Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

TS. Nguyễn Thị Minh Thu

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

 

Công việc nghiên cứu về truyền thuyết các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, các dân tộc miền núi phía Bắc nói riêng hiện nay gặp những khó khăn nhất định vì số lượng truyện kể được sưu tầm và lưu truyền không còn nhiều và không đồng đều ở các dân tộc. Tiến hành khảo sát 17 tổng tập, tuyển tập(1), các luận án, luận văn(2) nghiên cứu về truyện kể dân gian và truyền thuyết các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, hiện chúng tôi tập hợp được 41 bản kể truyền thuyết dân gian của các dân tộc: Tày, Thái, Khơ Mú, Nùng, Hmông, Mảng trong đó hai dân tộc Tày, Thái còn lưu giữ được nhiều truyện kể (Tày: 21/41, Thái: 13/41), các dân tộc khác chỉ còn một đến hai truyền thuyết. Tác giả Trần Thị An đã lý giải về điều này bằng hai nguyên nhân sau: “Một là trong cuộc sống, nhiều dân tộc thiểu số còn bảo lưu các yếu tố cổ sơ như tình trạng gia đình mẫu hệ, xã hội ở tình trạng bộ lạc khép kín mà chưa tiến tới hình thức nhà nước sơ khai, vì thế, cảm hứng hướng ngoại (chinh phục tự nhiên) mạnh mẽ hơn cảm hứng hướng nội (việc tổ chức đời sống cộng đồng), cảm hứng thân phận (hướng tới sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội) mạnh hơn cảm hứng lịch sử (hướng tới các chiến công của người anh hùng đối với cộng đồng); việc xây dựng những nhân vật khổng lồ mang màu sắc huyền thoại hoặc xây dựng những nhân vật đời thường của truyện cổ tích đậm hơn việc xây dựng các nhân vật anh hùng của truyền thuyết. Nguyên nhân thứ hai quan trọng hơn đó là, đã xảy ra tình trạng thất truyền những truyện kể về người anh hùng của các dân tộc trong cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước”(3).

Tuy so với một số thể loại truyện dân gian khác, số lượng truyền thuyết của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là một con số khiêm tốn nhưng vẫn có thể nhận thấy một diện mạo của thể loại với những đặc điểm về đề tài, nội dung, nghệ thuật của các nhóm truyền thuyết.

Truyền thuyết các dân tộc chủ yếu mang nội dung kể về các nhân vật anh hùng lịch sử và giải thích tên gọi, sự tồn tại của những địa danh có thực nơi vùng đất đồng bào các dân tộc sinh sống. Đặc điểm nổi bật trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là nội dung phản ánh lịch sử và nội dung giải thích địa danh thường gắn bó và thể hiện đồng thời trong các truyền thuyết. Và tất cả chúng được thể hiện trong những truyện kể vừa hư vừa thực và mang đậm một niềm tin, niềm tự hào của nhân dân các dân tộc - chủ nhân của những truyện kể cũng là chủ sở hữu của các địa danh và là nhân chứng ghi nhận các sự kiện lịch sử. Hệ đề tài kể trên trong truyền thuyết các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc vừa có điểm tương đồng vừa có những khác biệt đáng kể so với một số dân tộc khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ. Tương đồng thể hiện ở mối quan tâm ghi dấu về các địa danh mà đồng bào các dân tộc sinh sống gắn bó. Đó như một minh chứng giúp đồng bào khẳng định sự tồn tại của tộc người trong quá trình di cư và định cư tại những vùng không gian sinh sống của mình. Về điểm khác biệt, có thể mượn nhận định của nhà nghiên cứu Trần Thị An khi viết về truyền thuyết Tày trong so sánh với truyền thuyết các dân tộc Tây Nguyên như sau: “Có sự khác biệt lớn về đề tài truyền thuyết của các dân tộc. Trong khi truyền thuyết các dân tộc Tây Nguyên hướng về đề tài thể hiện tín ngưỡng, lí giải phong tục để thể hiện những bí ẩn của đời sống tâm linh thì truyền thuyết dân tộc Tày thiên về việc lý giải lịch sử thông qua đó bày tỏ tình cảm tôn vinh của mình đối với các nhân vật lịch sử”(4).

