 3 vị giáo sư: thầy Lê Hữu Mục, thầy Đoàn Khoách và một vị nữa mà tôi quên tên. Họ hỏi đủ vấn đề về văn học Việt Nam, đủ tác giả, chẳng giới hạn ở một chương trình nào. Mỗi thí sinh trả lời khoảng 30 phút và đều cảm thấy hoang mang, lo lắng vì thấy mình trả lời ít song suốt, nhiều sai sót. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng đỗ khá cao, thứ 7/22.

 

Khóa chúng tôi là khóa đầu tiên học 4 năm (trước đó chỉ học 3 năm) mang tên là: Dự bị Sư Phạm, Năm 1, Năm 2, Năm 3. Sau này, danh xưng có thay đổi nhưng đại khái cũng học 4 năm. Năm dự bị chúng tôi học với các vị sau: thầy Lê Hữu Mục (người Bắc, to, cao,phát biểu hùng hồn) thầy phụ trách Văn học Việt Nam và chữ Nôm; thầy Đoàn Khoách dạy lý luận Văn học và chữ Hán; thầy Phạm Lương Hàn dạy tác phẩm Hán văn; thầy Pierre Đỗ Đình dạy Triết học Trung Hoa; thầy Lê Khắc Phò dạy tác phẩm Pháp văn; thầy Bonzon dạy phân tích văn phạm.

 

Lần đầu tiên tiếp xúc với chữ Nôm, chúng tôi rất bỡ ngỡ mà thầy Mục lại nghiêm khắc khiến chúng tôi lao đao, vất vả. Sau biến cố 11/1963, vì lý do chính trị, thầy Mục bị thuyên chuyển đi nơi khác, thay thế vào đó là thầy Lê Văn Hoàng. Thầy tuy không có bằng cấp cao nhưng lại rất giỏi chữ Nôm và từng làm việc ở Nam Triều, giữ việc lưu giữ công văn ở văn phòng Bảo Đại nên thường kể cho chúng tôi nghe những việc trong Đại Nội, khá lý thú. Thầy rất uyên bác nhưng lại rất hiền, tận tình, thương yêu, giúp đỡ sinh viên. Những anh làm luận văn tốt nghiệp đều lên nhà thầy ở Cái Vạn để nhờ chỉ giáo về các tư liệu chữ Hán.

 

Lớp dự bị của tôi có 22 người trúng tuyển nhưng chỉ có 18 người theo học, chẳng hiểu vì lý do gì. Sau một năm dùi mài kinh sử, khi thi lên lớp chỉ có 13 người được trúng tuyển, còn 5 người bị ở lại. Vì con số 13 này mà lớp tôi bị nhiều xui xẻo. Đầu tiên là anh Trần Đình Vĩ, trong một chuyến đi chơi với bạn bè đã bị chết đuối ở Thuận An năm 1966.

                                                                                                             

Thế là còn 12 người tốt nghiệp ra trường năm 1967. Kế đó là anh Phạm Sửu chết vì tai nạn xe hơi năm 1972 trên con đường chạy từ Quảng Trị vào Huế. Tiếp theo anh Nguyễn Văn Tư chết khoảng năm 1981 vì lao tâm, lao lực. Rồi anh Huỳnh Châm, một chuyên gia về Hán Nôm cũng qua đời vì bạo bệnh năm 1985. Như thế hiện giờ khóa tôi chỉ còn 9 người, trong đó có 2 nhà văn rất nổi tiếng là Trần Duy Phiên (hiện  sống ở Sài Gòn) và Tiêu Dao Bảo Cự (hiện  sống ở Đà Lạt).

 

Anh Nguyễn Đắc Xuân học trên tôi một lớp nhưng vì ở lại nên học cùng chúng tôi. Nhà trường cho phép anh chỉ học các môn nghiệp vụ sư phạm, và làm luận văn để tốt nghiệp dưới sự bảo trợ của thầy Lê Hữu Khải, một nhà nghiên cứu kịch nghệ tài năng. Vì tham gia tích cực vào vụ biến động miền Trung năm 1966 và sau đó bị chính quyền Sài Gòn truy nã gắt gao nên anh phải thoát ly và không nhận được bằng tốt nghiệp. 

