Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
DẠY - HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TỪ GÓC NHÌN VỀ GIỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ
Đọc văn học từ góc nhìn giới là một cách thức đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn, có tính ích dụng và góp phần giáo dục nhân cách, kĩ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, thực tế việc tiếp cận và vận dụng lý thuyết văn học và giới cũng như nhiều lý thuyết văn học hiện đại nói chung còn khá xa lạ với người dạy văn và người học văn ở trường phổ thông. Bài viết này thảo luận những khoảng trống ấy và đưa ra một vài kiến giải.

DẠY - HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TỪ GÓC NHÌN VỀ GIỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ

Trần Thị Hải Quỳ1

Từ khoá: văn học nhà trường, đổi mới phương pháp, dạy học văn, giới nam, giới nữ

1. Mở đầu

Trong bối cảnh đổi mới dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay, nhất là đưa môn học này bắt kịp với xu thế của thời đại, thì việc tìm những góc nhìn mới để học sinh thấy hứng thú hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học là điều cần thiết phải thực hiện đối với người dạy. Thực tế đó đặt ra cho người dạy văn yêu cầu nghiên cứu, tìm tòi, thể nghiệm những nội dung, hình thức có tính mới mẻ, thoát li dần những công thức sáo mòn, cũ kĩ. Đọc văn học từ góc nhìn giới là một cách thức đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn.

Chưa bao giờ, vấn đề giáo dục giới và giới tính cho học sinh được đề cập đến nhiều như hiện nay. Sự quan tâm của cả xã hội dành cho vấn đề này xuất phát từ chính thực tế nhức nhối đang xảy ra với giới trẻ, từ chính những thách thức mà giới trẻ đang phải đối mặt. Hệ luỵ từ sự thiếu hiểu biết về giới không chỉ dừng lại ở việc vi phạm đạo đức, văn hoá mà còn cả pháp luật. Ngoài những bài giảng về kĩ năng sống, thì văn học- với chức năng nhận thức và giáo dục, hoàn toàn có thể đem đến những hiểu biết về giới cho học sinh. Văn học thể hiện giới bằng hình tượng, kí hiệu, tín hiệu thẩm mĩ,... và qua mỗi bài học văn, học sinh không chỉ lĩnh hội, cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn học mà còn có thêm kiến thức về xã hội, về tâm sinh lý, từ đó tự nhận thức, giáo dục về giới cho bản thân mình. Bởi lẽ hiểu biết về chính mình là điều rất cần thiết, nhân văn. Đây cũng là nhiệm vụ của văn học - với vai trò là một môn học cơ bản trong nhà trường phổ thông, xây dựng hình ảnh con người - công dân toàn diện, sống có ích, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy, việc xác lập, tìm kiếm và lồng ghép những kiến thức về giới qua các bài giảng văn là mang tính ích dụng và đáp ứng đòi hỏi của giáo dục hiện nay.

2. Thực tiễn dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông từ góc nhìn về giới

Các tác phẩm văn học được lựa chọn trong chương trình văn học hiện nay nhìn chung đáp ứng các tiêu chí về phần kỳ văn học, thể loại,... Tuy nhiên, có không nhiều tác phẩm là những dữ kiện về giới tiêu biểu để người dạy và người học có thể tiếp cận, thảo luận. Mặt khác, học sinh THPT có độ tuổi từ 15-18. Đây là độ tuổi phát triển nhanh cả về thể chất lẫn trí tuệ. Do được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin (internet, sách báo, các chương trình giảng dạy kĩ năng sống...) nên đa số các em cũng đã có những hiểu biết về giới. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để hướng các em tiếp cận góc độ về giới khi học tác phẩm văn học. Tuy nhiên, hiểu biết về giới nói chung của các em vẫn còn chưa thật đầy đủ, và đó là những hiểu biết sinh học. Còn để các em hiểu về giới trong văn học - một phạm trù thuộc về giá trị tinh thần thì đòi hỏi các em cần có chiều sâu về văn hoá, về vốn sống. Ngoài ra, trong phạm vi nhà trường phổ thông, giáo viên đã quen với việc đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng mà sách giáo khoa và sách giáo viên yêu cầu. Do vậy, việc tìm đến những vấn đề lý luận văn học hiện đại, cập nhật theo xu hướng nghiên cứu văn học chuyên sâu vẫn còn nhiều hạn chế. Để lý thuyết về giới trong nghiên cứu văn học, văn hóa chạm được vào bài giảng văn trong nhà trường phổ thông, thì phải có sự đột phá về cách nhìn, phương pháp. Điều đó cần đến bản lĩnh, tâm huyết, tài năng của người dạy văn.

