Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TRUYỆN CỔ TÍCH HAY LÀ SỰ THỐNG TRỊ CỦA NAM GIỚI?

TRUYỆN CỔ TÍCH HAY LÀ SỰ THỐNG TRỊ CỦA NAM GIỚI?

Trần Thị Thùy An

(Trường THPT Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội. Email: trananancsp@gmail.com)

Tóm tắt: Truyện cổ tích, từ trong nguyên bản của nó vốn dĩ đã ẩn giấu và lưu giữ những mã văn hóa về giới mang tính lịch sử xã hội rõ nét. Là một hình thức chính của trí tuệ dân gian và truyền thống của cộng đồng, truyện cổ tích có vai trò giữ gìn hơn là thách thức lại những cưỡng chế văn hóa của chế độ gia trưởng. Để duy trì khuôn phép và trật tự của xã hội gia trưởng, những mô tả của truyện cổ tích đã giới hạn tầm nhìn của người phụ nữ trong phạm vi không gian của việc bếp núc và chăm sóc con cái; kéo dài sự phụ thuộc, phục tùng, nô lệ của người phụ nữ với nam giới (cả về thân xác và tinh thần) bằng những viễn cảnh lãng mạn hoặc những bài học răn đe qua sự ngược đãi, trừng phạt. Tất cả những điều này sẽ còn vang vọng mãi vào những “truyện cổ tích” của văn chương hiện đại sau này, tạo nên những va đập và dội lại những màn đối thoại, chất vấn thực sự về thân phận của người phụ nữ.

Từ khóa: truyện cổ tích, sự thống trị của nam giới, phụ nữ, motif

Thế giới thần tiên của truyện cổ tích mà tiềm tàng trong đó là những chuẩn mực đời sống của các nền văn hóa gia trưởng đã làm gia tăng tính thụ động, sự lệ thuộc và sự tự hi sinh của người phụ nữ rồi coi đó như là những đức tính trọng yếu của nữ giới vậy.

(Feminism and Fairy Tales, Karen E. Rowe)

Sự thống trị của nam giới neo chắc vào vô thức của chúng ta đến mức ta không nhận thấy nó nữa và điều này phù hợp với những trông đợi của chúng ta đến mức khó mà xét lại nó, tra vấn nó. Nghiên cứu sâu về vấn đề này, giáo sư Xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu trong sự miêu tả dân tộc học về xã hội Kabyle, nơi bảo tồn thực sự vô thức Địa Trung Hải đã khẳng định và chỉ ra rằng:

Sự thống trị của nam giới thấy tất cả những điều kiện cho sự thực thi trọn vẹn của nó được tập hợp. Quyền ngồi trên mà toàn thiên hạ thừa nhận cho đàn ông tự khẳng định trong tính khách quan của các cấu trúc xã hội và của các hoạt động sản xuất và tái sản xuất, đặt cơ sở trên một sự phân công theo giới tính về lao động sản xuất và tái sản xuất sinh học và xã hội, sự phân công này trao cho đàn ông phần tốt đẹp hơn, quyền ngồi trên ấy còn tự khẳng định cả trong những dạng thức cố hữu của mọi habitus: được đào luyện bởi những điều kiện tương tự, vậy là hòa hợp một cách khách quan, những dạng thức này hoạt động như những khuôn đúc nên các tri giác, các tư tưởng và hành động của mọi thành viên của xã hội, những tiên nghiệm mang tính lịch sử, do được toàn thể mọi người cùng chia sẻ, nên tự áp đặt cho mỗi tác nhân với tư cách tiên nghiệm. [4, tr.45-46]

1. Từ nguồn gốc hình thành truyện cổ tích...

Truyện cổ tích là thế giới của thần tiên, là những câu chuyện không tuổi, còn mãi với ngàn năm, chúng giống như những liệu pháp chữa trị, kỳ diệu và đẹp đẽ. Tất cả những điều này đã ghim trong tâm thức của cộng đồng, những đứa trẻ và sau đó là người lớn, với ấn tượng rằng điều quan trọng không phải là biết gì về quá khứ “bí ẩn” của truyện cổ tích mà là những câu chuyện cổ tích trong suốt ấy vẫn luôn còn ở đó và tiếp tục được viết ra, được sưu tầm trong tâm thức của tất cả chúng ta, theo suốt trong hành trình sống của mỗi người.

Quá khứ là bí ẩn. Lịch sử xã hội của truyện cổ tích là bí ẩn. Để bảo tồn suy nghĩ chung của cộng đồng, không làm tổn thương tâm thức của tập thể nên lịch sử xã hội của truyện cổ tích cần và phải là một ẩn số - vĩnh viễn?

