Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM TRONG MIỀN HOANG (SƯƠNG NGUYỆT MINH) VÀ HOANG TÂM (NGUYỄN ĐÌNH TÚ)

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

TRONG MIỀN HOANG (SƯƠNG NGUYỆT MINH)

HOANG TÂM (NGUYỄN ĐÌNH TÚ)

PGS.TS. Bùi Thanh Truyền

Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Giàu

Trường Quốc tế Á Châu Tp. Hồ Chí Minh

ThS. Lê Thị Xiêm

Trung tâm GDTX tỉnh Bình Dương

 

Với dân tộc ta, chiến tranh đã lùi xa nhưng nó vẫn là một “siêu đề tài” trong văn học hậu chiến. Dư chấn của chiến tranh mãi còn ám ảnh đời sống, tâm thức cộng đồng. Nhờ “cú hích” mạnh mẽ của thời đổi mới, thời xây dựng, các nhà văn khi viết về đề tài này thường thể hiện sự chiêm nghiệm, nhận thức lại cuộc chiến tranh trong quá khứ, đi sâu khai thác đời sống, số phận của con người, đặc biệt là người lính thời bình bằng một lối viết mới mẻ, hiện đại.

Văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến đã quan tâm khai thác một phương diện khá nhạy cảm, đó là hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. Cuộc chiến biên giới Tây Nam trở thành đề tài cho nhiều thiên tiểu thuyết, là mạch nguồn cảm hứng của không ít nhà văn: Dòng sông của Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Chiến tranh không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Dòng sông nước mắt của Thanh Giang, Ngôi chùa ở PratthanaKhoảng rừng có những ngôi sao của Văn Lê,… cùng bốn tác phẩm của Nguyễn Quốc Trung: Biên giới, Bên rừng thốt nốt, Người khóc mướn, Đất không đổi màu. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng những người trở về sau cuộc chiến luôn cảm thấy mình mắc nợ với đồng đội, với quá khứ. Dư âm, sang chấn của cuộc chiến cứ mãi đeo đẳng, khiến họ phải viết ra để nhớ lại, sống lại một thời gian khổ, bi thương mà bản thân và bạn bè đã trải qua. Vì thế, những nhà văn trực tiếp cầm súng trên chiến trường K, bằng trải nghiệm và độ lùi thời gian, đã tiếp tục trình làng những tiểu thuyết đáng chú ý như Mùa xa nhà (Nguyễn Thành Nhân), Bên dòng sông Mê (Bùi Thanh Minh),… và mới nhất là Miền hoang của Sương Nguyệt Minh.

Nhà văn mặc áo lính như Sương Nguyệt Minh viết về chiến tranh là điều hiển nhiên bởi ông là người đi ra từ cuộc chiến. Song với những người cầm bút thuộc thế hệ 7X thì điều đó chưa hẳn đúng vì lẽ họ sinh ra và lớn lên trong thời hậu chiến. Nguyễn ĐìnhTú là một trong số những cây bút như vậy. Sinh năm 1974, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra (1979 - 1989), anh đang còn tuổi thiếu nhi. Thế nhưng, sau những chuyến đi thực tế vào chiến trường biên giới Tây Nam, được chứng kiến tận mắt những gì còn sót lại sau cuộc chiến, được nghe kể những câu chuyện về tội ác của Pol Pốt và qua tìm hiểu sách báo, tư liệu, cùng với sức tưởng tượng, rung cảm phong phú, mãnh liệt, nhà văn Hải Thành này đã cho ra mắt tiểu thuyết Hoang tâm (2013), góp thêm một tiếng nói mới mẻ cho đề tài chiến tranh vốn giàu truyền thống và thành tựu.

Mặc dù ở hai tâm thế khác nhau, một người giã từ chiến cuộc chưa lâu, một người thuộc thế hệ hậu chiến, nhưng Sương Nguyệt Minh với Miền hoang và Nguyễn Đình Tú với Hoang tâm đã vẽ nên một bức tranh chân thực về cuộc chiến biên giới Tây Nam. Ở đó, ta thấy được những tội ác dã man của quân Pol Pốt và những di họa, những chấn thương mà con người phải hứng chịu sau chiến tranh. Đặc biệt, hiện thực cuộc sống, con người trong và sau chiến tranh được hai nhà văn dụng công thể hiện bằng một tâm thế mới, lối viết mới, gây được sự thích thú, ám gợi người đọc.

