Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
BI KỊCH BẤT KHẢ CỦA CON NGƯỜI TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ NHỮNG KẺ THIỆN TÂM CỦA JONATHAN LITTELL

BI KỊCH BẤT KHẢ CỦA CON NGƯỜI

TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH

NHỮNG KẺ THIỆN TÂM CỦA JONATHAN LITTELL

ThS. Trần Đình Nhân

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

 

Điểm nhìn là một khái niệm quan trọng trong hệ thống lý thuyết tự sự. Đây có thể xem là khái niệm phức tạp nhất trong lý luận tự sự học ở phương Tây. Có khá nhiều thuật ngữ được các nhà nghiên cứu đưa ra, có thể kể đến như: Point de  vue (điểm nhìn) của hai nhà nghiên cứu Brooks và Robert Penn Warren; vission (tầm nhìn) của Jean Pouillon; Focalisation (tiêu điểm, hay tiêu cự hóa) hoặc perspective narrative (phối cảnh trần thuật) của của G. Genette…. Tuy có chưa có sự nhất quán về cách diễn giải cho khái niệm này, song các ý kiến từ Wayne C. Booth (trong bài tiểu luận Khoảng cách và điểm nhìn) đến Genette (trong Diễn ngôn truyện kể) lẫn quan điểm của các nhà nghiên cứu kể trên đều gặp nhau ở điểm chung, đó là nói đến điểm nhìn là nói đến vị trí,điểm quan sát của người kể. Chính điều này đã khiến cho điểm nhìn có một vị trí đặc biệt. Nó có liên quan và thậm chí giữ vai trò chi phối toàn bộ sự kể chuyện trong tác phẩm(1). Thông thường, cùng một đề tài, chủ đề nhưng nếu nhà văn đặt câu chuyện dưới những điểm nhìn khác nhau thì sẽ cho ra những lớp ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, đối với Nỗi buồn chiến tranhNhững kẻ thiện tâm chúng ta lại thấy một sự gặp gỡ kỳ lạ trong cách quan niệm, cách nhìn về chiến tranh, cuộc sống, con người của hai nhà văn dẫu họ đã đặt tác phẩm của mình vào những điểm nhìn tưởng như đối lập nhau.

Nỗi buồn chiến tranh ra đời như một “cú sốc” đối với văn học Việt Nam sau chiến tranh. Vượt qua lối viết theo mô típ quen thuộc: ta thắng - địch thua, ta cao thượng - địch đê hèn, ta chính nghĩa - địch phi nghĩa…, Bảo Ninh đã khai thác đề tài hậu chiến theo một góc nhìn hoàn toàn mới mẻ: chiến tranh nhìn từ nỗi đau của con người. Khi niềm hân hoan về chiến thắng tạm lắng xuống, liệu có ai ngoái lại nhìn những người lính mang trên mình đầy thương tích và cảm nhận nỗi đau cùng họ? Bảo Ninh đã rất Người khi dũng cảm chọn nỗi đau đối tượng phản ánh. Ông không thể làm ngơ, bởi nỗi đau ấy chính là thứ con người nhận được sau một cuộc đánh đổi đầy bi thương.

Ở một cuộc chiến tranh khác, Jonathan Littell với cuốn tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm đã không lựa chọn cho mình một nhân vật chính diện mà lại đặt câu chuyện của mình vào điểm nhìn của một nhân vật phản diện. Tuy vậy, khi đặt hai tác phẩm của hai nhà văn, thuộc hai nền văn học khác nhau nói về hai cuộc chiến khác nhau, và thậm chí nhân vật cũng thuộc hai phía đối lập trong một sự đối sánh, chúng ta nhận thấy rằng, Bảo Ninh và Littell đã gặp nhau ở chổ họ đều nhìn về cuộc chiến tranh từ nỗi đau của con người. Điều thú vị là sự trùng hợp đấy lại đến từ những điểm nhìn hoàn toàn đối lập. Khi gạt đi mọi động cơ chính trị, hóa ra nỗi đau mà chiến tranh để lại cho con người xét đến tận cùng đều giống nhau. Trong tất cả những nổi đau ấy, bi kịch về sự bất khả của con người có thể coi là điểm gặp gỡ mang ý nghĩa nhân bản nhất của hai tác giả.