Không, lịch sử đó cần phải được biết đến, cần phải được đánh thức như là việc đánh thức “nàng công chúa ngủ trong rừng” khỏi giấc ngủ hàng trăm năm vậy!

Vậy, truyện cổ tích ra đời từ khi nào? Theo các tác giả nghiên cứu văn học dân gian, “phần lớn truyện cổ tích ra đời khi chế độ công xã thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ, đó là lúc trong lòng xã hội có sự phân chia giai cấp một cách sâu sắc” [5, tr.112-113]. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh và lưu ý thêm rằng: Song song với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy là sự xuất hiện của đồ kim loại. Do đó, vị trí của người đàn ông và người phụ nữ trong lao động sản xuất cũng dần thay đổi. Với sức khỏe, đàn ông có thể sử dụng các công cụ kim loại tốt hơn phụ nữ, dần dần, việc nặng được giao hết cho đàn ông. Nếu như trước đó vai trò của người đàn ông mờ nhạt trong đời sống gia đình thì đến lúc này, ngược lại người phụ nữ đã mất vai trò trong việc nuôi sống gia đình. Và từ đó, đàn ông là người nắm giữ gia đình chứ không phải phụ nữ nữa. Thêm vào đó, nếu như trước đây, trong xã hội nguyên thủy, giới hạn không gian của người đàn ông vốn dĩ đã lớn hơn người phụ nữ (trong khi những người phụ nữ có nhệm vụ hái lượm ở gần khu vực sinh sống thì những người đàn ông phải cùng nhau đi săn bắt rất xa) thì đến đây sự phát triển của nghề chăn nuôi, nông nghiệp, thủ công nghiệp và nhất là thương nghiệp đã dẫn đến không gian hoạt động của người đàn ông ngày càng được mở rộng hơn. Họ trở thành những thương lái, những người đi buôn, trao đổi hàng hóa, họ đến những vùng đất vô cùng xa lạ và họ mang về tiền bạc, nguồn lợi kinh tế rất lớn. Thế nên, quyền lực của họ trong gia đình càng trở nên lớn hơn. Trong khi đó, người phụ nữ bị thu hẹp không gian sống và sinh hoạt, họ bị sức khỏe, nghĩa vụ giới hạn lại dần trong không gian làng xóm, gia đình, bếp núc. Những người phụ nữ cũng dần phụ thuộc vào sức lao động, vào túi tiền của người đàn ông và họ từ bỏ dần những quyền lợi vốn có của mình trước đây để đổi lấy sự lệ thuộc, thậm chí là sự đối xử hà khắc, tệ bạc của những người đàn ông. Điều này cũng có nghĩa là chế độ phụ hệ đã dần thay thế cho chế độ mẫu hệ của xã hội công xã nguyên thủy.

Như thế, có thể nói rằng, thời đại của cổ tích gắn bó rất sâu sắc với sự hình thành, tồn tại và phát triển của chế độ phụ quyền. Đến đây, ý kiến của Lisa Retti trong công trình Fairy Tales Re-visited Gender Concepts in Traditional and Feminist Fairy Tales: “...sự thực là những câu chuyện cổ tích thường chỉ được xây dựng trên quan điểm về quan hệ gia trưởng mà thôi” [10, tr.186], rõ ràng đó là một nhận định rất xác đáng. Rằng: quan hệ gia trưởng tức là người đàn ông có quyền quyết định mọi vấn đề của gia đình, họ cũng có quyền ra lệnh, điều khiển và trấn áp người phụ nữ, họ hạn chế quyền tự do và tự chủ của người phụ nữ, buộc những người phụ nữ phải lệ thuộc vào mình. Truyện cổ tích ra đời chính là dựa trên quan điểm về sự thống trị của người đàn ông đối với người phụ nữ. Và như vậy, sự tồn tại của mã giới, của định kiến giới trong truyện cổ tích đã trở thành một khuôn mẫu văn hóa được cài cắm tinh vi vào trong kho “thư khố” của nhân loại, và chúng cần phải được chất vấn được bàn luận thêm nữa. Để củng cố quyền lực của chế độ phụ quyền, văn chương dân gian - truyện cổ tích lúc này rõ ràng đã trở thành một công cụ áp đặt của xã hội gia trưởng, thể hiện sự thống trị của cái nhìn nam giới đối với người phụ nữ.

Cũng phải nói thêm, truyện cổ tích là thể loại vẫn tiếp tục lưu truyền, bổ sung, tái sáng tạo ở các thời đại tiếp theo. Cho nên, mỗi thời kỳ dân gian có thể thêm bớt, bổ sung, tái tạo cho truyện cổ tích bằng những chi tiết thời đại theo nhu cầu của con người ở những cộng đồng, địa phương khác nhau. Có thể tạm gọi đó là lịch sử sưu tầm, biên soạn truyện cổ tích qua các thời đại. Căn cước giới tính, địa vị xã hội của những người sưu tầm, biên soạn này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc phản ánh chế độ xã hội trong các tác phẩm truyện dân gian.

