Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
SỰ TÁI SINH CỐT TRUYỆN DÂN GIAN TRONG TRUYỆN THIẾU NHI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

SỰ TÁI SINH CỐT TRUYỆN DÂN GIAN

TRONG TRUYỆN THIẾU NHI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

TS. Hồ Hữu Nhật

Trường Đại học Sư phạm Huế

“Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam. Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian. Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tô Hoài, Hồ Chí Minh, Hồ Xuân Hương…) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để đem lại những tác phẩm văn chương ưu tú”(1). Sự vận động của văn học thiếu nhi hiện đại thêm một lần nữa khẳng định mối quan hệ khăng khít đó. Văn học dân gian để lại dấu ấn trong văn học thiếu nhi giai đoạn này ở nhiều bình diện, trong đó có cốt truyện. Với việc tái hiện các cốt truyện xưa, truyện thiếu nhi hiện đại đã bước tiếp hành trình nghệ thuật của văn học dân gian, làm sống lại “bình minh lịch sử loài người”.

1. Tái sinh trong tính chỉnh thể toàn vẹn

Cốt truyện là cái “rốn” của tác phẩm tự sự. Nói đến cốt truyện là nói đến hệ thống các sự kiện thể hiện “mối quan hệ qua lại giữa các tính cách”, từ đó sẽ thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm. Thông thường mỗi tác phẩm sẽ có một cốt truyện riêng, không trùng lặp. Nhưng trong truyện thiếu nhi hiện đại lại diễn ra hiện tượng để cốt truyện dân gian tái sinh một cách toàn vẹn. Các tác giả đã “bảo vệ” tính chỉnh thể của những cốt truyện đó để độc giả có thể hồi cố những câu chuyện cũ một cách thuận lợi. Đơn cử như truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử của Xuân Quỳnh. Trong tác phẩm này, nhà văn Xuân Quỳnh đã bảo lưu trọn vẹn hệ thống các nhân vật, chi tiết, sự kiện của truyện Chử Đồng Tử. Câu chuyện cũng bắt đầu bằng việc giới thiệu hoàn cảnh nghèo khó của hai cha con Chử Đồng Tử, Chử Cù Vân. Họ nghèo đến nỗi cả hai phải dùng chung một cái khố. Khi cha chết, Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng nên đóng khố cho cha rồi mới chôn. Từ đó, Chử sống một mình bằng nghề đánh cá bên sông. Tiếp theo, nhà văn kể về cuộc gặp gỡ giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Tiên Dung đi thăm thú núi sông, khi đến làng Chử Xá thấy phong cảnh đẹp đã ra lệnh ghé thuyền, sai thị nữ giăng màn tứ vi tắm. Không ngờ nơi nàng tắm là nơi Chử Đồng Tử náu mình. Cho là duyên trời định, Tiên Dung và Chử Đồng Tử đã kết duyên chồng vợ. Sau sự kiện đặc biệt này, tác giả kể về cuộc sống sau hôn nhân của hai nhân vật. Tiên Dung từ bỏ cung điện xa hoa, theo chồng ở lại nơi thôn dã, cùng trồng trọt, chăn nuôi, dệt lụa và lập nên thôn xóm đông vui. Tiếp đó là sự kiện Chử Đồng Tử lên đường đi học đạo, được nhà sư Phật Quang tặng một chiếc gậy và một cái nón. Khi gậy cắm xuống đất và úp nón lên trên thì xuất hiện một cung điện nguy nga, đủ kẻ hầu người hạ và binh lính. Việc đến tai nhà vua. Cho là Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm loạn nên vua sai quân đánh. Khi quân nhà vua đến nơi thì một cơn dông lớn xuất hiện. Tiên Dung, Chử Đồng Tử cùng tòa lâu đài biến mất. Thấy sự lạ lùng, nhân dân đã lập đền thờ ngay trên bãi. Câu chuyện của Xuân Quỳnh kết thúc ở sự kiện đó. Điều đó có nghĩa nếu đặt truyện của Xuân Quỳnh cạnh truyện của dân gian chúng ta sẽ thấy sự lặp lại trọn vẹn cốt truyện. Tác giả không bỏ qua một nhân vật, một sự kiện lớn nào cả. Chính vì thế nên chủ đề tư tưởng của tác phẩm dân gian cũng được thể hiện trong tác phẩm hiện đại của nhà văn Xuân Quỳnh.