1. Cách tân trong khắc họa chân ảnh chiến tranh

Chiến tranh luôn gieo rắc nỗi thương đau cho con người. Bên này hay bên kia chiến tuyến đều hứng chịu nhiều tổn thất to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần. Không chỉ gây ra cảnh chết chóc, tang thương, chiến tranh còn để lại những di chứng nặng nề. Vượt thoát lối viết sử thi với âm hưởng ngợi ca hào sảng trong văn học kháng chiến trước 1985, Miền hoangHoang tâm đã phác họa bộ mặt thật của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam với lắm bi ít hùng của nó.

1.1. Những mảng tối được đưa ra ánh sáng

Cùng viết về đề tài chiến tranh biên giới Tây Nam, Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Đình Tú đã cung cấp cho độc giả cái nhìn toàn vẹn, sinh động về cuộc chiến không kém phần cam go, khốc liệt này. Cả hai tác phẩm đều phản ánh chân thực những tội ác man rợ của quân Pol Pốt, mặc dù điểm nhìn của người viết có sự khác nhau.

Trên thế giới, nhiều người đã biết đến tội trạng của chính quyền Khmer Đỏ. Sự dã man, tàn độc của quân Pol Pốt thể hiện rõ nhất trong chế độ diệt chủng. Chúng là những sinh vật máu lạnh, giết người không gớm tay. Thực thi chính sách: “Chỉ cần một triệu người dân Campuchia xây dựng chủ nghĩa xã hội”, nên những ai chống đối, cản đường chúng thực hiện quyết tâm không tưởng này đều bị tàn sát dã man. Đó không chỉ là dân và quân cách mạng Campuchia mà cả dân thường và lính tình nguyện Việt Nam. Những đoạn văn miêu tả cận cảnh cảnh giết người, hành hình “thời trung cổ” trong Hoang tâmMiền hoang như những thước phim quay chậm quá sức chịu đựng của người xem. Độc giả sẽ không khỏi ám ảnh trước cảnh hành quyết ngay từ đầu cuốn sách của Sương Nguyệt Minh. Giữa chiều tà, nơi khu đền tháp đổ nát, những người lính áo xanh tình nguyện Việt Nam bị thương, nép gục bên các ụ mối, gốc cây, trong khi đó tên Rô cùng tên lính áo đen thẳng tay vung xẻng bộ binh sắt lạnh chặt những cái đầu người văng lông lốc, rồi dùng báng súng đập cho vỡ sọ, óc trắng hếu phọt ra. Kí ức của Tùng - người lính tình nguyện Việt Nam, luôn hiện lên cái chết của đồng đội mình đi tiểu đêm, gặp quân K điểm huyệt, đưa ra vườn khoai, cho nằm sấp xuống đất mà đóng cọc tre vót nhọn vào tay chân và họng, máu chảy ra lênh láng. Trong Hoang tâm, Nguyễn Đình Tú lại lia ống kính đến cái chết đáng thương của những cô du kích Tân Lập. Hơn chục thiếu nữ, mỗi người chết trong một tư thế khác nhau. Có cái xác chúng cắt vú, có cái xác chúng cắt mũi, có cái xác bị xẻo môi, có cái xác chúng mổ bụng,…”. Đồng đội phải lặn lội khắp mấy căn lán và khu đồng trống để nhặt nhạnh những mẩu thịt người bị bọn K vung vãi khắp nơi về khâm liệm. Trong đó, cái chết của Gấm là ám ảnh nhất. Xác Gấm không chỉ cắt xẻo nhiều mảnh mà còn bị chúng hành hạ, cửa mình cắm một củ sắn, còn đầu thì bị chặt, đem cắm trên một búp măng của luỹ tre đầu lán trại, nhằm gieo cảm giác kinh hoàng lên đồng đội cô. Hay nhân vật Tuất, ngay trước cái đêm về quê thăm vợ con, đã bị quân K sát hại, thân xác không còn nguyên vẹn. Ngoài ra, trong cả hai tác phẩm, có những đoạn tác giả bình luận về sự tổn thất của quân cách mạng Campuchia, nhiều người lính cũng chịu cái chết thảm khốc, ghê rợn không khác gì quân ta. Riêng ở Miền hoang, Sương Nguyệt Minh nhiều lần nhắc đến sự hiếu sát của lính K với đồng bọn của chúng. Cảnh Rô và Lục Thum bỏ mặc tên lính áo đen dù cho hắn kêu xin thảm thiết vì đang bị thương nặng, xổ cả ruột ra ngoài, cảnh hai tên khát máu giết đồng đội đang còn sống để moi tim và gan ruột đem luộc ăn hiển lộ rất rõ sự táng tận lương tâm, mất hết tính người.