Trong phạm vi của bài viết này, xuất phát từ vị trí trực tiếp giảng dạy văn học ở bậc phổ thông, người viết đặt ra một vài suy nghĩ nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên. Những kiến giải dưới đây xuất phát từ thực tế giảng dạy, từ góc độ quan sát và trải nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học.

Thứ nhất, sự thay đổi nhìn từ tổng thể chương trình môn Ngữ văn THPT

Đây là vấn đề lớn nhất nhưng cũng khó khắc phục nhất, bởi chương trình là bộ khung cơ bản đã được thẩm định và áp dụng. Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành chưa có nhiều tác phẩm có thể vận dụng được lý thuyết về giới để khám phá, đánh giá và lý giải. Tình hình này chỉ có thể cải thiện được nếu như chương trình Ngữ văn THPT mới được áp dụng sau năm 2020 theo hướng mở, ngoài những tác phẩm quen thuộc thì còn có những tác phẩm văn học đương đại, có sự cập nhật với hơi thở của cuộc sống hiện tại hơn, và cũng để rút ngắn khoảng cách giữa văn học trong nhà trường với dòng chảy của văn học nói chung. Chỉ có như vậy thì những lý thuyết về giới mới có cơ hội được thể nghiệm trong những giờ dạy văn ở bậc phổ thông.

Thứ hai, sự thay đổi trong tâm thế tiếp nhận của học sinh

Như đã nói ở trên, học sinh THPT về cơ bản đã có những hiểu biết về giới. Song đó chỉ là những hiểu biết có tính sinh học, và nó cần phải “chuyển hoá” về chiều sâu thì mới phù hợp để tiếp nhận văn học từ góc độ giới. Sự “chuyển hoá” ấy chính là nền tảng kiến thức, là vốn văn hoá, vốn sống của các em về các giá trị tinh thần, tâm lý, về lịch sử, xã hội. Trong bối cảnh của cuộc sống hiện tại, hiểu biết về giới là rất quan trọng với tuổi trẻ. Những hiểu biết đó giúp các em tự nhận thức về sự phát triển của bản thân, tự bảo vệ mình, tự điều chỉnh hành vi, suy nghĩ phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Và sẽ thật hữu ích nếu như các em biết vận dụng những hiểu biết sinh học ấy, kết hợp với vốn văn hoá, trải nghiệm của bản thân, để hình thành nhãn quan sâu sắc soi chiếu vào tác phẩm văn học.

Thứ ba, sự thay đổi quan trọng của người dạy văn

Giáo viên là người định hướng, dẫn dắt, mở đường. Vấn đề đặt ra ở đây là đột phá về tư duy, chấp nhận thử nghiệm và sáng tạo của giáo viên. Việc chọn ngữ liệu và vận dụng lý thuyết về giới tương thích sẽ mang lại hiệu quả cao cho một bài dạy. Chẳng hạn, một bài dạy văn thông thường, giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động dạy học để học sinh lĩnh hội được giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm (đoạn trích), nhưng nếu nhìn từ góc độ giới, bài đọc văn sẽ bước sang địa hạt xã hội học, văn hóa học (nền tảng hình thành tư duy, sự lí giải, cách nhìn nhận về giới để tạo nên cảm hứng văn học...), và tâm lý học (suy nghĩ, trạng thái cảm xúc, lí giải căn nguyên của những lớp tâm lý...). Những kiến thức mới mẻ này tạo nên độ sâu cho bài học và hình thành cho học sinh nhiều kiến thức quan trọng, cần thiết.

2.1. Nhóm tác phẩm biểu hiện giới nam

Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão có thể coi là “tuyên ngôn về giới nam” trong văn học trung đại Việt Nam. Bối cảnh lịch sử hào hùng của thời đại nhà Trần đã tôi luyện nên những trang nam nhi tuấn kiệt, những bậc anh tài xuất chúng. Hình ảnh người con trai thời Trần trong bài thơ được khắc hoạ ở cả tầm vóc, chiều kích bên ngoài cho đến vẻ đẹp nội tâm. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là thể hiện chí làm trai. Đây là đặc điểm riêng về sự kiến tạo nam tính đặt trong bối cảnh xã hội, ý thức trách nhiệm của người làm trai với quốc gia, dân tộc. Người con trai đẹp nhất là trong tư thế hiên ngang, chủ động, sẵn sàng cầm vũ khí bảo vệ đất nước. Dáng vẻ con người sừng sững, ngạo nghễ như tạc vào sông núi. Hình ảnh con người mang tầm vóc thời đại, có tính cộng đồng, tính sử thi, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước trong bài thơ này còn có tầm ảnh hưởng đến văn học hiện đại. Sau này, trong văn học cách mạng, người đọc cũng bắt gặp hình ảnh những anh vệ quốc quân “bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo”, anh giải phóng quân với “dáng đứng Việt Nam”, dáng đứng “tạc vào thế kỉ”.