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Tiết Khánh, truyền thuyết Khơ Me Nam Bộ thiếu vắng hoàn toàn truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử, chỉ có một số ít truyền thuyết về nhân vật lịch sử. Phần truyền thuyết chủ yếu thuộc về truyền thuyết phong vật (giải thích phong tục và lễ hội) và nhiều nhất là truyền thuyết địa danh. Nhận xét về điều này, tác giả viết “Cảm hứng lịch sử, vốn là yếu tố gắn chặt với truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử, hoàn toàn mờ nhạt trong truyền thuyết Khơ Me Nam Bộ”(5). Hay với truyền thuyết dân tộc Chăm, tác giả Nguyễn Thị Thu Vân trong nghiên cứu của mình cũng chỉ ra rằng trong nhóm truyền thuyết lịch sử, các truyện có nội dung chủ yếu kể về các vị vua Chăm có công tích như vua Pô Klong Gia rai, Pô Rômê. Truyền thuyết về các anh hùng bộ lạc, bộ tộc xuất hiện rất hiếm hoi(6). Sự khác biệt về đề tài này dẫn đến sự khác biệt về phương thức tồn tại giữa truyền thuyết các dân tộc. Các nhân vật lịch sử vừa được các triều đại phong kiến sắc phong vừa được đồng bào các dân tộc nhớ ơn trong tâm thức và thờ cúng thường xuyên tại các đình, đền, trong các lễ hội nên truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gắn bó mật thiết và phần lớn tồn tại trong các sinh hoạt lễ hội về người anh hùng lịch sử với các cốt truyện tương đối ổn định.

Tiếp thu quan điểm phân loại của một số nhà nghiên cứu như Đỗ Bình Trị, Lê Chí Quế, Kiều Thu Hoạch và dựa vào thực tế khảo sát văn bản truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, chúng tôi thấy truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có thể được chia làm hai tiểu loại tiêu biểu: truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử và truyền thuyết địa danh. Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng với văn học dân gian, truyện kể dân gian và nhất là với truyền thuyết, mọi sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối. Bởi lẽ, sự phản ánh xen kẽ, lồng ghép vào nhau các đề tài, nội dung giữa các tiểu loại là hiện tượng rất phổ biến. Nghĩa là, trong các truyện kể về các nhân vật anh hùng văn hóa hay nhân vật lịch sử chúng ta thấy cả nội dung giải thích địa danh và ngược lại trong truyền thuyết địa danh, các sự kiện và nhân vật lịch sử cũng ít nhiều được phản ánh.

Truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử là mảng truyền thuyết thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của thể loại này. Trong 41 đơn vị truyện kể truyền thuyết đã khảo sát kể trên, chúng tôi thống kê có 24 truyện của 4 dân tộc Tày, Thái, Khơ Mú, Mảng. Nhóm truyền thuyết này lưu truyền phổ biến ở hai dân tộc Tày, Thái và tập trung phản ánh về một số nhân vật anh hùng lịch sử tên tuổi trong công cuộc đấu tranh chống giặc phong kiến phương Bắc ngoại xâm. Có lẽ do địa bàn cư trú của các dân tộc miền núi phía Bắc có yếu tố tiếp giáp trực tiếp với biên giới phương Bắc nên đấu tranh chống các triều đại phong kiến phương Bắc đã trở thành đề tài chính của nhóm truyền thuyết này. Cũng có thể, trong quá trình cộng cư và hòa nhập với dân tộc Việt, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã hòa vào công cuộc khởi nghĩa chống phong kiến phương Bắc trường kì của dân tộc Việt Nam nói chung.