Không dừng lại ở đó, quân K còn tàn sát những người dân vô tội. Việc chúng tràn sang lãnh thổ nước ta giết hại thường dân ở các tỉnh gần biên giới cũng được đề cập trong hai tác phẩm. Ở Miền hoang, khung cảnh đó được nhắc đến rõ hơn, nhất là trận thảm sát ở Ba Chúc với hàng trăm kiểu giết người quái dị. Trẻ em thì bị chúng đem ra làm trò tung hứng và thi nhau xem ai có tài cắm được lưỡi lê tuốt trần vào hậu môn đứa trẻ. Còn người lớn thì càng kinh khủng hơn. Kẻ thì bị cuốc bổ vỡ sọ, người thì bị dao quắm chém dọc thân, người lại bị thước lim đánh vào gáy,… Có nhiều gia đình trốn trong hang, nghe tiếng trẻ con khóc là chúng quăng mìn vào chết cùng một lượt. Rợp trời quạ bay và xác người đầy đồng, đầy đường, kinh hoàng, tang tóc. Tư tưởng cực đoan của chế độ Pol Pốt đã biến bọn lính K thành những cỗ máy giết người di động. Chế độ ấy thực hiện triệt để “năm không”: không bệnh viện, không trường học, không chợ, không tiền, không chùa chiền. Cảnh tượng những phum, sóc hoang tàn, những bộ xương cốt nằm trơ trọi và những cái đầu lâu, xương chéo dưới nền nhà, trong chum nước được viết lại tỉ mỉ, lột hiện chân xác khoảng thời gian đen tối nhất của lịch sử đất nước Chùa Tháp. Chết đã không lành lặn, đến sống cũng không yên thân. Đa phần người dân Campuchia bị đưa vào trong các công xã nơi rừng hoang, nước độc. Chương 79 của Miền hoang có nhắc đến chi tiết Tùng trong lúc mê man đã “gặp” các vong hồn lang thang, hầu hết bị đói lả, kiệt sức vì lao động nặng và bị đánh đập dã man mà chết. Đa phần, người chết là những người có tri thức: bác sĩ, kĩ sư, sư sãi,… và nông dân. Đủ mọi vị thế, lứa tuổi. Quân Pol Pốt nhốt sư sãi, đàn bà vào trong một nơi và ghép đôi từng cặp bắt làm vợ chồng. Chúng khoái trá trong việc tra tấn người khác. Trong Hoang tâm, hình ảnh cô gái Sa Rết với bàn tay chai sạn nổi từng cục, ánh mắt buồn hiu hắt do cha mẹ bị Pốt giết và em trai cũng bị đói lả nơi công xã rừng sâu mãi ám ảnh người đọc.

Không chỉ tàn sát con người, các giá trị văn hoá cũng bị bọn Pốt phá huỷ không thương tiếc. Chúng đập phá đền đài, chùa chiền, bắn cả vào thần Nagar, tượng Phật, thần Shiva và các tượng thần khác. Chúng đốt sách, đốt trường học, huỷ hoại các đồ thủ công mĩ nghệ, dụng cụ âm nhạc. Hai cây đàn ghita gắn bó với Tùng, Hằng như một người bạn chí thiết cũng bị quân Pốt huỷ, cây đàn của Tùng thì bị Rô đem bẻ ra làm củi, còn cây đàn của Hằng bị đập bể tan tành. Ở Miền hoang, Pol Pốt đã làm cho đất nước Campuchia ròng rã mấy năm liền không có tiếng nhạc, không có lễ hội. Những lời ca, điệu múa dân gian, lời ru mượt mà uyển chuyển không được phép ngân lên. Chính sách diệt chủng của Pol Pốt đã biến những kẻ dưới quyền, đồng phạm mất đi tính người, thô lỗ và cộc cằn như những cỗ máy. Họ trở nên lầm lạc, vô cảm trước đồng loại mà Rô, Lục Thum trong Miền hoang là biểu hiện chân xác nhất. Khi đưa những tội ác của quân Pol Pốt vào tác phẩm, nhà văn muốn một lần nữa lột trần bộ mặt tàn ác của chính quyền Khmer Đỏ. Hơn hết, đó còn là một tiếng nói phản chiến mang tinh thần nhân văn sâu sắc.