1. Sự bất khả của khát khao bước qua quá khứ

Ám ảnh là điều cốt yếu nhất chúng ta có thể nói về những người lính trở về sau chiến tranh như Kiên và Max. Dẫu họ có những may mắn hơn những người đồng đội của mình khi còn nguyên vẹn trở về thì cả tâm hồn và thể xác của họ cũng đã bị tổn thương nặng nề. Nếu như Kiên cứ mãi vật vã với những tiếng hú, những vong hồn tử sĩ, những nỗi đau của kiếp đời lính chiến thì Max lại suốt đêm giật mình thon thót với những khuôn mặt đầm đìa máu me, những cuộc hành quyết và những hố chôn tập thể tràn ngập trong các khu rừng. Có thể nói rằng, với họ, chiến tranh chưa bao giờ lùi xa cả. Những hình ảnh của cuộc chiến có thể đến bất chợt vào những khoảnh khắc bình thường nhất. Một hình ảnh nào đó của thực tại sẽ gợi nhớ những câu chuyện chiến tranh, như những Scene chớp nhoáng của điện ảnh: “Chỉ cần nhắm mắt lại là lập tức ký ức tự nó xoay mình lui về theo lối cũ, gạt toàn bộ đời thực ra rìa cỏ. Biết bao kỷ niệm bi thảm, bao nhiêu nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ lòng là phải gắng cho qua đi, rốt cuộc đều dễ dàng bị lay thức”(2).

Kiên không thể nào thoát ra khỏi cuộc chiến của chính mình. Những ngày lang thang cùng đồng đội trong các khu rừng để thu nhặt hài cốt liệt sĩ, anh sống như người cõi âm. Đi đến đâu cuộc chiến sống lại với anh đến đấy. Anh thức, anh ngủ, thậm chí khóc, cười, nói chuyện với những đồng đội đã mất. Những ám ảnh bám riết lấy anh hằng đêm, làm cho giấc ngủ của anh trở thành địa ngục: “Có đêm tôi giật mình thức dậy nghe tiếng quạt trần hóa thành tiếng rú rít rợn gáy của trực thăng vũ trang. Thót người lại trên giường tôi nín thở đợi một trái hỏa tiễn từ tàu rà phụt xuống: “chéo-éo-éo… Đoành!”(3). Nỗi ám ảnh ấy khiến Kiên quằn quại đau đớn: “Đã bao đêm như thế, Kiên choàng tỉnh và bắt gặp mình không phải ở trên giường mà vật vã, dụi dọ dưới sàn nhà nước mắt ướt mặt, run lên vì lạnh, vì khiếp đảm, vì tê dại trong một niềm thương thân não nùng và vô duyên cớ”(4).

Cũng giống như Kiên, Max không thể nào thoát ra khỏi cuộc chiến mà hắn đã tham dự. Ban ngày hắn có thể được chút bình yên, nhưng ban đêm, mọi thứ sẽ ào về như những đợt sóng. Hắn sống trong cuộc sống không còn tiếng súng mà đầu óc hắn cứ mãi quay cuồng với những hình ảnh giết chóc: “Tôi cứ tưởng tượng có một người cầm súng sắp sửa bước vào nã đạn; ở rạp chiếu phim hoặc rạp hát tôi nhìn thấy một quả lựu đạn đã rút chốt lăn dưới những hàng ghế …”(5).

Với Max, chiến tranh không bao giờ kết thúc: “Theo một cách nào đó, chiến tranh không bao giờ kết thúc, hoặc nó chỉ kết thúc khi đứa trẻ cuối cùng sinh ra vào ngày cuối cùng của những trận chiến được chôn xuống đất, lành lặn, vô sự, và ngay cả khi đó, nó vẫn sẽ tiếp tục, trong những đứa con rồi trong những đứa con của những đứa con..”(6). Những giấc mơ trở thành phương tiện hữu hiệu giúp nhà văn lột tả được sự ám ảnh. Có thể nói, suốt những trang văn của mình, Bảo Ninh đã cho chúng ta thấy một nhân vật Kiên tiều tụy, đau khổ, triền miên chìm đắm vào những cơn mộng mị. Và Max có lẽ cũng không phải là ngoại lệ. Những cơn mơ ập đến với hắn ta như những đợt sóng, cuốn trôi hắn, xô đẩy hắn và quẳng tọt hắn vào cái hố sâu mà từ đó hắn vừa mới bò lên.