Người Tày tự hào với những truyện kể về anh hùng Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Thục Phán, anh em Hoàng Đại Huề. Thục Phán là người anh hùng có công trong việc thu phục và dẹp yên ý định tranh chấp ngôi vua của chín chúa thuộc bộ Nam Cương đóng đô ở đất Nam Bình nay là đất Hòa An, Cao Bằng để đứng lên ngôi vị cao nhất trị vì, cai quản và xây dựng đất nước còn Nùng Trí Cao là người anh hùng cầm quân chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Truyện kể về Nùng Trí Cao phản ánh công cuộc đấu tranh chống giặc Tống ngoại xâm với mục đích vừa bảo vệ triều đình nhà Lý vừa có lúc muốn tách ra khỏi cát cứ, khẳng định độc lập riêng của người anh hùng dân tộc này. Trong tâm thức của người Tày, Nùng Trí Cao lúc sống là người đại diện cho tinh thần độc lập, lúc chết đi trở thành phúc thần phù trợ cho cuộc sống của người dân. Với Nùng Trí Cao, truyền thuyết như là cách để tác giả dân gian “biện giải” những mâu thuẫn trong tư tưởng và hành động của người anh hùng, đặc biệt “biện giải” cho việc chính sử ghi rằng đó là hành động “chống đối” triều đình của người anh hùng.

Dương Tự Minh là thủ lĩnh hàng đầu phủ Phú Lương Thái Nguyên có công trong việc dẹp Tống giúp triều đại nhà Lý dành thắng lợi mang lại yên bình cho đất nước, bản làng. Trong chùm truyền thuyết về Dương Tự Minh, thái độ, tình cảm trân trọng ca ngợi vị tướng tài này của nhân dân cơ bản là thống nhất với sự ghi danh của các sử gia phong kiến.

Người Tày vùng Chi Lăng Lạng Sơn lại ghi danh về anh em Hoàng Đại Huề trong những trang truyền thuyết còn lưu truyền mãi đến ngày nay. Anh em Hoàng Đại Huề là người đứng đầu của đội dân binh Tày Nùng tài giỏi, dũng cảm tuyệt vời đã trực tiếp lãnh đạo những nghĩa binh tham gia đánh trận Chi Lăng lịch sử trong cuộc chiến đấu chống giặc Minh.

Người Thái vẫn truyền nhau chuỗi truyền thuyết về nữ anh hùng nàng Han, về người anh hùng Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng. Trong tâm thức họ, nàng Han và bốn anh em họ Cầm là những tên tuổi không thể nào quên lãng. Nàng Han được coi như thủ lĩnh dấy binh, lãnh đạo nhân dân chống giặc phương Bắc gìn giữ bản mường, dẹp tan âm mưu xâm lược với ý chí và phẩm chất quật cường, mạnh mẽ mà trong sáng, thánh thiện. Người Khơ Mú lại lưu truyền về nữ anh hùng nàng Chương – nhân vật có những điểm tương đồng với nữ tướng nàng Han của người Thái. Đây đều là những nhân vật anh hùng lịch sử người dân tộc thiểu số đã có công lớn trong việc dẹp loạn, giúp mang lại sự yên bình cho đất nước và các làng bản.

Những trang sử hào hùng với nhiều thắng lợi oanh liệt cho dù người anh hùng cuối cùng có thể hy sinh đã làm cho truyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có thêm âm hưởng anh hùng ca bi tráng của bài ca chiến trận chống giặc phương Bắc xâm lược.