1.2. Di họa sau cuộc chiến

Chiến tranh, khi xảy ra, đã gây cho con người bao tổn thương, mất mát. Sau cuộc chiến, liệu đời sống thời bình có đem đến cho những người đã từng “thuộc” về nó sự yên ổn? Đó là những đối thoại mà Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Đình Tú cùng đặt ra cho người đọc trong cả hai tiểu thuyết.

Từ Miền hoang cho đến Hoang tâm, các nhân vật đều phải hứng chịu những chấn thương, di hoạ mà chiến tranh gây ra, cả về thể chất lẫn tinh thần. Về thể chất, nhân vật chính trong Miền hoang ở cả hai chiến tuyến đều chịu những đau đớn. Sa Ly vì bị quân Pốt cưỡng hiếp, bạo hành nên trở thành một cô gái câm. Lục Thum, tên thủ lĩnh hằn học, lạnh nhạt, đã bị mất đi một phần thân thể. Còn tên Rô thì bị cá sấu “nuốt trọn” một bên má khiến má hắn thụt vào như một cái hố đen trên mặt. Ở cuối tác phẩm, Rô hụt bước rơi tỏm xuống đầm lầy và thành bữa ngon cho đàn sấu đói ăn. Trong Hoang tâm, nhân vật Anh, sau khoảng thời gian dài chiến đấu, trở về sống bên gia đình nhỏ của mình. Những tưởng anh sẽ được bình yên, hạnh phúc, nhưng quá khứ chiến tranh cứ ám ảnh, khiến anh mất ngủ. Cũng chính quá khứ ấy đã diệt đi “mầm dục”- bản năng sinh lí, bản lĩnh đàn ông của anh.

Chiến tranh không chỉ gây ra những đau đớn về thể xác mà còn để lại di chứng về tinh thần cho những con người bước ra từ cuộc chiến. Miền hoang của Sương Nguyệt Minh xoay quanh bốn nhân vật chính, mỗi người thay phiên nhau kể lại câu chuyện đời mình và câu chuyện lạc rừng. Qua kết cấu đồng hiện thời gian, trong mỗi câu chuyện, ta vừa thấy được kí ức tuổi thơ tươi đẹp của Tùng và Sa Ly, vừa thấy được những ám ảnh trong tâm hồn của Sa Ly, Lục Thum, Rô và Tùng. Ở câu chuyện của Sa Ly, liệu rằng nỗi ám ảnh về cái chết của ba mẹ cô và những nỗi nhục nhã, ê chề khi bị cánh lính Pol Pốt xem là phương tiện để chúng thoả cơn động cỡn thú tính, đến khi ra khỏi khu rừng, về với cuộc sống bình thường, cô có thôi kinh hoàng, có nguôi được nỗi đau? Hình ảnh người phụ nữ với cái bụng kềnh to được nhắc đi nhắc lại cuối tác phẩm như càng nhấn mạnh hơn điều ấy. Hay như Tùng - một người lính tình nguyện nơi chiến trường K, cái chết đau thương của anh Du và những đồng đội khác khi quyết chiến đấu đến cùng cũng như cảnh hành quyết dã man của bọn lính Pol Pốt có thôi ám ảnh anh? Chắc chắn không, vì ngay khoảng thời gian ở cánh rừng Miên ấy, cả khi thức lẫn khi ngủ, không lúc nào là anh không nghĩ tới, huống chi đến khoảng thời gian sau này. Ngay cả Lục Thum, một con người quyền lực trong đội quân Pol Pốt, đến khi thất trận, tàn phế, nỗi đau âm ỉ kéo nhân vật quay về với thời kì “vàng son” trong đội quân Pol Pốt để rồi y cũng lờ mờ nhận ra những gì mình tôn sùng chỉ là “tôn chỉ” của một thời nông nổi, lầm lạc. Hình ảnh chiếc vòng sắt hàn dính vào chân luôn nhắc y nhớ về quá khứ đau thương nhưng đầy quyền lực của mình.