 

Anh chọn đề tài Hát bội, công trình nghiên cứu rất công phu, được thầy Khải khen ngợi, anh em chúng tôi tán thưởng và sắp sửa đưa ra trình bày trước hội đồng khoa thì xảy ra biến cố 1966. Anh tuy học một lớp nhưng lớn hơn tôi đến 6 tuổi và chúng tôi xem như bậc đàn anh. Khi đi thực tập, chúng tôi đôi lúc lo lắng vụng về, lúng túng trong lúc anh chững chạc, tự tin, hùng hồn, hoạt bát. Hiện giờ anh viết rất nhiều sách nghiên cứu về Huế .

 

 

Năm 1963 về trước, Văn Khoa, Sư Phạm, Khoa Học đều học ở Morin, dùng chung giảng đường C, nơi phát xuất nhiều cuộc hội thảo xuống đường của sinh viên Huế vì địa điểm thuận lợi, phòng ốc rộng rãi.

 

Qua niên khóa sau (1964-1965), trường Sư Phạm không còn ở Morin nữa mà dời qua địa điểm Đại học Sư Phạm ngày nay. Trường chỉ có hai khối nhà lầu: một khối dành cho sinh viên Sư Phạm (lúc đó tổng cộng khoảng hơn 150 người), một khối dành cho Trung học Kiểu mẫu (mới mở lớp đệ thất, đệ lục tức là lớp 6, lớp 7 có khoảng 100 học sinh). 

 

Lớp Việt Hán của tôi gồm 13 người, học trong một phòng rộng có sức chứa khoảng 100 người nên cảm thấy rất trống trải. Các ban khác cũng ít ỏi như thế. Tổng cộng số sinh viên tốt nghiệp năm 1967 của khóa tôi chỉ có 61 người bao gồm cả 5 ban.

 

Cũng như các trường Đại Học khác ở Huế, những giáo sư giảng dạy ở Sư Phạm bao gồm giáo sư cơ hữu và giáo sư thỉnh giảng (mời ở Sài Gòn về). Tôi còn nhớ tên các vị sau:

 

I Giáo sư cơ hữu:

      1/ Linh mục Nguyễn Văn Thích: vị thầy đáng kính, tâm huyết với giáo dục đã để lại cho thế hệ sinh viên chúng tôi nhiều ấn tượng đẹp. Linh mục rất tôn sùng đạo Khổng, tán dương chữ Thành, chữ Trung (trong Trung Dung). Linh mục là một trong những vị giáo sư cơ hữu ở Huế có uy tín trên toàn quốc và được Văn Khoa Sài Gòn mời vào giảng dạy. Bao nhiêu tiền kiếm được linh mục dành cho việc in sách phổ biến tư tưởng Nho giáo và văn hóa Việt Nam (ca dao). 

 

Tác phẩm của linh mục có đến 20 quyển, lần nào mang đến lớp nói là để bán cho sinh viên nhưng chẳng thấy ai trả tiền, người nào cũng xin mắc nợ rồi quên luôn. Bởi thế tuy dạy nhiều nơi, và gần 50 năm đứng trên bục giảng nhưng tài sản của linh mục chẳng có gì, cuộc sống hết sức đạm bạc. 

 

Vào thập niên 60, linh mục hơn 70 tuổi nhưng còn mạnh khỏe, tuy dáng người gầy gò, có vẻ ốm yếu. Linh mục ở trong  khuôn viên trường Bình Linh (gần ga Huế) và đi xích lô về Sư Phạm dạy học. Có lần linh mục sắm một chiếc xe đạp để đi dạy, sinh viên đem đi thu giấu làm linh mục rất bực mình. Sau đó, chẳng biết có phải vì lý do ấy hay không mà chẳng thấy linh mục đi xe đạp nữa.

 

Năm 1965, Linh mục sưu tầm 300 câu ca dao Vn và in ra phổ biến, (cho không sinh viên). Ngày nào linh mục cũng tấm tắc: Xưa kinh Thi có 300 câu, nay mình cũng có 300 câu, sao khéo là hay! Tôi thưa với linh mục: Thưa cha, bởi vì cha cố ý chỉ tìm 300 câu thôi, chứ nếu sưu tầm nữa thì có thể 400, 500 câu, đâu có giống Kinh Thi. Linh mục chống chế: Không phải thế đâu, tự nhiên khi đó mình cụt vần, muốn sưu tầm nữa cũng không được.