Nhóm truyền thuyết này được xây dựng trên cơ sở một cốt lõi lịch sử nhưng luôn được chắp thêm “đôi cánh thơ và mộng” nghĩa là vẫn sử dụng nghệ thuật hư cấu và yếu tố hoang đường, kỳ ảo. Thời gian, không gian, tên tuổi và hành trạng, sự nghiệp của các nhân vật có thể được kể lại một cách xác định cụ thể, rõ ràng nhưng không chắc chắn là hoàn toàn chính xác. Sự tham gia của nghệ thuật hư cấu, yếu tố kỳ diệu vẫn là một nét nghệ thuật chủ đạo trong truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử các dân tộc khu vực này. Điều đó được biểu hiện qua hàng loạt motif đặc trưng như: ra đời kỳ lạ, chiến công thần kỳ, kết thúc kỳ lạ. Các motif mang tính thần kỳ này tạo ra hiệu quả thẩm mỹ quan trọng. Chúng không chỉ đưa nhân vật anh hùng vào những không gian có sắc màu kì ảo tạo nên sức hấp dẫn với người nghe mà còn thể hiện thái độ ngợi ca, trân trọng, tôn vinh đối với những người anh hùng của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Truyền thuyết kể về quá trình sinh thành người anh hùng dân tộc Tày Dương Tự Minh chứa đựng đầy yếu tố kỳ ảo. “Thời xa xưa ở vùng Sơn Cẩm phủ Phú Lương có đôi vợ chồng họ Dương lấy nhau đến già mà vẫn chưa có mụn con nào. Họ âu phiền trong dạ nhưng không quên ngày đêm cầu trời, làm nhiều việc thiện. Một đêm người vợ nằm mơ thấy mình nuốt một trái núi. Mười hai tháng sau bà sinh được một cậu con trai, nét mặt khôi ngô, vóc người tuấn tú. Khi cậu bé vừa ra đời có một ánh hào quang tỏa sáng khắp căn nhà. Cả gia đình mừng vui khôn tả. Vợ chồng họ hàng sôi nổi luận bàn đặt tên cho cháu…Tên Dương Tự Minh là do người bác cả đặt. Dương là mặt trời, Tự Minh ắt là phải sáng”(7). Sự khác lạ trong quá trình ra đời của người anh hùng thường gắn liền với những đặc điểm khác lạ trong dung mạo và tính cách. Đây là một sáng tạo có thể coi như biến thể của motif tướng lạ tài lạ vẫn thường được các nhà nghiên cứu nói đến khi tìm hiểu về nhóm truyền thuyết này. Về nàng Han, mặc dầu là gái nhưng Han có tài trí và sức khỏe lạ thường, mới chín mười tuổi cô đã tập bắn cung và phi ngựa bạch, cùng với bọn con trai chia bè đánh vật. Lớn lên cô trở thành một kị sĩ thường cưỡi trên lưng con bạch mã phi nước đại như một mũi tên bay thấp thoáng trong rừng xanh(8).

Ra đời kỳ lạ cùng với dung mạo và tính cách khác lạ chính là những dấu hiệu dự báo cuộc đời và sự nghiệp nhiều biến động và nhiều kỳ tích lớn lao của các nhân vật anh hùng. Motif này một phần bắt nguồn từ những motif cổ xưa của thần thoại, phần nữa phản ánh thái độ, tình cảm trân trọng, tôn sùng của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Với họ, người anh hùng sinh ra mang sứ mệnh cao cả vì cộng đồng, vì đất nước nên ắt là họ phải mang những đặc điểm khác với con người bình thường. Đây là cơ sở để tác giả dân gian tiếp tục kể lại trong truyền thuyết biết bao chiến công hiển hách phi thường mà người anh hùng đã lập nên. Cảnh chiến thắng của đội quân nàng Han được kể lại: Đến ngày hẹn đánh, quân giặc chỉ phòng giữ phía trước mặt, không ngờ quân của nàng Han ở trong thành đánh ra. Bị bất ngờ, quân giặc thua to, bỏ chạy tán loạn. Quân nàng Han còn phục trên các ngả đường đón đánh giặc. Suốt dọc đường, dân các mường, bản cũng dùng gậy, dùng đá giết giặc. Nàng Han cho quân truy kích mạnh mẽ. Quân lính của nàng thế mạnh như nước lũ Nậm So, tiến đến đâu, quân giặc ngã đến đó. Có lúc, quân lính không có hàng ngũ, đội hình lộn xộn, nàng truyền cho tuỳ tướng xé mặt chăn dệt bằng chỉ ngũ sắc xanh đỏ làm cờ lệnh để điều khiển. Giặc thua, chạy về bên kia biên giới(9). Chiến thắng của đội quân Nông Đắc Thái cũng được tái hiện đầy đủ: “Nông Đắc Thái thấy đã đúng lúc rồi, cho lệnh gõ mõ, quân mai phục hai bên sườn núi bắn cung, bắn nỏ, giáp lá cà tì dùng giáo mác. Lũ giặc khóc ầm ĩ, máu phun đỏ đường đi. Đô đốc Trình Dương oai phong ngồi trên lưng ngựa, miệng cứ hô Tiến lên, tiến lên. Mình nó mặc áo giáp, chỉ chừa hai con mắt là không lấy sắt che được. Nông Đắc Thái giương cái nỏ thần lên, mũi tên vù bay, đâm vào mắt Trình Dương. Đô đốc ngã ngựa, miệng khóc í ố. Quân Minh chết kể nghìn kể vạn. Binh sĩ trốn thoát không đáng kể là bao nhiêu”(10). Kể lại những chiến thắng lừng lẫy ấy, một mặt đồng bào tái hiện hiện thực lịch sử hào hùng, oanh liệt với sự lãnh đạo tài giỏi, với ý chí và sức mạnh phi thường của các anh hùng, mặt khác là tình cảm và lòng tự hào của nhân dân đã góp phần thêu dệt nên bản anh hùng ca chiến thắng đó.