Nếu trong Miền hoang, thời gian truyện kể là hành trình lạc rừng thì trong Hoang tâm, biên độ thời gian được mở rộng cả quá khứ chiến tranh và cuộc sống thời hậu chiến. Bởi thế, hậu quả chiến tranh phần nào được tái hiện rõ ràng hơn. Sau cuộc chiến ấy, nhân vật trở thành một người hùng, được nhận rất nhiều huân chương, đi đến đâu cũng được ca ngợi và anh còn là thầy giáo dạy văn rồi được làm hiệu trưởng một trường cấp ba. Nhưng những di hoạ chiến tranh cùng với hiện thực đời sống xã hội đương đại đã khiến nhân vật phải chịu một chấn thương tâm lí kép: bị chứng mất ngủ hành hạ và mất “mầm dục”. Ban đầu, cả bác sĩ tâm lí cũng nghĩ rằng, việc anh bị như vậy là do những bài văn “lạ” của học sinh, nhưng sâu xa, mặc dù tác giả không nói rõ, người đọc vẫn biết rằng đó chính là những dư chấn nặng nề mà chiến tranh đã gây ra cho nhân vật.

Cùng với những tác phẩm khác viết về đề tài chiến tranh, Hoang tâmMiền hoang đã góp phần lột tả những di chứng kinh hoàng mà cuộc chiến để lại. Chiến tranh muôn đời không mang lại hạnh phúc cho con người. Dù ta hay địch, dù thắng hay thua, tất cả đều phải nhận lãnh bao đau thương, mất mát, và ai đi qua chiến tranh cũng sẽ mãi mãi bị ám ảnh, tật nguyền, mất khả năng sống bình thường.

2. Nỗ lực đổi mới nghệ thuật trần thuật

Công cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1986 đã thực sự “cởi trói”, “phá trói” về mặt cảm hứng tư tưởng cho nhà văn. Tinh thần dân chủ trong văn học được thượng tôn, nhà văn vừa phát huy cao độ tính tích cực xã hội, tinh thần công dân vừa có cơ hội thể hiện tự do sáng tạo của cá nhân. Đây chính là động lực kiến tạo sự phong phú và đa dạng của văn học hậu chiến. Văn xuôi viết về chiến tranh hôm nay cũng không nằm ngoài bước ngoặt chuyển mình này. Những thành công đáng ghi nhận trong cách xử lí đề tài giàu tính truyền thống đã mang lại dấu ấn dễ thấy cho Hoang tâmMiền hoang.

Về cốt truyện, nếu văn học truyền thống khi viết về chiến tranh thường thiên về cấu trúc lịch sử - sự kiện, cốt truyện mang tính sử thi thì văn học thời đổi mới lại chú trọng kĩ thuật lắp ghép cốt truyện, khiến cho câu chuyện diễn ra không theo chiều tuyến tính, chỉ bám sát nội dung một truyện mà phân ra thành nhiều truyện. Đó là kiểu kết cấu truyện lồng truyện trong tiểu thuyết Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú. Cuốn sách xoay quanh hai chuyện: chuyện về chiến tranh ở chiến trường K và chuyện về chuyến đi du lịch Cửa Núi để tìm lại mình của nhân vật Anh. Hai chuyện này được chia thành các chương và được kể đan xen trong suốt 318 trang sách. Nhìn trên bề mặt cấu trúc tác phẩm, tưởng chừng hai truyện không có liên quan với nhau nhưng thực ra trong mạch ngầm văn bản, chúng lại có một mối quan hệ khăng khít, câu chuyện chiến tranh là nền tảng, lí giải nguyên nhân dẫn đến câu chuyện hiện tại. Đó chính là cuộc sống của người lính thời hậu chiến phải gánh chịu những chấn thương do cuộc chiến gây ra. Ở Miền hoang, cốt truyện cũng không tập trung miêu tả những trận chiến giữa ta và địch mà chỉ kể về sự cố lạc rừng của bốn con người, cả hai phía, là Lục Thum, Tùng, tên Rô và Sa Ly - cô y tá câm. Xuyên suốt 631 trang tiểu thuyết là câu chuyện về cái đói, cái khát, là thú dữ rình rập, đe dọa tính mạng, là những toan tính thủ tiêu lẫn nhau nhưng để sống được, bốn con người ở hai chiến tuyến này buộc phải nương tựa vào nhau. Đó là câu chuyện về bản năng sống, bản năng tồn tại trong hoàn cảnh khắc nghiệt của con người.