2. Sự bất khả của khát khao được là chính mình

Nói đến chiến tranh là nói đến chết chóc, sự hủy diệt và những mất mát, đau thương. Thân phận con người trong chiến tranh như những quân cờ mà mỗi nước đi không bao giờ do chính nó tự quyết định. Từ lúc bước chân vào cuộc chiến, con người ngay lập tức đã bị chiến tranh tước đoạt đi quyền cơ bản nhất: quyền được là chính mình.

Bi kịch con người không được là chính mình chúng ta có thể bắt gặp cả trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lẫn Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell. Bản chất con người không bao giờ muốn tàn sát đồng loại. Nhưng khi đã ở hai đầu chiến tuyến, con người buộc phải từ bỏ bản chất người của mình. Họ phải bắn giết (nếu không sẽ bị giết). Họ phải tàn sát lẫn nhau để tồn tại. Chiến tranh biến họ thành những con thú, buộc họ đạp lên nhau để sống. Phán, một trinh sát quê ở Hải Dương kể cho Kiên nghe về trận chiến dưới chân đèo Thăng Thiên. Phán nằm trong một cái hầm cá nhân để tránh bom và một tên ngụy cũng nhào xuống đấy để tránh bom. Ngay lập tức Phán hạ anh ta bằng những nhát dao chí mạng để rồi ân hận khi nhận ra rằng anh ta đã trúng bom, không còn khả năng kháng cự. Phán trở nên cuống cuồng, nhưng lần này là cuống cuồng tìm cách cứu tên ngụy. Khi không còn bị buộc phải đối đầu với nhau bằng dao, bằng súng nữa, con người đã chọn cách đối xử với nhau bằng tình người. Chẳng ai muốn bắn giết đồng loại cả. Người lính, cả ta lẫn địch xét cho cùng đều là nạn nhân của chiến tranh. Và vì thế hình ảnh Phán vừa chạy vừa kêu, ngã sấp ngã ngữa khi không thể tìm ra hầm có tên ngụy nằm giữa cơn mưa như trút nước khiến cho bi kịch con người không được là chính mình trở nên đau đớn hơn bao giờ hết. Tiếng kêu ấy là tiếng kêu đau đớn, khắc khoải của tình đồng loại: “Ngụy ơi ! Ngụy ơi -  Tôi gọi, lồng lên chạy tìm cuống quýt. Ngã òm xuống một cái hố… Nghĩ đến cảnh ngộ anh ta lòng tôi đau đớn cuồng thắt.”(7)

Kiên cũng vậy. Từ lúc bước vào chiến tranh anh chẳng còn là anh nữa. Anh bị chiến tranh tước đoạt hết tất cả ngay khi chưa kịp bước chân tới mặt trận. Trên chuyến tàu vào Vinh ấy, Kiên đã bị chiến tranh giằng mất Phương. Cô bị hãm hiếp ngay trước mặt mà Kiên bất lực. Ngay từ thời điểm đó, Kiên mất tất cả mọi thứ: mất Phương, mất luôn cả chính mình. Kiên đã đập kẻ đã hãm hiếp Phương bằng những cú đánh như trời giáng. Hình ảnh Kiên lồng lộn như một con thú, giáng cho hắn những cú đánh của lòng hận thù trong khi trời đất chao đảo, ngả nghiêng vì trận bom dội xuống chính là màn “chào hàng” khủng khiếp của chiến tranh. Và từ đây, Kiên chẳng là Kiên nữa. Con người sôi nổi, nhiệt tình nhường chổ cho con người lạnh lùng, tàn nhẫn. Và cũng từ đó, anh chìm vào những cuộc bắn giết liên miên.

Không phải người lính không nhận ra điều đó. Can trước lúc bỏ trốn đã nói với Kiên: “Tôi không sợ chết, nhưng cứ bắn giết mãi thế này thì chết hoại tình người…”(8). Và vì thế người lính dẫu có hiểu rằng: “Cả đời đi đánh nhau, thú thật tôi chả thấy cái trò này có gì là vinh”, thì cũng chẳng còn con đường nào khác. Hoặc ở lại và tiếp tục cái trò chơi bắn giết ấy, chờ cho đến một ngày nào đó, nếu may mắn thì mình vẫn còn sống cho đến ngay kết thúc chiến tranh; hoặc bỏ trốn và chấp nhận “Bị tóm. Rồi toàn án binh, ăn đạn”; hoặc bỏ xác trong rừng như trường hợp của Can.