Bên cạnh đó, truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử của đồng bào miền núi phía Bắc còn sử dụng kết hợp những motif của các thể loại khác, nhất là thể loại cổ tích. Trước hết là motif sự xuất thân nghèo khổ của người anh hùng.

Nguồn gốc người anh hùng Nùng Trí Cao được kể rằng “Nông (Nùng) Trí Cao quê ở Tượng Cần, châu Quảng Nguyên (tức Cao Bằng). Người cha cùng anh có lỗi với vua nhà Lý, bị bắt về thủ đô Đại Việt xử tội. Nông Trí Cao về ở với chú, ngày ngày đi chăn ngựa ở ngoài đồng”(11). Hay Truyện Quán Triều - Đà Quận kể về sự xuất thân của người anh hùng giống như sự xuất thân của nhân vật cổ tích vậy. “Từ xưa lâu lắm rồi, ở đất Lưỡi Rồng - Đà Quận xã Xuân Lĩnh, châu Thái nguyên (sau đổi tên là châu Thạch Lâm) có một người họ Quán tên Triều, nhà nghèo, ngày ngày chở mảng quăng chài lưới, được cá đem bán được tiền mua gạo. Cả nhà trông vào mảng bè và cái chài. Ngày được ngày không, không đảm bảo ngày nào cũng đủ cá đổi bát gạo ăn”(12). Motif sự ra đời kỳ lạ như dấu hiệu khẳng định sức mạnh và lý tưởng siêu phàm của người anh hùng thì motif xuất thân nghèo khổ lại có xu hướng muốn kéo người anh hùng về đời sống thực, cơ cực và giản dị của nhân dân lao động. Dù theo cách nào thì thái độ và tình cảm của dân gian dành cho nhân vật vẫn là sự trân trọng và ca ngợi bởi họ đã làm nên những công trạng lớn lao và hiển hách.

Motif vật thần trợ giúp cũng cho thấy sự xâm nhập và tiếp nhận motif của thể loại cổ tích. Người anh hùng Dương Tự Minh theo truyền thuyết đã được Tiên ban cho một chiếc áo tàng hình và nhờ đó mà thực hiện được ý định cứu giúp dân nghèo và nhất là công cuộc diệt giặc mang lại thanh bình cho đất nước. Trong truyền thuyết về Nùng Trí Cao, thần mã với sức mạnh phi thường đã giúp người anh hùng nối trí cha, nổi lên hùng cứ một phương, lôi cuốn binh sĩ đi mở mang bờ cõi. Ngoài ra người anh hùng còn nhận được sự trợ giúp của các nàng tiên. Phó tướng quân Nông Đắc Thái được Tiên (ẩn trong người bạn đi săn) tặng cho cái nỏ có mũi tên bằng đồng, đầu mũi tra răng chó sói, cuối mũi là lông chim trĩ. Tuy nhiên, sự tiếp nhận đã được tác giả dân gian nhào nặn, tái tạo để phù hợp với nội dung và chức năng của thể loại truyền thuyết. Nếu trong cổ tích, vật thần thường xuất hiện để giúp nhân vật nghèo khổ vượt qua khó khăn, bế tắc và thay đổi cuộc đời cá nhân nhân vật thì trong truyền thuyết, vật thần lại giúp cho nhân vật tăng thêm ý chí và sức mạnh để lập nên những chiến công phi thường mang lại lợi ích cho cộng đồng, đất nước. Những chi tiết này ít nhiều cũng khiến chúng ta liên tưởng đến những hình ảnh có nét tương đồng trong truyền thuyết người Việt như con ngựa sắt của Thánh Gióng, nỏ thần mà Rùa vàng tặng cho An Dương Vương. Có thể đây là biểu hiện của sự ảnh hưởng, tiếp nhận giữa hai tộc người Tày -Việt trong quá trình cộng cư xen kẽ với nhau.