Thuật hoài mang đặc điểm của thơ “nói chí tỏ lòng”. Tuy nhiên, nỗi lòng của người anh hùng trong bài thơ cũng thật cao cả, là tiếng nói đại diện cho lý tưởng của kẻ làm trai trong xã hội đương thời. Tính chất về giới được biểu hiện từ ý thức về bản thân khi sinh ra là nam nhi. Quan niệm đã là người đàn ông sống trên cõi đời là phải lập công (làm nên sự nghiệp) và lập danh (để lại tên tuổi) có ý nghĩa lớn đối với giới nam trong suốt một thời kì dài của lịch sử.

Hình tượng người con trai thời Trần trong Thuật hoài không chỉ tạo nên vẻ đẹp điển hình về giới nam của thời đại mà còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn cho học sinh ngày nay. Đó là bài học về lý tưởng sống cao đẹp, là sống có mục đích, có khát vọng cống hiến, biết hài hoà giữa nhu cầu cá nhân và lợi ích cộng đồng.

Sự thay đổi về bối cảnh xã hội cũng làm thay đổi tất yếu cách biểu hiện về giới nam trong văn học trung đại. Những biến động của thời cuộc đã tạo ra những đứt gãy trong quan niệm về giới trước đó. Hình tượng người làm trai trong Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) và Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) là ví dụ về sự chuyển đổi này. Đây là hai tác phẩm đòi hỏi người dạy phải thật khéo léo khi đan cài kiến thức về giới để tránh việc học sinh hiểu lệch lạc. Muốn làm được điều đó thì người dạy phải vận dụng kiến thức về lịch sử, xã hội để làm sáng rõ vấn đề.

Nhà Nho Nguyễn Công Trứ khẳng định “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Đặc điểm nam tính đến thời kì của những nhà Nho như Nguyễn Công Trứ một mặt vẫn tiếp nối lý tưởng sống là phải lập được công danh, nhưng đã có sự thay đổi về cách sống, cách hành xử với đời. Đề cao lối sống phóng khoáng, sự giải phóng cái tôi cá nhân ở Bài ca ngất ngưởng là hệ quả tất yếu của thái độ mong muốn thoát dần ra khỏi ý thức hệ phong kiến đương thời. Biểu hiện về giới nam trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát lại là một sự thay đổi ở mức độ sâu hơn. Vẫn là ý chí của người làm trai, muốn có công danh thì phải học hành - thi đỗ - làm quan. Nhưng chính trên hành trình đi tìm lý tưởng theo con đường xưa cũ ấy, Cao Bá Quát đã nhận thấy sự lỗi thời, bế tắc của con đường mà bản thân và rộng ra là cả xã hội khi ấy đang theo đuổi. Bài thơ dựng hai hình tượng là bãi cát dài và người lữ khách. Bãi cát dài là hình ảnh của con đường đời, con đường thi cử học hành cũ kĩ; còn lữ khách là sự hoá thân của chính Cao Bá Quát và những thân nam nhi vẫn còn cố bước đi trên con đường ấy. Tuy nhiên, mỗi bước đi trên bãi cát dài đã đem đến cho Chu Thần một sự tỉnh ngộ, vỡ lẽ. Con đường công danh cao cả xưa kia bỗng chốc trở thành con đường mưu cầu danh lợi tầm thường, thậm chí nhà Nho họ Cao còn gọi đó là “cùng đồ” (con đường cùng). Cho nên, kết thúc bài thơ là thái độ quay lưng, phủ nhận thực tại, khát khao đổi mới và dự báo dấu hiệu của sự đổi mới đã manh nha “Quân hồ vi hồ sa thượng lập” (Sao anh còn đứng làm chi trên bãi cát). Điều này lí giải vì sao sau này, Cao Bá Quát đã trở về tham gia khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn.

Sự thay đổi về cách thức biểu hiện giới nam ở Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát có tính chất phức tạp, bởi nó gắn với sự biến động về chính sự. Đặc điểm này cho thấy mối quan hệ không tách rời giữa bối cảnh xã hội và tư tưởng cá nhân. Lựa chọn những tác phẩm này để nói về nam tính, người dạy cần cho học sinh thấy rằng, lý tưởng sống, chí khí của kẻ làm trai là cần thiết, song phải phù hợp với thực tế, với bản thân. Mục đích, lý tưởng sống của người làm trai còn là sự thức ngộ về thời cuộc, biết nhận ra những yếu tố lỗi thời, bảo thủ, cản trở sự phát triển của xã hội để vươn đến những giá trị mới mẻ, có ích hơn.