Bi kịch ấy xảy ra với những người lính trong Nỗi buồn chiến tranh  và cũng xảy ra với binh lính Đức trong Những kẻ thiện tâm. Đã tham gia vào chiến tranh là họ bị tước đoạt mọi quyền cá nhân: “Vào thời chiến tranh, người công dân, ít nhất là công dân nam mất đi một trong những quyền cơ bản nhất của mình, quyền được sống …và quyền được không giết người”(9). Họ buộc phải bắn giết, họ buộc phải làm những điều mà lương tâm họ kinh tởm: “Người ta bắt anh ta phải giết người, ý chí của anh ta không còn chổ đứng; nếu anh ta ở lại vị trí của mình, thì đó là một con người có  phẩm hạnh, nếu anh ta bỏ trốn thì đó là một kẻ đào ngũ, một tên phản bội”(10). Và vì thế, sự giằng xé lương tâm biến họ thành những kẻ khổ sở. Sự bấn loạn tinh thần biến họ thành những kẻ bệnh hoạn. Họ không muốn là kẻ ác, nhưng nếu không là kẻ ác, họ sẽ đau khi nghĩ đến nỗi đau của những kẻ đang quằn quại dưới chân mình, bởi: “Dù cho tàn bạo và quen tay đến đâu đi chăng nữa thì không một người nào của chúng tôi có thể giết một phụ nữ Do Thái mà không nghĩ đến vợ mình, em gái mình hoặc mẹ mình, không thể giết một đứa trẻ Do Thái mà không nhìn thấy những đứa con của chính mình ở dưới hố”(11).

Trò đùa của chiến tranh không chỉ mang bi kịch đến cho kẻ bị giết mà còn đẩy kẻ buộc phải bắn giết xuống vực sâu của tội lỗi, biến họ thành một kẻ mà ngay chính bản thân họ cũng không thể nào chấp nhận được. Và trong phút giây đau đớn ấy, có kẻ đã ôm mặt thốt lên: “Tôi chỉ muốn toàn vẹn là chính mình”(12).

3. Con người bất khả thương yêu

Khi con người lạc lối, tình yêu có thể sẽ là cứu cánh để kéo họ quay về. Thế nhưng lối thoát cuối cùng ấy cũng bị chiến tranh tước đoạt. Con người bị móng vuốt chiến tranh cào xé, mất luôn cả khả năng yêu thương. Họ trở thành một khối chai sạn, không còn có thể mở lòng ra để đón nhận những rung động bản chất nhất của con người. Kiên và Phương từng có một tình yêu rất đẹp. Mối tình của họ đã từng trở thành chủ đề bàn tán của nhiều người. Họ đã có những phút giây ngọt ngào bên nhau, những buổi trốn học, những đêm trăng bên hồ Tây, những nụ hôn bỏng cháy. Nhưng chiến tranh quá phũ phàng. Nó đã giằng Phương ra khỏi tay Kiên kể từ ngày quyết định bước vào trận tuyến. Nó để lại trong lòng anh một vết thương sâu hoắm khiến cho anh mỗi lần muốn mở lòng ra lại đau nhức đến điên người. Trò đùa của chiến tranh quá ư nghiệt ngã. Nếu như mọi chuyện diễn ra theo một kịch bản khác, nếu như Phương bị cưỡng hiếp bởi một tên địch thì nỗi đau sẽ khác. Đằng này cô bị cưỡng hiếp bởi một người của mình, và lại bị cưỡng hiếp ngay trước mắt Kiên. Hai tâm hồn vốn đã có những khác biệt về cách nghĩ nay lại càng bị đẩy ra xa nhau. Một vết rạn không thể hàn gắn xuất hiện giữa hai người. Có lẽ, tâm hồn Kiên bắt đầu chai sạn kể từ ngày đó: “Chính là từ lúc đấy, từ lúc bị giằng bật ra khỏi Phương, đời Kiên bắt đầu thực sự đẫm trong máu, trong thương đau, trong thất bại… Tâm hồn Kiên ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến đã là một tâm hồn chết lặng, không thể ngóc đầu lên được nữa” (13).