Trong các nhà văn viết cho thiếu nhi, tác giả có chủ định thường xuyên tái sinh nguyên dạng các cốt truyện dân gian chính là Tô Hoài. Bộ ba Một trăm cổ tích của nhà văn lần lượt giới thiệu lại những câu chuyện dân gian quen thuộc với người dân Việt Nam. Công và quạ, Vua Heo, Vợ chàng Trương, Chuyện chim cuốc, Thả mồi bắt bóng, Quan huyện phân xử, Oan Thị Kính, Tấm Cám, Bánh chưng bánh dày, Gái ngoan dạy chồng, Lọ nước thần, Cái bướu cổ, Cây nêu ngày tết, Ả Chức chàng Ngưu... tên những câu chuyện của nhà văn Tô Hoài ngay lập tức khiến người đọc phải liên tưởng đến các câu chuyện dân gian từng tiếp xúc. Nhà văn thậm chí không thay đổi cách gọi tên tác phẩm. Những tác phẩm đó cũng trung thành với truyện dân gian về mặt cốt truyện. Truyện Đồng tiền Vạn Lịch kể về nhân vật Vạn Lịch có tính hay ghen. Vạn Lịch đã đánh đuổi vợ mình là Mai Thị khi thấy cô nói chuyện với người đánh giậm. Mai Thị ra đi và tìm được hạnh phúc riêng cho mình. Vạn Lịch hối hận tự vẫn. Người vợ vẫn thương Vạn Lịch nên đã xin vua được đúc tiền có tên Vạn Lịch phát cho người nghèo để tưởng nhớ. Truyện Gái ngoan dạy chồng kể về một cô gái hiền lành, tốt bụng được phú ông hỏi cưới cho đứa con trai. Con trai phú ông lại hay rượu chè, cờ bạc, lại đối xử với vợ không ra gì, đuổi vợ đi khi cha mất. Nhưng với sự chung thủy sắt son, ân nghĩa, người vợ đã giúp chồng của mình trở thành người tốt. Truyện Lọ nước thần lại kể về chuyện anh chàng kiếm củi đã cứu con sẻ khỏi con quạ, được sẻ tặng cho lọ nước thần, nhờ lọ nước thần vợ anh trở nên xinh đẹp. Nhưng bị quạ trả thù, vợ anh bị bắt vào cung. Sau một thời gian tìm kiếm, anh được gặp lại vợ và lên làm vua. Những tóm tắt sơ lược đó đã cho thấy sự hiện diện liên hoàn và đầy đủ các sự kiện của truyện dân gian trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Với 100 tác phẩm sáng tác theo xu hướng kế thừa cốt truyện cũ của người dân lao động ngày xưa, Tô Hoài gần như ít tạo ra những biến đổi về nội dung. Tuy nhiên, đọc truyện Tô Hoài, bạn đọc vẫn thấy hấp dẫn, thú vị. Đó là cái tài của tác giả dù ông đã chọn một lối đi khó cho chính mình.

Tái hiện trọn vẹn cốt truyện không có nghĩa là trung thành tuyệt đối với hệ thống hình ảnh, cách thức diễn đạt của văn học dân gian. Tuy nhiên, những thay đổi đó không nhiều để dẫn tới hiện tượng phá bỏ chủ đề tư tưởng của truyện cũ. So sánh cốt truyện Con cóc là cậu ông giời (Nguyễn Huy Tưởng) với cốt truyện Cóc kiện trời (dân gian) sẽ thấy rõ hiện tượng này.


BẢNG SO SÁNH CỐT TRUYỆN TÁC PHẨM CÓC KIỆN TRỜI

CON CÓC LÀ CẬU ÔNG GIỜI

Stt

Sự kiện

Con cóc là cậu ông Giời

Cóc kiện trời

1

Cảnh hạn hán

Cảnh hạn hán

2

Cóc quyết định đi hỏi tội ông trời

Cóc quyết định lên thiên đình kiện trời

3

Các con vật xin đi theo

Các con vật xin đi theo

 

Ếch nhái xin đi theo

Cua xin đi theo

Gà vàng xin đi theo

Gấu xin đi theo

Ong xin đi theo

Cọp xin đi theo

Hổ  xin đi theo

Ong xin đi theo

Gấu xin đi theo

Cáo xin đi theo

4

Cuộc chiến trên thiên đình

Cuộc chiến trên thiên đình

 