Nếu như Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão xây dựng vẻ đẹp chuẩn mực của trang nam nhi thời phong kiến thì Tây Tiến của Quang Dũng cũng xứng đáng là bức tượng đài về nam tính trong văn học cách mạng. Tây Tiến mang khá nhiều đặc điểm về nam tính bởi hình tượng trung tâm của tác phẩm là những chàng trai Hà thành tuổi đời mười tám đôi mươi. Tính chất về giới trước hết được kế thừa từ lý tưởng sống của kẻ làm trai theo truyền thống. Đấy là khi Tổ quốc lâm nguy, người con trai sẵn sàng “xếp bút nghiên” lên đường thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ. Vì đi theo lý tưởng nên có những câu thơ, hình ảnh thơ mang đậm “khẩu khí” hào hùng của kẻ làm trai. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” mang âm hưởng của lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của một thế hệ. Bên cạnh đó, những chàng trai Tây Tiến còn mang nét riêng của những cậu học sinh, sinh viên mới lớn, trẻ tuổi và đến từ mảnh đất kinh kỳ. Họ có chất hào hoa, lãng mạn và cả sự đa tình. Tây Tiến thể hiện khá đa dạng những yếu tố thuộc về nam tính. Đó không đơn thuần chỉ là lý tưởng làm trai mang tính cộng đồng mà còn có những cảm xúc cá nhân đặc trưng cho lứa tuổi và giới.

2.2. Nhóm tác phẩm thể hiện giới nữ

Có thể kể đến trước tiên là bài thơ Tự tình (bài II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Tác phẩm ra đời trong lòng văn hóa/xã hội phong kiến, khi quan niệm phân biệt về vai trò của nữ giới, nam giới trong gia đình, ngoài xã hội còn khá nặng nề. Những rào cản, những trói buộc ấy đã hạn chế rất nhiều ý thức bộc lộ, phô diễn bản thân mình của nữ giới. Đặt vào bối cảnh đó, có thể nói chùm ba bài thơ Tự tình là tiếng nói, là khát vọng vượt qua những ràng buộc xã hội của một người phụ nữ cá tính - một “đứa con lệch chuẩn” của xã hội phong kiến như Hồ Xuân Hương.

Tiếng nói của giới nữ ở bài thơ Tự tình là sự đối lập, phản kháng trước những điều ngăn cấm mà xã hội áp đặt cho người phụ nữ. Khuôn mẫu sống của người phụ nữ phong kiến là tam tòng, tứ đức, chấp nhận, cam chịu, là giấu kín, nhưng ở bài thơ, Hồ Xuân Hương tạo dựng hình ảnh người phụ nữ dám thách thức, vẫy vùng để thoát ra cái vòng kiềm toả đó. Thơ Hồ Xuân Hương nói chung là sự “đối thoại” để đấu tranh, bảo vệ, bênh vực cho nữ giới trong xã hội đương thời. Nhìn rộng ra sẽ lí giải được vì sao nữ sĩ sẵn sàng “hạ bệ” những đấng bậc quân tử để ca ngợi và tôn vinh vẻ đẹp trần thế, bản năng của nữ giới, và thậm chí nữ sĩ còn cảm thông, che chở cho những người phụ nữ lỡ dở, đa mang - cái tội “tày trời” trong xã hội xưa, mà người phụ nữ là người duy nhất phải gánh chịu thiệt thòi.

Từ thơ Hồ Xuân Hương đến thơ Xuân Quỳnh là một hành trình khá dài đánh dấu về sự chuyển biến của thơ nữ trong văn học Việt Nam. Nếu Hồ Xuân Hương mạnh mẽ, cá tính, bướng bỉnh thì Xuân Quỳnh lại đằm thắm, dịu dàng, tha thiết. Nếu giọng điệu của Bà Chúa thơ Nôm là giễu cợt, phản kháng thì Xuân Quỳnh là lời bộc bạch, giãi bày, thủ thỉ tâm tình. Sự đối sánh ấy cho thấy những màu vẻ khác nhau của cách biểu hiện về giới trong thơ nữ.