Trở về sau chiến tranh, vết thương lòng vẫn còn đang rỉ máu, Kiên gặp lại Phương. Một bức tường vô hình đã được dựng lên giữa họ tự bao giờ. Phương không còn là cô học trò trinh trắng ngày xưa nữa mà đã là một người đàn bà buông thả. Trò đùa của chiến tranh buồn đến tê lòng. Chưa bao giờ chúng ta có thể nghĩ rằng thân phận của tình yêu lại có thể buồn đến thế. Với Bảo Ninh, nỗi buồn của tình yêu nó giống như nỗi buồn của chiến tranh. Nó đau âm ỉ, và nếu ta dừng lại ở một trường đoạn nào đấy, nỗi đau sẽ nhói lên khiến con người thấy mình tan vỡ. Đã có lúc, Kiên muốn gạt bỏ hết để bắt đầu lại từ đầu: “Tại sao chúng mình không thể gạt bỏ hết đi để sống. Sống bên nhau, chỉ bên nhau, thế thôi”(14). Thế nhưng mọi việc đâu có đơn giản như Kiên tưởng. Cái tình yêu ấy giờ đây đã bị ngăn cách bởi một hố sâu không gì khỏa lấp được. Kiên chẳng còn là Kiên và Phương cũng chẳng phải là Phương của ngày nào nữa: “Ký ức chẳng buông tha. Chúng mình đã lầm tưởng rằng có thể vượt qua một hạt sạn… lẽ ra lần ấy em nên chết đi. Như thế chí ít em vẫn còn là cái gì tốt  đẹp trong trắng với anh. Còn bây giờ em sống cạnh anh nhưng em là vực thẳm xấu xa đen tối với anh. Phải không Kiên ?”(15). Phương buộc phải ra đi, và Kiên cũng chính thức khép lại cánh cửa của tâm hồn. Người lính ấy phải tiếp tục một cuộc sống mà anh không còn bao giờ có thể mở lòng đón nhận tình yêu được nữa. Cũng đã có những tấm lòng chân thật muốn đến với anh như Lan, như người đàn bà câm xinh đẹp sống trên căn gác nhỏ ngày xưa cha Kiên ở. Nhưng Kiên đau đớn nhận ra rằng có lẽ mình đã đánh mất khả năng yêu, bởi nỗi đau về tính yêu đầu tiên đã băm vằm tâm hồn anh thành muôn ngàn mảnh nhỏ: “Dù đã dầm mình trong rượu, dù đã hàng trăm lần tự cầu xin lòng mình hãy yên lặng đi cho, thì trong tâm trí anh vẫn không ngừng nhói đau những hồi tưởng tan nát về thời gian sống cùng nhau sau chiến tranh của anh và Phương. Mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửa đạn của chiến tranh vằm xé lại bị móng vuốt của tình yêu xé nát”(16). Những thương tổn ấy khiến Kiên không bao giờ có thể yêu thêm lần nữa. Cái cách anh quan hệ với người đàn bà câm như một sự chiếm đoạt, một sự đau khổ và một sự bất lực đến não nề.

Tương tự như Kiên, Max Aue cũng là một kẻ bị mất khả năng yêu thương. Tình yêu đầu và có lẽ cũng là tình yêu duy nhất của Max là một mối tình với người em gái. Khi lớn lên, Una hiểu được sự ngang trái của tình yêu ấy nên quyết tâm lánh xa. Thế nhưng Max thì không. Hắn quyết tâm đóng băng tâm hồn mình và tự biến mình thành một kẻ đồng tính. Lẽ ra Max vẫn còn có thể quay lại, hoặc chí ít còn có thể mở lòng ra để đón nhận tình yêu nếu như mảnh tâm hồn còn sót lại của hắn không bị chiến tranh xé nốt. Việc phải bắn giết quá nhiều làm tâm hồn hắn chai sạn. Mọi xúc cảm thông thường mang tính bản chất người cũng đã bị triệt tiêu từ lâu. Hắn chỉ còn là một khối xơ cứng. Hélène, người con gái xinh đẹp, hiền dịu, người có khả năng gợi lại trong con người hắn một chút gì đấy gọi là tình bạn hoặc có thể là tình yêu, đã khiến tâm hồn hắn có những rung động nhẹ. Đã có những lúc Max nghĩ biết đâu đấy hắn có thể lấy cô làm vợ, bởi đó là một người dịu dàng về cả ngoại hình lẫn tâm hồn. Thế nhưng những ngày Max bị ốm và nằm bẹp dí ở nhà,  Hélène đã đến chăm sóc hắn. Và chính lúc này, hắn nhận ra rằng mình đã đánh mất cảm xúc yêu thương. Hắn đã tìm cách xua đuổi Hélène, chửi bới, xúc phạm cô bằng những ngôn từ tục tĩu nhất. Hắn đã quen với việc người ta giết nhau, làm hại nhau, đạp lên nhau mà sống. Hắn không thể quen với tình yêu, sự sẻ chia được nữa: “Tôi muốn đánh cô ta, đạp chân vào bụng cô ta, vì cái sự tốt bụng bẩn thỉu, không thể chấp nhận được của cô ta”(17).