Motif tái sinh và hóa thân, trong đó tiêu biểu là motif tái sinh vào cây trúc của người anh hùng Nùng Trí Cao trong chuỗi truyền thuyết về nhân vật này của dân tộc Tày cũng là motif rất đáng chú ý. Motif này nằm trong motif người hóa thân vào cây vốn xuất hiện phổ biến trong trong truyền thuyết và truyện cổ tích nhiều dân tộc, là motif có cội nguồn từ tín ngưỡng thờ cây, từ niềm tin về cây khởi nguyên, cây sinh ra con người, cây sinh ra sự sống kết hợp với trí tưởng tượng bay bổng của con người nguyên thủy.

Sự khác biệt trong truyện kể dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng của một số dân tộc miền núi phía Bắc, đặc biệt là dân tộc Tày là ở chỗ trúc (và các biến thể gần gũi như tre, măng, mai) là loại cây được lựa chọn để làm biểu tượng cho sự hóa thân của con người. Điều này hẳn có căn nguyên một phần là từ sự phổ biến của loại cây này trong không gian tự nhiên, một phần là vai trò và giá trị sử dụng của cây trúc, tre trong đời sống và phần lớn là liên quan đến tín ngưỡng, quan niệm của đồng bào các dân tộc. Tác giả Vũ Anh Tuấn trong một công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra “Cây trúc trong tín ngưỡng dân gian Tày là một vật thiêng. Tào, Then, Bụt thường dùng những dóng trúc có mắt ngược làm quẻ âm dương. Trong đại lễ phong sắc, cây trúc để nguyên thân lá được dùng làm thang lên trời, sau đó vật thiêng này được gác lên chỗ cao ráo nhất trong ngôi nhà sàn tín chủ”(13). Ý nghĩa này đã lan tỏa từ đời sống đồng bào Tày sang một số dân tộc sinh sống cùng trong khu vực để tạo nên một nét đặc trưng riêng được thể hiện trong bộ phận truyện kể dân gian.

Đây là những motif không thực sự liên quan đến cuộc đời thực của các nhân vật mà đó chủ yếu là những motif mang tính hư cấu có chủ tâm tạo nên tính hấp dẫn cho các truyện kể. Đó cũng là cách để đồng bào thể hiện tình cảm tôn vinh, ngợi ca và biện giải cho những hành động của các nhân vật.

Tuy số lượng không phong phú như truyền thuyết người Việt nhưng truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng có kết cấu chuỗi với rất nhiều dị bản như chuỗi truyện về Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh của dân tộc Tày, chuỗi truyện về nàng Han của dân tộc Thái. Chuỗi truyền thuyết này gắn bó chặt chẽ với hệ thống lễ hội hiện vẫn được tổ chức thường xuyên trong đời sống các dân tộc. Điều này cho thấy sức sống mạnh mẽ của các nhân vật lịch sử trong tâm thức, tình cảm các dân tộc thiểu số cũng như sức sáng tạo truyện kể dồi dào của đồng bào.

Cũng dựa chủ yếu vào nguồn tư liệu khảo sát ở trên, hiện chúng tôi thống kê có 17 truyện thuộc tiểu loại truyền thuyết địa danh của 4 dân tộc Tày, Thái, Mông, Nùng, trong đó, số lượng truyện chủ yếu thuộc về hai dân tộc Tày, Thái. Truyền thuyết địa danh các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc phần lớn gắn liền với lịch sử và tín ngưỡng. Nói cách khác, đó là những truyện kể giải thích nguồn gốc, tên gọi địa danh bằng cảm quan lịch sử và tín ngưỡng. Những sự kiện và nhân vật trong truyện có thể hoặc không hoàn toàn có thực nhưng lại mang ý nghĩa khái quát lịch sử và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc. Cảm hứng bi hùng, ca ngợi và tôn kính là nguồn cảm hứng chủ đạo trong các bản truyện kể.