Chẳng hạn, ở Việt Nam, thời trung đại, văn chương cổ tích bình dân vốn trước đó không được coi trọng cho đến khi bộ sách Lĩnh Nam chích quái do Trần Thế Pháp sưu tầm và biên soạn ra đời vào khoảng cuối đời Trần. Đây có thể coi là bộ sách quan trọng trong dòng chảy văn học dân gian nước nhà, với những

Trước những biến động của lịch sử, sự suy yếu của nhà Trần và âm mưu xâm lược của nhà Minh, bộ truyện truyền thuyết và cổ tích này được danh sĩ (tác giả là người nam) nổi tiếng nhà Trần biên soạn có ý nghĩa xã hội rất lớn. Có thể nói, lúc này, truyện cổ tích (và truyện dân gian nói chung) có một lịch sử xã hội rõ ràng khi nó gắn với những ý đồ của giới trí thức phong kiến nhà Trần trước nguy cơ sụp đổ của triều đại và nguy cơ mất nước, muốn gợi lại và bồi đắp thêm lòng yêu nước, trung thành với nhà Trần cũng như tinh thần thượng võ, truyền thống đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân Đại Việt (những câu chuyện vốn dĩ không thuộc về thế giới của người phụ nữ). Uốn nắn lại trật tự xã hội và tinh thần dân tộc trong thời buổi nhiễu nhương, đó chính là quyền lực của giai cấp thống trị được thể hiện qua truyện cổ tích của giới trí thức. Do vậy, việc lựa chọn, biên soạn các truyện cổ tích, trường hợp Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, đồng thời đã thể hiện rất rõ định kiến giới của xã hội phong kiến nam quyền với người phụ nữ.

Những câu chuyện cổ tích chúng ta nghe mỗi ngày, đọc mỗi ngày, thực sự không phải là vĩnh viễn, trong suốt và đẹp đẽ ngay từ trong chính bản thân chúng. Vén những bức màn huyền ảo, thần kỳ kia ra sẽ là hàng loạt những mã văn hóa - xã hội được lộ diện, trong đó đặc biệt là mã về giới càng được cài cắm một cách tinh vi trong các câu chuyện tưởng là hồn nhiên, trong sáng nên được coi là vốn chỉ dành cho trẻ em này.

2 ... đến sự thống trị của nam giới qua một số motif truyện cổ tích

Sự thống trị của nam giới thực chất thể hiện cái nhìn thống trị lên những biểu tượng về nữ giới. Không chỉ giản đơn là đưa ra những ký hiệu, những mã đơn thuần vào trong những mô tả cổ tích về người nữ, mà nó còn thể hiện ở sự diễn giải, giải thích những biểu tượng đó nữa. Sự áp đặt, ràng buộc của chế độ phụ quyền và cái nhìn bề trên của người đàn ông có thể được nhìn thấy qua một số motif về người nữ cụ thể sau đây.

Motif người phụ nữ trở thành “vật” hiến tế. Khi tai họa ập đến hoặc một sự kiện quan trọng có ý nghĩa định đoạt, nhiều nhân vật nữ đã hi sinh bản thân mình để trở thành vật hiến tế cho gia đình, dòng họ thậm chí dân tộc. Đó là cô Belle trong truyện cổ tích Người đẹp và quái vật trong cổ tích phương Tây; hay như công chúa Huyền Trân trong Sự tích thành Lồi, người vợ trong Bán tóc đãi bạn của Việt Nam. Điều đáng chú ý ở đây là các nhân vật này trở thành vật hiến tế thay cho những người đàn ông thân yêu của họ: cha, vua cha - đất nước, chồng,... với một thái độ tình nguyện hết sức ngưỡng mộ. Belle đã cho rằng, tai họa này lỗi là tại mình đã mong muốn có được hoa hồng từ cha. Thế nên cô đã tình nguyện đi thẳng đến tòa lâu đài “để thế mạng cho cha”. Huyền Trân công chúa vì lợi ích của vua cha và quốc gia mà đã gật đầu đồng ý lấy vua nước Chăm. Người vợ tình nguyện bán mái tóc của mình như là một hình thức hi sinh thân thể (nhất là khi mái tóc được coi là bộ phận đẹp nhất trên thân thể người phụ nữ) để từ đó làm đẹp hơn cho tình bạn, cho sự quý trọng bạn của người chồng. Tại sao, những người phụ nữ lại phải hiến thế bản thân mình thay cho những người đàn ông? Sự thống trị của xã hội gia trưởng đã áp đặt người phụ nữ phải biết phục tùng và phải tự ý thức về việc phục tùng những người đàn ông. Trong khi người nam lại cho đó là một điều hết sức tự nhiên, hợp với đạo lý (sự hiếu thảo, sự yêu mến, hòa thuận) và vì thế, cũng chẳng người đàn ông nào nói gì thêm về hành động hiến mình của các cô gái. Sau này, trường hợp Thúy Kiều bán mình chuộc cha và em thể hiện đạo hiếu có thể nói là sự tiếp diễn motif người phụ nữ trở thành vật hiến tế từ trong truyện cổ tích vậy. Quay trở lại vấn đề, có thể nói sự bất công với người nữ trong truyện cổ tích, thực chất đến từ những chi tiết vốn tưởng như không có gì.