Người ta thường nói về khả năng cứu rỗi tâm hồn của tình yêu. Điều đó đúng nếu xét ở phương diện lý tưởng. Nhưng ở đây, Bảo Ninh và Littell lại cho chúng ta thấy một khả năng ngược lại. Tình yêu thật sự mong manh và dễ vỡ. Tình yêu bị móng vuốt chiến tranh cào xé tan nát như chính hình hài của những con người dưới đống đổ nát của lịch sử ấy. Và một lúc nào đó, cái tình yêu bị chiến tranh làm cho què quặt, rách nát ấy sẽ có thể biến thành một thứ độc dược, quay ngược trở lại đầu độc tâm hồn con người, dìm con người xuống vực sâu của tuyệt vọng. Sức mạnh tố cáo chiến tranh của hai tác phẩm này nằm chính ngay chổ đó. Có lẽ vì thế mà Max đã đau đớn thốt lên: “Tình yêu đã chết, tình yêu duy nhất đã chết” (18).

4. Con người bất khả bình thường

Đánh mất khả năng yêu thương, người lính dường như không bao giờ còn có khả năng kết nối với cuộc sống bình thường được nữa. Vượng trong Nỗi buồn chiến tranh là người lính lái xe suốt ngày say xỉn nằm lê lết ở quán rượu. Anh ta mắc chứng “ngợp mặt đường”. Là lính lái xe tăng, anh ta quen với cảm giác rung giật, xóc nảy. Tuy nhiên, khi nó cán qua những lớp xác người, xương thịt ken đầy kẻ bánh xích thì khi đó chiếc xe tăng bỗng lướt êm một cách đáng sợ. Sự êm ái khi lái xe đối với Vượng gắn liền với cảm giác ấy. Và vì thế, trở về với thời bình, Vượng không tài nào lái xe được nữa: “Xóc mạnh ổ gà, ổ trâu, chồm nảy lên thì còn chịu được – Vượng kể - chứ mà những đoạn nhún nhảy, êm êm, mềm mềm, nhũn nhũn là tớ ọe liền, nôn chóng mặt đến buông cả tay lái. Đêm về không ngủ đươc. Ngủ lại gào lên như bị cắt tiết”(19). Mất khả năng kết nối với cuộc sống đời thường, Vượng tìm đến với rượu để quên đi sự đời. Con người ấy ngày một sa đọa  đến Kiên cũng phải bất ngờ: “Thật không ngờ một tráng sĩ hùng dũng như thế thuở nào lại trở chứng, biến mình thành mớ giẻ rách”(20).

Chính bản thân Kiên cũng vậy. Anh chẳng thể nào kết nối trở lại với cuộc sống đời thường. Thế giới của anh chỉ còn là những kí ức đau thương. Và anh viết, anh sống với ký ức như là một cách để trốn chạy thực tại mà anh không thể nào hòa nhập nổi. Anh thôi không nghĩ về hạnh phúc, anh thôi nghĩ về tương lai. Đánh mất hiện tại, anh buộc phải tìm về quá khứ, có lẽ đó mới là nơi anh thuộc về: “Bây giờ thì anh đã thôi không nhìn về phía trước làm gì nữa. Chẳng phải là một phát hiện gì mới mà là một sự thấm nhuần nặng trĩu, giờ đây Kiên hiểu rằng con đường đời thực sự giành cho anh, con đường hướng anh tới tương lai tốt đẹp, con đường đó đã lùi lại đâu đó phía sau trong khoảng tối mù mịt trên những cánh đồng thời gian mà đất nước đã vượt qua”(21).