Đối với các dân tộc thiểu số, mỗi mường, mỗi bản, mỗi ngọn núi, con sông, dòng thác, mỗi ngôi đền, miếu hay đơn giản là một phai nước, một con mương cũng thường gắn với một sự tích. Trong quá trình thiên di và định cư, muốn khẳng định dấu ấn tộc người, đồng bào miền núi phía Bắc đã khắc tên, định danh vào những núi, những sông, những đèo, những suối thuộc vùng sinh sống của mình. Vì thế, đã xuất hiện những truyện kể của người Tày về nguồn gốc hồ Ba Bể, đền Cô Thắm, con mương Tà Loòng,… truyện kể xung quanh dòng sông Đà của dân tộc Mường, truyện kể lý giải tên gọi các mường, bản, đèo, hang… của người Thái, người Mông. Cách họ lý giải về các địa danh khá đa dạng, phần lớn mượn những câu chuyện có chứa đựng chút yếu tố kỳ diệu hoặc gắn với những nhân vật bình thường nhưng chúng ta có thể cảm nhận thấy một niềm tin, niềm tự hào ở trong đó.

Trước hết, truyền thuyết địa danh các dân tộc thường gắn với một chiến công hay những việc làm bình dị mà cao cả của những con người bình thường nơi đây. Đặc điểm này thường được thể hiện rõ trong truyền thuyết dân tộc Tày. Sự tích Đền cô Thắm ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn được đồng bào Tày kể lại rằng: “Ngày xưa có một cô gái rất xinh đẹp là con ông lão đánh cá nghèo ở làng chài ven sông Tràng Cổ tên là Thắm, vừa xinh đẹp lại chăm chỉ nết na hiền dịu cô Thắm được các chàng trai quanh vùng rất yêu mến ai cũng muốn được kết duyên cùng cô gái (…). Tên chúa Mường trong vùng đã dùng quyền lực bắt cô về làm vợ hắn. Sống trong khổ cực trăm bề, tên chúa Mường lại làm tay sai cho giặc, cô liền tìm cách trốn thoát ra khỏi gia đình đó và đứng lên tập hợp dân nghèo đánh giặc Cờ Đen. Muốn lập công tên chúa mường đã dẫn quân giặc đến đánh cô tại ngã ba sông Tràng Cổ. Nàng chỉ huy quân lính đánh giặc như phạt lau, nhưng không may cho Nàng một mũi tên thuốc độc đã bay đến và cô Thắm anh dũng hy sinh. Tức giận, quân lính của Cô quyết chiến đánh tan quân giặc trả thù cho Cô. Và để tưởng nhớ vị nữ tướng dũng cảm nhân dân đã lập đền thờ cô Thắm trên nền nhà cũ của bố con Cô ngày xưa và từ đó nhân dân cũng quen gọi là đền Thắm”(14). Truyện Sự tích núi Ái Cao (ngọn núi còn có tên là núi Thần Nàng ở huyện Nà Hang, Tuyên Quang) kể xoay quanh nhân vật nàng Ái Cao - một cô gái Tày xinh đẹp, tài năng. Ái Cao đã chấp thuận lấy tên chủ mỏ để cứu dân làng thoát khỏi cảnh sống cực khổ vì bị áp bức, bóc lột. Không ngờ, nàng bị lừa, bọn địa chủ và giặc giã càng ra sức đánh đập những người nghèo khổ. dân làng hiểu lầm cho rằng nàng ham giàu mà phản bội nên xa lánh, khinh bỉ. Cuối cùng, nàng Ái Cao đã cưỡi ngựa lên đỉnh núi gieo mình xuống vực tự vẫn để chứng minh cho tấm lòng trong sáng, hết lòng yêu thương người nghèo khổ của mình. Ngọn núi nơi nàng tự vẫn được gọi là núi Ái Cao. Những truyền thuyết khác như Sự tích thác Phòng Mạ, Sự tích đền Pác Tạ, đền Đôi Cô, đền Bà Chủa, Miếu Nữ tướng cũng có cách kể tương tự.