Một motif nữa thể hiện sự thống trị của nam giới đối với nữ giới đó là motif người phụ nữ im lặng. Ta bắt gặp motif này trong rất nhiều những câu chuyện quen thuộc với các biểu hiện, người phụ nữ hoặc chìm vào giấc ngủ hoặc bị câm. Nàng công chúa phải chìm trong giấc ngủ một trăm năm trong cổ tích nổi tiếng Người đẹp ngủ trong rừng. Nàng Bạch Tuyết, vì ăn phải trái táo độc của mụ hoàng hậu độc ác, đã chìm vào “giấc ngủ” mê man không thể tỉnh dậy. Công chúa Quỳnh Nga đã trở nên câm lặng, không nói lấy nửa lời khi không thấy Thạch Sanh trở về kết duyên như đã từng hứa hẹn với mình. Người vợ trong Ai mua hành tôi sau khi bị bắt về cung thì không cười cũng không nói, bao nhiêu quần áo đẹp cũng không mặc, đầu tóc rối bù cũng không chải. Những người phụ nữ im lặng hoặc chìm vào giấc ngủ sâu hoặc bị câm như vậy rất có thể là cách duy nhất để họ phản kháng trước những ràng buộc của xã hội với mình (như người vợ trong Ai mua hành tôi bị vua bắt ép). Nhưng đồng thời, sự im lặng còn phản ánh vai trò thụ động của người nữ trong hình thái xã hội gia trưởng. Im lặng lúc này gắn liền với sự chờ đợi, chờ đợi chàng hoàng tử, chàng dũng sĩ hoặc người chồng đến giải cứu, giải thoát hoặc chữa bệnh cho mình. Motif người phụ nữ im lặng từ các huyền thoại cổ tích này còn đi vào các tự sự đương đại như thể một công thức tạo hình phổ biến về phụ nữ, đặc biệt những người phụ nữ ở các nền văn hóa ngoài phương Tây. Chẳng hạn, ở tiểu thuyết Lụa của Alessandro Baricco, người phụ nữ phương Đông có đôi mắt không hề Á Đông - người mà nhân vật chính Herve đem lòng yêu mến, đã được mã hóa bằng sự im lặng.

Tình trạng thống trị của nam giới đối với nữ giới còn được biểu hiện qua motif người phụ nữ bị phi nhân hóa. Những nhân vật nữ không được xã hội chấp nhận vì có những hành vi, những thái độ nổi loạn, không tuân theo những quy tắc của chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa gia trưởng thì sẽ phải chịu đựng những sự trừng phạt rất nghiệt ngã, nhất là những sự trừng phạt lên thân thể của giới nữ khiến họ bị phi nhân hóa. Nhân vật phù thủy trong các cổ tích phương Tây là những người phụ nữ độc ác, chuyên hãm hại những nhân vật chính nên họ thường được mô tả là già nua, xấu xí, hình thù kỳ dị, chủ yếu là các góa phụ, cưỡi chổi và đội chiếc mũ nhọn. Vì tham lam một cuộc sống giàu sang, phú quý; bội bạc với người chồng mà người vợ trong Sự tích con muỗi đã bị hóa thành con muỗi (loài vật chuyên đi chích máu người nên bị con người xa lánh và luôn tìm cách tiêu diệt) sau khi trả lại ba giọt máu cho chồng để đi theo người thương nhân giàu có. Điển hình cho motif này có thể kể đến sự phi nhân hóa người phụ nữ trong Sự tích hòn Vọng phu. Vì phạm tội loạn luân là lấy anh ruột của mình làm chồng nên người vợ- người em đã bị hóa đá - vĩnh viễn hóa thạch thân thể, làm rỗng đi đời sống bên trong của kẻ phạm tội. Không những thế, nhân vật người em - người vợ này cũng là kiểu nhân vật phụ nữ bị im lặng hóa: không thể biết, không thể hỏi, không thể lên tiếng về tình trạng thân phận của mình (trong khi đó chỉ có người anh - người chồng mới biết sự thật về tình trạng của cả hai người). Phi nhân hóa người phụ nữ thực chất là biến họ thành những kẻ khác (others) là một phương thức để các bất công đối với người phụ nữ trở nên tự nhiên hơn, bình thường hơn.