Và thậm chí còn có hàng lớp người kẹt lại luôn với chiến tranh. Họ không hề biết đất nước đã hòa bình. Họ trở thành những người rừng, sống như con chim, con thú, sống với núi rừng, với tiếng cười lảnh lót lẫn vào tiếng của đại ngàn nghe thê thiết.

Max cũng như Kiên, như Vượng, như nhiều người lính khác, mãi mãi không bao giờ còn có thể trở lại bình thường. Và nhà văn cũng cảnh báo nguy cơ con người đóng cửa trái tim mình: “Hạnh phúc nằm lại phía sau và mỗi năm một lùi xa hơn, nhưng có sao ! Anh sẽ sớm rời bỏ cuộc sống thường nhật hôm nay, sẽ quay trở lại, dấn bước thật mau và sẽ vươn tay thật xa với vào bóng tối của những ngày đã khuất”(22). Sức mạnh tố cáo chiến tranh bật lên từ đó.

*

Nỗi buồn chiến tranh Những kẻ thiện tâm là hai tác phẩm của hai tác giả thuộc về hai nền văn học khác nhau ở hai thời kỳ khác nhau, nói về hai cuộc chiến khác nhau nhưng lại có rất nhiều điểm gặp gỡ nhau hết sức kỳ lạ. Sở dĩ có sự gặp gỡ đó là bởi cả hai nhà văn đã khéo léo che giấu điểm nhìn đích thực trong tác phẩm của mình bằng một điểm nhìn có tính chất ngụy trang. Tiếp cận tác phẩm ở bề mặt văn bản, chúng ta có thể ngay lập tức nhận ra rằng Bảo Ninh đã đặt Nỗi buồn chiến tranh dưới điểm nhìn của một nhân vật chính diện (một người lính với những hy sinh cho cuộc chiến tranh chính nghĩa) và Littell đặt điểm nhìn của Những kẻ thiện tâm vào một nhân vật phản diện (gã sĩ quan SS của phát xít Đức từng tham gia diệt chủng người Do Thái). Tuy nhiên, điểm nhìn ấy chỉ là lớp vỏ hình thức bên ngoài. Thực chất, cả Bảo Ninh lẫn Littell đã không phán xét chiến tranh từ điểm nhìn của con người chính trị, con người của những quan niệm truyền thống: chính nghĩa – phi nghĩa, cái thiện – cái ác… Họ đã nhìn về chiến tranh từ điểm nhìn của con người mang tính nhân bản, con người mang ý nghĩa là Con Người. Đó chính là cội nguồn sâu xa của sự gặp gỡ trong việc họ nhìn về con người bằng chính nỗi đau của con người. Đối với chiến tranh, con người đã và luôn là nạn nhân. Con người bị chiến tranh xô đẩy, tước đoạt, vùi dập. Họ trở nên méo mó, dị dạng. Họ bị biến đổi cả nhân hình và nhân tính. Họ bị tước đi quyền cơ bản nhất: quyền được là chính mình. Họ bị buộc phải giết người, họ bị buộc phải trở nên tàn nhẫn, và họ bị tước đi cái khát khao giản dị: không phải giết người. Bi kịch bất khả của con người chính là tiếng khóc cho số phận bi thảm của con người trong chiến tranh. Phải nhìn về chiến tranh như thế chúng ta mới thấy hết giá trị phản chiến của Bảo Ninh và Littell: chỉ có thể thấy sự phi nghĩa của chiến tranh khi chúng ta cảm nhận bằng nỗi đau mà nó gây ra cho Con Người nói chung chứ không phải là con người của một phe phái nào cả, dẫu đó là bên chính nghĩa hay bên phi nghĩa. Đấy chính là điểm nhấn tạo nên tiếng vang của hai tác phẩm này.

 

----------------------------------

(1) Trần Huyền Sâm (2010), Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại: Tự sự học kinh điển, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.272

(2), (3), (4) Bảo Ninh (2009), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Văn Học, Hà Nội, tr.43, 45, 67.

(5), (6), (9), (11), (12) Jonathan Littell (2008), Những kẻ thiện tâm, tập 1, CaoViệt Dũng dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, tr.12, 26, 181, 134.

(10), (17), (18) Jonathan Littell (2008), Những kẻ thiện tâm, tập 2, CaoViệt Dũng dịch, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.75, 353, 434.


Bài khác