Truyền thuyết địa danh của người Thái thường gắn việc lý giải nguồn gốc các địa danh với việc phản ánh các cuộc chiến tranh giành đất và giữ đất. Nói cách khác, trong truyền thuyết dân tộc Thái, các địa danh xuất hiện chủ yếu là kết quả được xác lập sau những cuộc chiến tranh tìm đất, khai phá đất và giữ đất của các thủ lĩnh, những người đứng đầu mường, bản. Sở dĩ có điều đặc biệt này bởi nó liên quan đến quá trình thiên di và định cư của đồng bào dân tộc Thái. Người Thái đến định cư ở nước ta khá muộn nên hầu hết đất đai đã là của các tộc người khác như người Lự, người Kháng. Muốn có đất ở, người Thái buộc phải trở thành những kẻ đi chiếm đất. Và quá trình ấy đã được tộc người Thái ghi lại qua những truyền thuyết dân gian như Sự tích Mường Sang, Sự tích Mường Mùn, Nguồn gốc tên gọi Mường Lay, Chàng Tóng Đón và nàng Ăm Ca. Địa danh trong truyền thuyết người Thái còn gắn với công cuộc đấu tranh chống giặc giữ đất với những truyền thuyết như Tông Khao và khe Khoong Ma Nao, Sự tích suối nàng Han, con suối Láu và hòn đá Khao. Có thể nói đây là một trang sử riêng có ở đồng bào Thái và điều này cũng làm nên nét riêng trong nội dung phản ánh của truyện kể Thái nói riêng, truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc nói chung. Qua những truyện kể ấy, những tên gọi các địa danh thân quen như cánh đồng Tông Khao, Hồng Cúm còn nhắc nhở con cháu đời đời kiếp kiếp ghi nhớ về lịch sử đấu tranh oai hùng mà gian khổ của cha ông từ đó, củng cố ý thức giữ gìn và gắn bó với bản mường.

*

Truyền thuyết đã góp phần làm phong phú cho diện mạo các thể loại truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, cũng là góp phần khẳng định vị trí, vai trò và những sắc thái riêng biệt của truyền thuyết - tên gọi của một thể loại đã từng có những lúc không được thừa nhận trong giới sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian.

 

---------------------

(1) Truyện cổ tích miền núi [Nhiều tác giả (1958), Nxb Văn hóa, Cục xuất bản - Bộ văn hóa, Hà Nội] và các tập truyện khác.

(2) Mai Thu Thủy (2005), Khảo sát những đặc điểm truyền thuyết của người Tày ở Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Vũ Anh Tuấn (1991), Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Ngữ Văn, Trường Đại học tổng hợp, Hà Nội, Nguyễn Thị Mai Quyên (2010), Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Nông Thị Hồng Nhung (2010), Truyện kể địa danh của người Tày ở huyện Nà Hang- Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phùng Thị Phương Hạnh (2011), Khảo sát truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

(3), (4), (10), (11), (12) Viện KHXHVN - Viện Nghiên cứu văn hóa (2008), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 16: Truyện cổ tích - Truyền thuyết, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr .722-723, 823, 911, 926, 957.

 

(5) Phạm Tiết Khánh (2007), Khảo sát truyện kể dân gian Khơ Me Nam Bộ (qua thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.95.

(6) Nguyễn Thị Thu Vân (2000), Khảo sát đặc điểm truyện cổ dân tộc Chăm, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

(7) Núi Đuổm và Dương Tự Minh (2010), Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lương- Thái Nguyên xuất bản, tr.36-37.

(8) Phùng Thị Phương Hạnh (2011), Khảo sát truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

(9) Nguyễn Thị Mai Quyên (2010), Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

(13) Vũ Anh Tuấn (1991), Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Ngữ Văn, Trường Đại học tổng hợp, Hà Nội, tr.136.

(14) Bàn Tuấn Năng, Vũ Anh Tuấn, Lâm Xuân Đình (2000-2002), Truyện cổ Bắc Kạn, Tập 1, tr.85.



-------------Kỉ yếu Hội thảo khoa học Khoa Ngữ Văn----------

Bài khác