Sau cùng, cách ứng xử bất công nhất của nhãn quan nam giới với người phụ nữ trong thế giới cổ tích thể hiện qua motif người phụ nữ bị quy tội, khép tội. Theo cái nhìn của nam giới, sở dĩ có một tai họa nào đó ập đến phần nhiều nguyên nhân là ở những người phụ nữ. Người cha bị con quái vật bắt giam và hăm dọa sẽ giết cả nhà, nguyên nhân chính là ở nàng Belle đã xin cha cho mình món quà là một bông hồng, và cũng chính nàng đã ý thức được tội lỗi của mình. Đất nước rơi vào tay giặc, vua cha bị truy đuổi đến cùng, tai họa khủng khiếp ấy xảy ra là bởi sự ngây thơ, cả tin yêu chồng của Mỵ Châu. Mỵ Châu, theo lời sứ giả Thanh giang chính là “giặc”. “Dã Tràng xe cát biển Đông/ Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì” cũng là bởi tại người vợ tham lam, mù quáng trước sự cám dỗ của Long Vương. Tình bạn giữa Nhân và Quắc (trong Sự tích chim cuốc) sẽ mãi êm đẹp nếu không có người vợ khinh khỉnh, hay xúc phạm người khác. Tất nhiên, khách quan mà nói, sự nhẹ dạ, cả tin, tò mò, tham lam,... là những đức tính không tốt mà ai cũng cần loại bỏ chứ không riêng gì phụ nữ. Nhưng quả thực, trong cái nhìn đầy nghiêm khắc của chế độ phụ quyền, những người đàn ông dường như không cho những người phụ nữ đó cơ hội để giải thích, để thay đổi. Ánh nhìn “buộc tội” của họ khiến những người phụ nữ mặc nhiên thừa nhận mình là kẻ gây họa, không thể trốn tránh tội lỗi được.

Đồng thời, sự dội chiếu, những phản hồi của xã hội nam quyền với cái nhìn nam giới lên thân thể của người nữ cũng ẩn chứa quan niệm gia trưởng rất đậm nét về thân thể người phụ nữ (phải) được kiến tạo như một thực thể tiêu cực, chỉ được xác định bằng một tình trạng đóng kín, bất động, yếu ớt, đặc biệt thể hiện được sự phục tùng trong những biểu hiện của thân thể như kính cẩn, cúi mặt, quỳ lạy của người nữ với những cưỡng chế xã hội và nam giới. Những mô tả trong nhiều truyện cổ tích cho thấy: Dáng vẻ - sự xuất hiện (appearance) của những người phụ nữ có lẽ chỉ nên ở trạng thái ẩn mình, tức là không nên đi đâu xa quá nhà, không được phép ăn mâm trên cùng những người đàn ông, không được bước vào những lãnh địa thờ kính trang nghiêm chỉ có đàn ông mới được bước vào,... trước tất cả đều phải cúi mình, không lên tiếng, không thanh minh và lựa chọn sự im lặng. Và phần nào những kiến tạo về mặt thân thể đó cũng đã giới hạn những công việc của người phụ nữ trong xã hội cổ tích xưa kia. Thêm nữa, hội nhập sự thống trị vào cơ thể giới nữ như một cách để tăng cường củng cố cho luật định xã hội gia trưởng và kiểm soát cuộc đời của nhân vật nữ: từ cơ thể đến dáng điệu rồi công việc (được quyết định bởi thân thể) và không gian, phạm vi sinh sống, hoạt động của giới nữ. Cơ thể nữ giới có thể đẹp và được làm đẹp nhưng dẫu thế nào thì người nữ cũng không được phép chiếm nhiều không gian. Sự hội nhập thống trị ấy đã quàng lên vai - lên thân thể người nữ những tài chế xã hội với sức nặng của đạo lý, luân lý xã hội coi nam giới là trung tâm, buộc người phụ nữ phải thường xuyên phô ra những vẻ ngoài của bản sắc của một thân thể tự nhiên: bị đánh giá thấp, chung chung, không có yếu tố nào nổi bật mang tính cá nhân sắc nét.