Ong, ếch nhái giao chiến với Thiên Lôi

Cáo giao chiến với Gà

Gà giao chiến với thần Rết

Gấu giao chiến với Chó

Hổ giao chiến với các thiên thần, thiên tướng, thiên binh

Ong, Cua giao chiến với thần Sét

 

Cọp giao chiến với Thiên Lôi

5

Cóc trò chuyện với Giời. Giời hứa làm mưa

Cóc trò chuyện với Trời. Trời hứa làm mưa

Nhìn vào bảng so sánh, chúng ta thấy có một vài điểm khác của truyện hiện đại với truyện dân gian. Nguyễn Huy Tưởng có chút thay đổi về hệ thống nhân vật, trình tự các chi tiết. Nhưng sự thay đổi đó không dẫn tới hiện tượng thay đổi, phá vỡ chủ đề tư tưởng của truyện gốc. Các con vật xin đi theo Cóc lên thiên đình là ai thì đều giống nhau ở sự quyết tâm và tinh thần đoàn kết. Tần suất giao chiến giữa các con vật ở trần gian với lực lượng ở thiên đình trong truyện Nguyễn Huy Tưởng có ít hơn nhưng không có nghĩa tính chất quyết liệt sẽ giảm đi. Điểm khác biệt đáng kể nhất trong cuộc giao chiến này là lực lượng bảo vệ thiên đình trong truyện dân gian bao gồm cả con vật lẫn các vị thần, còn trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng thì lực lượng này thuộc về các vị thần hoàn toàn. Còn về cơ bản, hệ thống sự kiện của truyện không thay đổi. Cả hai tác phẩm vì vậy đều hướng đến giải quyết chung một chủ đề.

2. Tái sinh ở dạng phân mảnh, không toàn vẹn

Cũng với xu hướng làm sống lại cốt truyện dân gian, nhưng lại có một cách thức khác trong các sáng tác truyện thiếu nhi hiện đại là tái sinh cốt truyện dân gian ở dạng không toàn vẹn. Nghĩa là các sự kiện, chi tiết, hình ảnh của truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn... không được tái hiện lại đầy đủ như chỉnh thể gốc. Trong một số truyện thiếu nhi hiện đại có hiện tượng bỏ băng một vài sự kiện, thậm chí là cắt hẳn một phần của cốt truyện gốc. Hiện tượng này ít nhiều có thể làm rã cốt truyện, làm gián đoạn trường liên tưởng của những độc giả tiếp nhận truyện theo tinh thần liên văn bản. Tuy nhiên, nội dung của câu chuyện gốc vẫn được các tác giả kế thừa.

Điều đó thể hiện rõ trong tác phẩm Chuyện nỏ thần của nhà văn Tô Hoài. Nhìn vào kết cấu của 13 phần thấy rõ chủ ý tái sinh cốt truyện dân gian của tác giả. Những thông tin  từ Lĩnh Nam chích quái, Ngọc phả Thục An Dương Vương đền Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội... được tác giả dẫn ra trước một số phần truyện cũng là những chi tiết mà người đọc đã gặp trong truyền thuyết Rùa vàng (còn gọi là Mỵ Châu Trọng Thủy, An Dương Vương...). Những sự kiện lớn của truyện dân gian được nhà văn giữ lại là: vua Thục xây dựng thành, Cao Lỗ giúp vua chế tạo nỏ thần từ móng của thần Kim Quy, Triệu Đà cho Trọng Thủy sang ở rể, Mị Châu cho Trọng Thủy xem nỏ, Trọng Thủy đánh tráo nỏ, quân Phiên Ngung đánh Kẻ Chủ, vua Thục thất trận cùng con gái chạy ra bể và khấn thần Rùa, thần Rùa cho rằng Mị Châu là giặc, vua chém Mị Châu, Trọng Thủy lần theo dấu lông ngỗng tìm Mị Châu. Như vậy về cơ bản, cốt truyện dân gian đã được tái sinh khá đầy đủ. Tuy nhiên, Tô Hoài không tái hiện liên tục, đầy đủ hệ thống các chi tiết, sự kiện trong truyền thuyết cũ. Đây là câu chuyện có sự kết hợp giữa hiện thực và huyền thoại, lại liên văn bản với nhiều truyện dân gian và tài liệu sử nên cốt truyện xưa được kể với tốc độ chậm, sự phát triển từ chi tiết này đến chi tiết khác thường xuyên bị kéo giãn ra. Ví dụ, từ sự kiện chế tạo xong nỏ thần đến sự kiện Trọng Thủy sang ở rể, tác giả dành gần 10 trang truyện để kể về cuộc đời nàng Tàm, cô gái 10 năm ở rừng kể từ năm giặc Tần đánh. Phần kết thúc truyện với chi tiết Trọng Thủy ôm xác vợ về chôn trong thành rồi đâm đầu xuống giếng tự tử, việc Mị Châu hóa thành ngọc và lấy ngọc ở biển về rửa ở nước giếng trong thành thì ngọc ngày càng sáng không được tác giả đề cập. Thay vào đó là câu chuyện về việc nổi dậy của Hai Bà Trưng và cuộc hội ngộ hư hư thực thực giữa Cao Lỗ và vua Thục. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết cũ không được tái sinh trọn vẹn. Nhưng nội dung tư tưởng của nó thì vẫn không phai nhạt. Những nhân vật mới và những chi tiết mới càng giúp nhấn mạnh hơn hành trình dựng nước và giữ nước của vua Thục, một ông vua yêu nước nhưng cũng có những sai lầm làm cho “cơ đồ đắm bể sâu”.