Cả hai tác phẩm đều có kết thúc mở. Cuối tiểu thuyết Hoang tâm, nhân vật Anh kết thúc cuộc hoang du miền Cửa Núi, biết rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhưng anh lại thấy ở cổng khu du lịch có nhiều cô gái giống như Son Phấn. Đâu là thực, đâu là mơ? Việc anh có tìm lại mầm dục, có ngủ được hay không khi quay về cuộc sống bình thường thì tác giả không hề nói tới. Trong Miền hoang, kết thúc truyện, Tùng thoát khỏi rừng mê, tìm được đường về nhưng cuộc sống của Tùng, Sa Ly và Lục Thum sau cuộc chiến này như thế nào, người viết cũng không đả động đến, nhưng người đọc hiểu được sẽ có một “miền hoang”, một nỗi ám ảnh về cái đói, cái khát, cái chết trong tâm trí họ khi trở lại cuộc đời thường nhật.

Về kết cấu, truyện trước 1985 thường thiên về lối kể tuyến tính, thời gian truyện kể thường gắn với các biến cố lịch sử. Sau 1986, nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết phá vỡ kết cấu truyền thống, thay vào đó là kiểu kết cấu lắp ghép, đồng hiện thời gian, không gian, tâm lí. Trong Miền hoang, mặc dù thời gian truyện kể là thời gian hiện tại nhưng tác giả vẫn khéo léo đan cài vào đó những mảng kí ức của các nhân vật. Trong cuộc lạc rừng, khi đối diện với những hiểm họa, bốn con người này có dịp quay về tuổi thơ, hồi tưởng lại quãng thời gian đã qua của mình. Ở Hoang tâm, câu chuyện quá khứ và hiện tại đan cài vào nhau. Chuyện hôm qua và hôm nay cứ diễn ra theo chiều tuyến tính nhưng nhìn từ mạch truyện, câu chuyện về quá khứ là thời gian hồi tưởng, câu chuyện đương hiện là những phiến đoạn ở thì hiện tại hoàn thành và hiện tại tiếp diễn. Đó là kiểu kết cấu đồng hiện thời gian và đồng hiện tâm lí, khác hẳn với kiểu kết cấu sự kiện và thời gian tuyến tính trong văn học truyền thống.

Một điều đáng ghi nhận trong sự sáng tạo của Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Đình Tú ở hai cuốn sach này là thủ pháp liên văn bản(1). Hai tiểu thuyết đều lấy chất liệu từ cuộc chiến biên giới Tây Nam như một “tiền văn bản” làm cảm hứng sáng tác. Từ những tư liệu, chứng nhân lịch sử và những kí ức về chiến tranh, hai nhà văn đã dựng lại không khí cam go, ác liệt về một cuộc chiến chống lại tội ác phi nhân bản, phản nhân văn của chính quyền Khmer Đỏ. Đọc những trang văn miêu tả lại cách giết người dã man của đội quân Pol Pốt, chúng ta không khỏi rùng mình ghê sợ. Ở hai tác phẩm, người đọc không chỉ nhận thấy mã lịch sử mà còn thấy được sự hiện diện của mã văn hóa. Đó là đền đài, lăng tẩm, là những bài dân ca truyền thống, những câu chuyện cổ Tum Tiêu của dân tộc Khmer trong Miền hoang; là trầm tích văn hóa nhân loại hiện diện trong đời sống của các tộc người Mụ, người Khi, người Mã, là văn hóa của giới trẻ thời @ trong Hoang tâm. Như vậy, đọc truyện, độc giả có cơ hội được hiểu biết thêm về văn hóa, lịch sử của dân tộc và nhân loại.