Tất nhiên, bên cạnh một số motif thể hiện sự thống trị của nam giới đối với nữ giới như ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng truyện cổ tích cũng có tạo dựng hình tượng người phụ nữ thể hiện sự chủ động, không chịu im lặng, lép vế trước đàn ông. Họ là những người phụ nữ tài ba, dũng cảm như chiến binh bất bại suốt mười hai năm trời chinh chiến Hoa Mộc Lan. Đó là bà Am chiến đấu dũng cảm với chằn tinh trong Sự tích Ao phật, là người vợ Ba của Cai Vàng cương quyết ủng hộ chồng khởi nghĩa, dũng cảm chiến đấu đến cùng. Đặc biệt, kiểu truyện cổ tích nữ quyền cũng đã sớm xuất hiện trong kho tàng cổ tích Việt Nam, đó là truyện Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung với nhân vật công chúa Tiên Dung được mô tả có nhiều đặc điểm của nhân vật nữ trong các truyện cổ tích nữ quyền trên thế giới (vấn đề này rất thú vị nhưng chúng tôi xin dành cho một bài viết khác).

Quay trở lại, dù cũng có sự xuất hiện của những kiểu nhân vật nữ giới cho thấy không khí dân chủ trong truyện cổ tích nhưng về cơ bản, đại đa số các nhân vật nữ được xây dựng trên quan điểm của ý thức hệ gia trưởng. Và trên thực tế, không chỉ trong truyện cổ tích mà nhìn rộng ra trong các truyện dân gian nói chung, chúng ta đều thấy nhân vật người phụ nữ đều được xây dựng như là những “kẻ khác”, những “nô lệ” phụ thuộc vào những người đàn ông - những ông chủ của mình. Trong thần thoại Hy Lạp, Cassandra từ chối tình cảm của thần Apollo nên đã bị nguyền rằng: “nàng và con cháu của nàng sẽ thấy được tương lai nhưng không một ai sẽ tin vào điều đó”. Vì thế, Cassandra trở nên bất lực khi không thể nói ra sự thật hay là giúp đỡ người khác mặc dù bản thân có khả năng. Cuộc chiến thành Troy kéo dài hơn mười năm đã gây ra tai họa cho biết bao người, nguyên nhân chính là tại nàng Helen - người phụ nữ xinh đẹp nhất thế giới. Và còn rất nhiều những câu chuyện khác để thấy rằng, cuối cùng, tất cả phụ nữ cổ đại: từ những người phụ nữ cổ tích và ngược trở lại với những người phụ nữ của thần thoại, sử thi, truyền thuyết cũng sẽ lại giống như nàng phù thủy Circe ngày nào: khi Odyssey rút thanh kiếm ra thì ngay lập tức Circe - phù thủy quyền uy quỳ xuống, cầu xin tha thứ, khoan dung và xin được dâng hiến bản thân. Circe là một nữ thần, tại sao cô ấy sợ thanh kiếm? Cô ấy không sợ thanh kiếm mà cô ấy sợ thanh kiếm của một người đàn ông, bởi vì cô ấy là một người phụ nữ.

Những motif kể trên đã cho thấy quá trình kiến tạo mã giới trong truyện cổ tích thể hiện sự thống trị của nam giới đối với người phụ nữ trên mọi khía cạnh, không chỉ là ý thức, thái độ tinh thần mà còn cả ở cách ứng xử với thân thể nữ giới. Những câu chuyện ấy đều nhằm đến mục đích phớt lờ tầm quan trọng trong việc hình thành thái độ cá nhân của phụ nữ đối với bản thân, đàn ông, hôn nhân và xã hội. Nó mang ý nghĩa giáo dục người phụ nữ phải biết phục tùng người đàn ông, lệ thuộc vào người đó và im lặng, cúi đầu tuân theo những luật lệ của xã hội gia trưởng hà khắc. Thậm chí, sự giáo dục đó khi trải qua nhiều thế hệ khác nhau sẽ trở thành những khuôn mẫu khiến chính người phụ nữ mặc định những sự bất công đó như là những phẩm chất cần có ở mình: lặng lẽ, hi sinh, thủy chung,... Và xót xa thay, người ta (trong đó có cả những người phụ nữ) lại tự hào, tung hô, ca ngợi không ngớt về những “phẩm chất” này!