Cùng trong xu hướng tái sinh cốt truyện dân gian ở dạng phân mảnh, không trọn vẹn, Tô Hoài viết Nhà Chử. Truyện Chử Đồng Tử của dân gian được Tô Hoài kéo giãn ra rất dài. Các sự kiện, chi tiết trong truyện cổ không được kể một cách liên tục mà bị chắn ngang bởi những thông tin mới. Gần 100 trang truyện mới xuất hiện chi tiết Chử nhường khố của mình để chôn cất ông (trong truyện dân gian là cha). Gần 50 trang truyện nữa mới đến chi tiết Chử Đồng Tử gặp nàng Dong (trong truyện dân gian tên nhân vật là Tiên Dung). Trong truyện của Tô Hoài không nhắc đến chi tiết Chử Đồng Tử đi học đạo cùng với chi tiết Chử Đồng Tử và Tiên Dung về trời. Tính phân mảnh của cốt truyện dân gian thể hiện rất rõ trong tác phẩm này. Thế nhưng ý nghĩa sơ khai của truyện truyền thống không bị mất đi. Có thể khẳng định truyện Nhà Chử đã “bảo lưu” được những “mảnh vở” của truyện Chử Đồng Tử qua các chi tiết Chử gặp nàng Dong trong tình trạng oái oăm (nàng Dong tắm trúng nơi Chử ẩn nấp), hai người nên duyên và cùng nhau xây dựng xóm làng. Với những chi tiết đó, truyện thể hiện rõ mơ ước của người xưa về tình yêu và hôn nhân tự do, vượt qua rào cản giai cấp. Chử là kẻ khó, nàng Dong là con vua. Nhưng cuộc gặp gỡ bên bến cát hoang đã se duyên cho hai người. Tình yêu của Chử và nàng Dong đã xóa bỏ sự phân biệt giai cấp trong xã hội cũ. Quá trình lập nghiệp của hai người cũng phản ánh khát vọng về cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, như đã nói, những nội dung đó không được thể hiện thông qua sự diễn tiến liên tục của hệ thống sự kiện trong truyện dân gian. Nhà văn Tô Hoài xen kẽ những sự kiện cũ khi tập trung kể về hành trình Chử đi từ “chốn mây nước trên nguồn” đến tận nơi “mặt sông mặt bể gặp nhau”. Một mình trên độc mộc, Chử vượt qua bao nhiêu ngọn thác, vực sâu, cơn lũ... tìm tới bến Tự Nhiên thăm ông. Ban đầu, nhân vật đi chủ yếu là vì lời bố dặn: “Ông bà gốc gác/ Một đốt một cành/ Cành cây một gốc/ Tàu lá một cuống/ Ăn cơm một mâm/ Uống nước một bàu... Con nước biết quyến cát làm doi, con người đi đến đâu cũng vẫn nhớ có tổ, đấy mới là con người ta”(2). Khi gặp ông rồi thì ông Chử tiếp tục củng cố cho Chữ ước mơ đến được những nơi chưa ai đến. Vì thế, nhân vật lại tiếp tục hành trình. Kết thúc truyện, Chử và nàng Dong đã “giẫm chân lên đầu con sông Cái”. Tác giả vẽ ra một tương lai tương sáng: “Mai kia, trên cửa sông nhìn ra, nắng soi lên cát những bến bãi, chợ búa mọc như nấm. Thuyền bè ra vào phơi phới, nhiều không xiết kể. Hoa xoan tím ngát thơm say cả những người ngả gỗ làm nhà”(3). Như vậy, nhà văn đã kế thừa cốt truyện dân gian ở dạng không liên hoàn và không trọn vẹn. Bên cạnh chủ đề cũ tất yếu sẽ nảy sinh những nội dung tư tưởng mới. Tác giả trao nhiệm vụ chinh phục tự nhiên, khai phá những vùng đất mới để mở mang bờ cõi cho nhân vật Chử - nhân vật được nhà văn miêu tả với nhiều nét đẹp. Đó là một chàng trai trẻ tuổi mặt sáng như gương nước. Chữ là một dũng sĩ sông nước thực thụ, “đủ sức diệt cả một sông thuồng luồng”. Khi Chử kể lại chuyện của mình, “người ta reo lên như sấm, mừng bến nhà có người tài giỏi đến thế”.