 

Linh mục là người rất nệ cổ, thích Tống Nho, ủng hộ thuyết Tân dân của Chu Hy, công kích thuyết Thân Dân của Vương Dương Minh. Linh mục viết nhiều bài để chứng minh Tân dân là đúng, là hay còn Thân dân là sai, là dở. Hễ khám phá được điều gì mới là linh mục đi từ lớp này qua lớp khác để phổ biến tư tưởng của mình. Năm đầu tiên linh mục phổ biến 12 điều cương yếu của sách Trung Dung. Năm sau phổ biến chữ Thành và bảo có Thành là có tất cả: Thành dã, Thiên chi đạo dã, Thành chi dã, nhân chi đạo dã (thành là đạo của trời, trở nên thành là đạo của người). 

 

Vào lớp, linh mục thường cầm viên phấn vẽ lên bảng hình tròn xoắn ốc với chữ Thành ở giữa chung quanh là Chân, Thiện, Mỹ. Bài đó linh mục giảng đi giảng lại nhiều lần rồi ra thi cũng đề tài ấy. Linh mục là vị thầy mà tôi cảm phục nhất. Linh mục qua đời  năm 1978 ở Huế.

 

2/ Thầy Pierre Đỗ Đình: Thầy là một nhà văn, một học giả kỳ cựu, thập niên 30 đã có sách in. Thầy ở Pháp hơn  20 năm viết báo Pháp, sau, theo lời mời của linh mục Cao Văn Luận thầy về Huế giảng dạy. Năm 1963, mặc dầu đã  55 tuổi nhưng  thầy vẫn còn độc thân và sống với mẹ già ở cư xá Đại Học gần ga Huế. Thầy dạy chúng tôi môn Nho giáo (Khổng Tử, Mạnh Tử…). Sau 1965, có lẽ vì bất đồng chính kiến nên thầy vào Sài Gòn làm báo chữ Anh, chữ Pháp. Bạn của thầy là các nhà văn Pháp nổi danh, thường liên lạc với thầy luôn. Thầy qua đời  năm 1970 ở Sài Gòn.

 

3/ Thầy Lê Tuyên: Thầy vừa làm Giám đốc học vụ Văn Khoa của Đại học Sư Phạm, chịu trách nhiệm tổng quát các ban Việt Hán, Pháp văn, Anh văn,Sử Địa, vừa dạy chúng tôi văn học Việt Nam và Giảng văn. Vào lớp, thầy giảng thao thao bất tuyệt, thầy chủ trương đưa triết lý vào văn học, dùng những chữ cầu kỳ như: Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày. 

 

Bài giảng của thầy rất khó hiểu nên sinh viên nào cũng sợ, cũng ngán. Hai  môn dạy của thầy tổng cộng hệ số 5, chiếm một phần rất quan trọng trong việc trúng tuyển. Bởi thế qua được cửa ải của thầy kể như thành công. Ở lại hay lên lớp đều do thầy quyết định vì các môn khác chỉ hệ số 1 hoặc 2 là nhiều. Ngoài trường Sư phạm, thầy còn phụ trách giảng dạy ở  chứng chỉ Văn chương VN của Đại học văn khoa và cũng là một trở ngại rất lớn cho các sinh viên ban Việt văn, Pháp văn và Anh văn  nếu họ muốn có bằng cử nhân Giáo khoa (có nhiều quyền lợi hơn cử nhân tự do). 

 

Theo qui định, ở 3 ban này, phải đậu. Chứng chỉ văn chương VN, mới đựoc gọi là cử nhân Giáo Khoa, bởi thế một số người  tuy  có nhiều chứng chỉ hơn qui định (Chứng chỉ Dự bị Văn khoa + 4 chứng chỉ khác), họ vẫn không được cấp bằng cử nhân giáo khoa. vì không qua được cửa ải của thầy Lê Tuyên. Nghĩ cũng tội, anh em Việt văn chúng tôi mà còn cảm thầy bù đầu với các bài giảng của thầy, thế  thì các bạn Pháp văn, Anh văn chịu làm sao thấu? Sau năm 1965 thầy không còn dạy ở Huế nữa nên số người đỗ Chứng Chỉ Văn chương VN tăng lên khá nhiều (khoảng 50%) trong khi lúc còn thầy, tỉ lệ chỉ vào khoảng 20%. Thầy hiện giờ ở Mỹ.