3. Ai có thể ái ân với một biểu tượng?1

(1 Truyện ngắn Châu Long, Lê Minh Hà)

Phải, biểu tượng thì chỉ lặng im, không có cảm xúc, không đồng tình cũng chẳng phản đối,... biểu tượng thật chán ngắt thế nên chẳng ai có thể ái ân với một biểu tượng hết, cả Dương Lễ và thậm chí Lưu Bình có khi cũng vậy. Nhưng ai là người đã biến những người phụ nữ trở thành biểu tượng? Chính sự thống trị của nam giới, một cách tự nhiên đã “hóa kiếp” cho những người đàn bà dân gian đáng thương kia trở thành những biểu tượng: biểu tượng của thủy chung, của son sắt, biểu tượng của phẩm hạnh, biểu tượng của nữ công gia chánh, tam tòng tức đức,... Và sự thật cay đắng này, có thể sẽ được thừa nhận là hiển nhiên nếu không có sự lên tiếng của những ánh nhìn cảm thông và công bằng hơn trong văn chương hiện đại, qua những câu chuyện “cổ tích cho ngày mới”.

 

Quả thực, các câu chuyện cổ tích luôn luôn có thể được diễn giải lại. Quá trình này khiến chúng ta thừa nhận chúng không phải là một thực thể trong suốt mà luôn có những khuôn mẫu văn hóa được đan cài tinh vi trong đó, cụ thể ở đây là những ý niệm về giới (hình ảnh, vai trò, chức năng của các nhân vật nữ). Các khuôn mẫu văn hóa này có thể được xem như “tri thức hệ”, “thư khố” và chúng rất cần được chất vấn. Trường hợp truyện cổ tích viết tiếp hoặc viết lại của các tác giả hiện đại chính là tiêu biểu cho quá trình “trưng dụng”, cải biên và diễn dịch lại kho thư khố của dân gian, để từ đó hình thành nên những đối thoại đương thời về các biểu tượng, trong đó có ý niệm về giới và sự thống trị của nam giới đối với các nhân vật nữ.

Trong những mô tả của các tác giả hiện đại, về cơ bản, các nhân vật nữ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cái nhìn nghiêm khắc của chế độ gia trưởng, họ vẫn phải chịu đựng nhiều bi kịch, nỗi đau (thậm chí là nỗi đau còn nhiều hơn gấp bội khi họ ý thức sâu sắc hơn về số phận của mình) nhưng đâu đó những nhân vật nữ giới đã có dấu hiệu của sự nổi loạn, của sự phản kháng trước những áp đặt, những trấn áp của người nam giới.

Ở các truyện này, điểm đặc biệt là các nhân vật nữ đã dần được giải thoát khỏi sự mã hóa im lặng. Họ được cất tiếng nói thể hiện tình cảm, cảm xúc, họ lắng nghe những tiếng nói của cơ thể, thân thể mình; họ được lên tiếng về tình trạng, thân phận, bi kịch của của bản thân mình. Châu Long trong truyện ngắn cùng tên của Lê Minh Hà, chính nàng đã chua xót vô ngần khi ý thức thân phận bất hạnh của mình: “Có đáng gì không? Mười năm sống ấy? Ôi những người đàn ông! Nàng đã làm cho họ nổi tiếng với muôn đời ở đất nước này. Nhưng tình bạn kỳ quặc của họ cũng làm nàng nổi tiếng... Nàng biết nàng đã trở thành một biểu tượng”. Còn trong Sự tích những ngày đẹp trời của tác giả Hòa Vang kể về một nàng Mị Nương không hề im lặng trước tình yêu và hạnh phúc. Đó không phải là nàng công chúa xinh đẹp của Hùng Vương thứ mười tám trong truyền thuyết bị “tàng hình” trong quyết định về cuộc hôn nhân của chính mình. Mà đó là một cô Mị Nương hoàn toàn khác, cô ấy cảm nhận được sự bí bách trong cuộc sống với chàng Sơn Tinh “ngăn nắp”, “chưa một lần thực hiện sai những ấn định của mình” và luôn mong muốn “đừng để nàng thiếu ánh sáng chỉ có thể chiếu ra từ mắt ta”. Cô ấy cũng có những nỗi niềm riêng tư: nhớ nhà, nhớ người yêu, muốn được gặp, được ở bên người yêu. Cô ấy cũng đã có khoảng thời gian “đánh bạo” thoát ra khỏi con người bổn phận, trách nhiệm để được là chính mình, được đối diện với tình yêu, với người mà cô ấy thực lòng yêu mến - chàng Thủy Tinh. Những Mị Nương, những Châu Long đã không còn phải im lặng giấu kín “con người” mình trước cách đối xử hà khắc của những người đàn ông. Họ khước từ thân phận là những biểu tượng, họ từ chối lớp áo bảo vệ được cho là an toàn mà những người đàn ông đã khoác lên cho họ, họ dám bước vào những vùng cấm, dám đối diện với sự thống trị của nam giới.