Truyện Tấm Cám của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng bỏ hẳn phần kết thúc của truyện dân gian. Thay vào đó, tác giả tạo ra một cái kết khác. Nhà vua gặp lại Tấm ở quán nước và rước Tấm về cung. Khi quay về cung, thấy Cám nịnh nọt, cầu xin tha tội, vốn là “người độ lượng, không nghĩ đến lỗi của em”, Tấm đã xin cho Cám khỏi tội. Với cách hành xử như thế, cô Tấm của Nguyễn Huy Tưởng sẽ “yên ả” hơn cô Tấm dân gian khi sống trong đời sống tiếp nhận của bạn đọc. Nguyễn Huy Tưởng không để Tấm nhúng tay vào việc báo thù nhưng không để cho cái ác nhởn nhơ. Cám vẫn chết vì dội nước sôi theo lời khuyên của một cung nữ già. Bọn cung nữ và lính tráng bàn nhau làm mắm Cám, đưa về biếu mụ dì ghẻ và mụ này cũng chết. Với những thay đổi đó, nội dung truyện ít nhiều cũng “biến động”. Bên cạnh những nội dung cũ, câu chuyện của Nguyễn Huy Tưởng còn mở ra những mâu thuẫn của chốn hậu cung, đó là mâu thuẫn giữa hoàng hậu và cung nữ, lính tráng. Mẹ con Cám chết không bởi bàn tay Tấm mà vì sự căm ghét của cung nữ và lính tráng, điều đó có nghĩa cái ác đã mặc sức tác oai tác quái ở cả những không gian mang tính xã hội hơn so với không gian gia đình.

Có thể nói, những tác phẩm đi theo xu hướng làm sống lại cốt truyện dân gian ở dạng phân mảnh, không toàn vẹn là những tác phẩm có nhiều không gian cho sự sáng tạo của nhà văn. Nhưng như đã nói ở trên, dù cốt truyện truyền thống không được phục dựng đầy đủ thì các tác giả vẫn giữ gìn chủ đề gốc của truyện. Bạn đọc khi tiếp cận những tác phẩm này vẫn có cơ hội gặp lại bóng dáng truyện xưa.

*

Như vậy, dấu ấn dân gian đã thể hiện rất rõ trong truyện thiếu nhi Việt Nam hiện đại ở phương diện cốt truyện. Những cốt truyện quen thuộc đã có cơ hội tái sinh trong không gian truyện thiếu nhi giai đoạn này, có khi là sự tái sinh trọn vẹn, có khi chỉ tái sinh ở dạng phân mảnh. Với những lần tái sinh đó, độc giả được gặp lại những nhân vật, sự kiện, tình tiết... lẫn chủ đề tư tưởng cũ trong những tác phẩm văn học dân gian. Điều đó vừa thể hiện sự gắn bó của các tác giả với văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa thể hiện bản lĩnh của họ trong chủ ý xử lí lại những chất liệu sáng tác thuộc về giai đoạn văn học khác.

 

--------------------------------

(1) Trần Hoàng (2009), Giáo trình Văn học dân gian, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.18.

(2), (3) Tô Hoài (2005), Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, NXB Kim Đồng, Hà Nội, tr.30, 147.


Bài khác