Liên văn bản trong hai tiểu thuyết còn được biểu hiện ở kĩ thuật lắp ghép, pha trộn thể loại. Pha trộn/ dung hợp thể loại là một kĩ thuật thường được sử dụng trong văn học đương đại. Đó là sự lắp ghép các thể loại trong một tác phẩm, trong văn xuôi có thơ, kịch, nhạc, có báo chí, phóng sự, điện ảnh,… Sự dung hợp thể loại là một biểu hiện rõ nét về mặt kết cấu ở hai tác phẩm. Trong Hoang tâm, Nguyễn Đình Tú đã đưa thơ, nhạc, truyền thuyết và cả bài văn của học sinh vào văn bản truyện. Câu đề từ: “Đừng tưởng mọi thứ chỉ tồn tại dưới ánh mặt trời” cũng chính là một biểu hiện của liên văn bản, nó góp phần gợi ý một cách hiểu về tác phẩm. “Đừng tưởng mọi thứ chỉ tồn tại dưới ánh mặt trời” - vậy cái gì tồn tại ở nơi không có ánh mặt trời? Đó là những cái trong tâm tưởng. Đừng tưởng những bi kịch vật chất mới là kinh khủng, kinh khủng hơn cả là những bi kịch trong tâm hồn, những dư chấn tâm lí, những suy tưởng xuyên không gian, thời gian đủ để hiện diện rất nhiều câu chuyện âm bản không tồn tại dưới ánh dương minh bạch. Trong Miền hoang, một trong những yếu tố được nhiều người khen ngợi, đó là Sương Nguyệt Minh đã dụng công, tỉ mỉ sưu tầm những bản tin trên báo chí, những bài thơ của đồng đội viết về chiến trường K. Mỗi một chương của tiểu thuyết, nhà văn đều dẫn một mẩu tin đăng báo, có trích nguồn cụ thể, như một cách làm sống lại không khí lịch sử một thời, giúp người đọc nhập cuộc cùng tiểu thuyết, sống trong không khí chiến trận. Những bài báo được dùng làm đề từ và những đoạn tin trên các báo mà Tùng đọc cho Lục Thum nghe trong hành trình lạc rừng là một minh chứng sống động về tội ác của quân Pol Pốt cũng như cục diện cuộc chiến lúc bấy giờ. Đưa những văn bản này vào tiểu thuyết, tác giả không phải nói nhiều mà người đọc vẫn hình dung và hiểu về tính chất của cuộc chiến. Vì thế, có ý kiến cho rằng, Miền hoang mang dấu ấn của tiểu thuyết hồi kí, tiểu thuyết phóng sự.

Giống Hoang tâm, trong Miền hoang, Sương Nguyệt Minh cũng đưa vào không ít thơ, nhạc. Nếu như đoạn nhạc: “Ta là con của bố mẹ ta, nhớ nhà là ta tút ra về. Ta không cần ba lô không cần ô tô không cần chi mô, ta về thăm bố xong ta lại lên. Trên con đường ta đi có nhiều gian nguy làm ta khiếp vía, ta đi theo lối nhỏ là lối an toàn…” nhại lại bài hát Bước chân trên dãy Trường Sơn của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối mang tinh thần giễu nhại tâm thế chiến trận của những người lính bị đẩy ra trận thì những bài hát trong Miền hoang lại là liều thuốc an thần cho tên Lục Thum quên đi nỗi đau khi bị cưa chân. Những bài thơ của đồng đội Tùng không chỉ giúp những con người lạc rừng xích lại gần nhau hơn mà còn phản ánh hiện thực đói khát, gian khổ, khốc liệt nơi hoang địa khô cằn. Những thi phẩm trong cuốn sổ nhật kí của tên lính ngụy mang tinh thần ủy mị được Nguyễn Đình Tú đưa vào Hoang tâm cho thấy cách nhìn nhận, đánh giá của nhà văn về vai trò của văn học nghệ thuật đối với tinh thần người lính. Không ít lần nhân vật Anh nghĩ rằng những bài thơ mang tư tưởng mộng rớt trong cuốn sổ nhật kí là nguyên nhân dẫn đến thất bại của chính quyền Mĩ ngụy. Ngược lại, quân ta thắng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại một phần là do sức mạnh được hun đúc từ những bài thơ, bài hát cổ vũ tinh thần chiến đấu. Như vậy, qua việc đưa thơ, nhạc vào trang sách, hai nhà văn đã khẳng định vai trò quan trọng của văn học nghệ thuật trong chiến tranh.