Khi những người phụ nữ dần thoát khỏi tầm kiểm soát của nam giới cũng là lúc chúng ta hiểu rằng những người đàn ông không hề quyền năng trong việc thống trị người nữ nữa. Những người đàn ông tưởng như có thể làm được mọi việc ấy cũng có những chuyện mà họ không làm được, và chính vì thế mà họ trở nên mất uy tín, trong một vài trường hợp. Chàng hoàng tử trong “cổ tích hiện đại”- phim điện ảnh Maleficent (Tiên hắc ám- phần I) của Walt Disney Pictures là một trường hợp như thế. Cô công chúa vẫn được mã hóa như là một biểu tượng, im lặng trong giấc ngủ trăm năm để “chờ đợi” một nụ hôn chân thành giải cứu mình. Nhưng hoàng tử đã không giải cứu được công chúa, nụ hôn của người đàn ông này không khiến cho công chúa tỉnh dậy được. Sau cùng, giải thoát cho công chúa lại chính là người đưa ra lời nguyền, vị tiên hắc ám. Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh hoàng tử được mô tả trong truyện cổ tích. Hay ngay như chính thần Sơn Tinh cũng vậy, chàng dù luôn tự nhủ “ta phải quan tâm đến vợ mình nhiều hơn”, luôn muốn quản thúc vợ mình nhưng lại không quản thúc được tâm hồn của Mị Nương, và nhất là không điều khiển được trái tim của nàng, không biến nàng thành “nô lệ” tình yêu của riêng Sơn Tinh được. Sự thống trị về mọi mặt của người đàn ông cũng là một điều rất đáng nghi ngờ, thế nên, một câu hỏi đặt ra rằng: “Có điều gì mà họ không thể thống trị người phụ nữ được không?” thì xin thưa rằng có. Một khi người phụ nữ đã mạnh mẽ, vùng lên khỏi sự trói buộc của nam giới thì dù có sức mạnh nào đi chăng nữa người đàn ông cũng không thể kiềm tỏa được họ, đó là trong cách nhìn của các tác giả sau này.

Tái diễn những biểu tượng nữ giới của văn chương dân gian cho thấy cái nhìn thống trị của nam giới đã khiến người phụ nữ phải chịu đựng nhiều chấn thương hơn, họ bị hủy hoại tính nữ, bị đối xử một cách bất công mà lâu nay, người đời vẫn cứ nghiễm nhiên cho rằng đó là những gì mà bất cứ người đàn bà, nhất là đàn bà đất Việt đều nên có, nên làm. Suy cho cùng, những đối thoại ấy cũng là những kết tinh của sự thẩm thấu qua nhiều tầng lọc từ văn chương dân gian của văn chương hiện đại, để người đọc chúng ta nhìn nhận khách quan hơn, công bằng hơn với tất cả những người phụ nữ và cũng để chúng ta thấy rằng không phải truyện cổ tích là hoàn toàn trong suốt, nó vẫn còn đó những điều mà chúng ta cần phải tiếp tục đọc lại, hiểu lại và nghĩ lại.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

[1]  Nguyễn Đổng Chi (2000). Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[2]  Lê Minh Hà (2017). Cổ tích cho ngày mới, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

[3]  Hòa Vang (2005). Hạt bụi người bay ngược, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

[4]  Pierre Bourdieu (2017). Sự thống trị của nam giới, Lê Hồng Sâm dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[5]  Vũ Anh Tuấn (Chủ biên) (2012). Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

Tài liệu tiếng Anh

[6]  Jack Zipes. Fairy Tales and the Art of Subversion - The Classical Genre for Children and the Process of Civilization (second edition), London: Routledge, 2006.

[7]  Jeana Sommer Jorgense. Gender and the Body in Classical Euorpean Fairy Tales, Indiana University, 2012.

[8]  Karen E. Rowe. Feminism and Fairy Tales, published by Routledge, 2010.

[9]  Kathryn Heyman. Fairytales Are Not Just Harmless, Innocent Fun. They Need to Be Interrogated. Retrieved from: https://www.theguardian.com/books/commentisfree/2017/apr/08/fairytales- are-not-just-harmless-innocent-fun-they-need-to-be-interrogated.

[10]  Lisa Retti. Fairy Tales Re-visited Gender Concepts in Traditional and Feminist Fairy Tales, published by Narr Francke Attempto Verlag GmbH Co. KG, 2001.

[11]  Madeline Miller. Restoring Power to the Women of Ancient Myth, Literary Hub, 4/2018. Retrieved from: https://lithub.com/restoring-power-to-the-women-of-ancient-myth/

[12]  Tricia A. Volore. Wake up Sleeping Beauty a Literary Analysis of Gender Portrayals in Traditional and Modern Fairy Tales Published from 1980-1999, Bell & Howell Information and Learning Company, 2000.


***

Bài viết đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Văn học và giới - Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế


Bài khác