Về điểm nhìn trần thuật, nếu như tiểu thuyết trước 1975 thường là điểm nhìn của tác giả, gắn với người kể chuyện toàn tri thì những tác phẩm “tự sự cỡ lớn” sau 1975 lại trao điểm nhìn cho nhân vật, có sự dịch chuyển, đa dạng hóa điểm nhìn. Miền hoang Hoang tâm cũng thế. Tiểu thuyết Sương Nguyệt Minh được nhiều nhà phê bình đánh giá cao ở cách tổ chức điểm nhìn. Tác phẩm có bốn nhân vật chính, các nhân vật thay phiên nhau kể chuyện. Đó là Gã Lục Thum - Ông Lớn bị thương dập nát chân xưng “ta” với cái nhìn chiến tranh của viên chỉ huy cấp trung đoàn tinh quái. Thằng Rô thô lỗ, cục cằn, vô học xưng “tao” thì chỉ với cái nhìn trận mạc của một tên lính áo đen. Cô y tá người Khmer xinh đẹp bị câm, độc thoại nội tâm xưng “tui” là cái nhìn chiến tranh của một người con gái yếu ớt bị giày vò, quăng quật tan nát. Chàng trai tên Tùng bị bắt làm tù binh xưng “tôi” lại có cái nhìn chiến tranh của một người lính trí thức tham chiến ở bên ngoài biên giới. Cuối cùng là tác giả nhìn cuộc chiến tranh ở chiến trường K với tư cách là một nhà văn... Tất cả được “ném” vào chung một không gian, rồi thay nhau kể chuyện, trần tình, độc thoại trong thời gian đồng hiện. Ngoài bốn nhân vật chính, thêm tác giả tiểu thuyết nữa là năm cách cảm nhận, năm cái nhìn chiến tranh, thì còn rất nhiều tham chiếu khác nữa của các nhà chính trị, nhà quân sự, nhà báo... qua những trích đoạn phụ đề hoặc ghi chép, nhật kí, phóng sự... Tất cả tạo nên tiếng nói đa thanh, nhiều góc nhìn khác nhau về cuộc chiến biên giới Tây Nam.

Trong Hoang tâm, điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ ba. Đó là điểm nhìn bên trong, điểm nhìn của người trong cuộc nhìn về cuộc chiến và những di họa của chiến tranh đối với người lính. Đặt điểm nhìn vào nhân vật Anh, Nguyễn Đình Tú muốn có cái nhìn khách quan về tâm lí của người lính khi ra trận. Anh vốn là một sinh viên văn khoa, có tâm hồn lãng mạn, bước vào cuộc chiến với tâm thế thụ động, muốn “nhìn cho rõ bộ mặt thật của chiến tranh là như thế nào”, xem nó có giống như những gì ghi chép trong thơ văn, trong sách vở mà bản thân đã được học hay không. Đi sâu vào chiến cuộc, khi chứng kiến những cái chết thảm thương của những cô gái du kích Tân Lập, khi lập được chiến công là giết những tên lính K và được nhìn tận mặt tử thi quân thù, anh bớt lãng mạn hơn, không còn tâm thế đi xem chiến tranh mà đã chính thức trở thành một người lính trận. Lúc đó, anh đã “ngộ” ra bộ mặt thật của chiến tranh là chết chóc, tang thương.

Chiến tranh là một đề tài truyền thống nên khi viết về nó, những nhà văn Việt Nam đương đại buộc phải có những thể nghiệm mới trong nghệ thuật thể hiện. Bằng sự dụng công, độc sáng trong phương thức trần thuật, Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Đình Tú đã có những đóng góp mới cho mảng đề tài này trong văn học hậu chiến.

*

Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Đình Tú là hai nhà văn quân đội, một người đi ra từ cuộc chiến và một người đứng ngoài cuộc chiến. Vì thế, trong Miền hoang, chiến tranh được kể lại dưới cái nhìn của người trong cuộc, nó chính là kết tinh từ những trải nghiệm, ám ảnh. Với Hoang tâm, dù là người ngoài cuộc, nhưng từ những đồng cảm, tri ân với lớp đàn anh và từ những hiểu biết về lịch sử, Nguyễn Đình Tú đã vẽ nên bộ mặt chân thực, sinh động của cuộc chiến biên giới Tây Nam. Bằng việc phục dựng chân thực tội ác dã man của quân Pol Pốt và những thương tổn mà con người hứng chịu sau chiến tranh, cả hai tiểu thuyết đã góp phần làm cho độc giả đương thời, nhất là những người trẻ tuổi, có những kiến văn, xúc cảm đáng quý. Hai tác giả không chỉ cho người đọc thấy được diễn ngôn lịch sử, chiến tranh mà còn lồng vào đó diễn ngôn văn hóa. Chính vì thế, tác phẩm có sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc, góp phần khẳng định sức sống, sự ám gợi của một đề tài giàu tính truyền thống trong văn xuôi Việt Nam đương đại.

 

---------------------------------

(1)          Xem: Trần Đình Sử (2014), Trên đường biên của lí luận văn học, Nxb Văn học, Hà Nội.


----------Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Khoa Ngữ văn---------


 


Bài khác