Sóng là thi phẩm hay của Xuân Quỳnh. Là bài thơ tình được viết trong những năm tháng diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhưng Sóng không hề lạc nhịp lạc điệu trong khuynh hướng sử thi của thơ ca cách mạng. Sóng được đón nhận, có lẽ cũng như âm hưởng của Đợi anh về đầy da diết ở nước Nga xa xôi. Mượn hình tượng của những con sóng biển, bài thơ là sự song hành, đối xứng giữa hai hình tượng “sóng” và “em”. Quy luật tồn tại, những trạng thái, đặc tính của sóng được liên hệ với quy luật của tình cảm, với trạng thái tâm lý của người phụ nữ đang yêu. Vì vậy, Sóng mang đậm sắc thái của giới nữ với quan niệm, cách hành xử trong tình yêu. Đó là những khám phá, phát hiện về tình yêu đích thực, bao dung; về những tầng sâu kín nhất của trái tim đang yêu; là những thổn thức với ước nguyện bền vững trong tình yêu... Ở bài thơ này, vẫn còn đó những quan niệm truyền thống về người phụ nữ: yêu chân thành, tha thiết, yêu là chờ đợi, thuỷ chung, hi vọng, tình yêu đôi lứa gắn với mong ước bền chặt, dài lâu. Nhưng Sóng còn là cơ hội để Xuân Quỳnh bộc lộ nét riêng về người phụ nữ hiện đại. Không chấp nhận sự hạn hẹp, ích kỉ, không cam chịu mà buông xuôi, người phụ nữ sẵn sàng từ bỏ để tiếp tục hành trình đến với “biển lớn tình yêu”, chủ động bày tỏ khát vọng tình yêu mãnh liệt, yêu là đồng điệu, là dâng hiến, là bất tử hoá tình yêu, vượt qua cái giới hạn mong manh của đời người. Sóng có những câu thơ biểu hiện nét “rất phụ nữ”. Đó là sự băn khoăn nhưng ngại ngùng rất đáng yêu của người con gái “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”; là sự trào dâng mãnh liệt của nỗi nhớ không thể giấu giếm được “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”; là lời khẳng định son sắt “Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh - một phương”. Là người phụ nữ làm thơ về phụ nữ, nên Xuân Quỳnh hiểu hơn ai hết những tâm tư sâu lắng nơi trái tim của giới mình. Sóng là một bước tiến dài trong quá trình thể hiện vai trò, tiếng nói của nữ giới. Sóng không chỉ là tiếng nói đòi quyền được yêu mà còn là tiếng nói đòi quyền được lựa chọn tình yêu và được sống hết mình với tình yêu của phái nữ.

Lựa chọn văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu để bàn về giới là một sự gạn lọc. Đây là truyện ngắn nằm trong xu hướng đổi mới văn học sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu. Câu chuyện xoay quanh một chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Những con người, những câu chuyện mà Phùng tận mắt chứng kiến đã cho anh “vỡ lẽ” nhiều điều về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa hoàn cảnh sống và đạo đức nhân cách. Nhân vật chính trong truyện là người đàn bà hàng chài, và nhân vật này phù hợp để có thể xem xét theo lý thuyết về giới. Trước hết, khác với nhiều nhân vật nữ chính trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, người đàn bà hàng chài này có ngoại hình xấu xí, thô kệch, lại nghèo khổ, ít học. Nhân vật này không có tên, là hình ảnh đại diện cho số đông phụ nữ thường gặp trong cuộc sống. Vấn đề bảo vệ thân thể và những giá trị sống của nữ giới được đặt ra qua nhân vật. Người đàn bà hàng chài thường xuyên bị chồng đánh đập, ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Mụ là “nạn nhân tình nguyện” để cho lão chồng hành hạ, bởi hơn ai hết, mụ hiểu rõ nguyên nhân tha hoá của lão chồng. Mụ chấp nhận bị đánh để giữ lại một người đàn ông trên thuyền bám trụ với phong ba của biển cả, để cùng mụ nuôi một đàn con trên dưới chục đứa. Và còn với riêng mụ,lão đàn ông vũ phu ấy dù sao cũng đem đến cho mụ một gia đình, để mụ được thực hiện thiên chức làm mẹ. Nghịch lý ấy cho thấy người đàn bà hàng chài vừa đáng thương, vừa đáng trách, đồng thời đặt ra vấn đề nhức nhối có tính xã hội. Đó là phải bảo vệ những giá trị nhân phẩm của nữ giới hay phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Nhà văn đặt ra câu hỏi: liệu những hi sinh, vị tha vốn là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ, có phải lúc nào cũng được tôn thờ, biết ơn không? Hay chính những đức tính được ca ngợi ấy lại đem đến nỗi khổ, sự bế tắc cùng cực của thân phận đàn bà? Kết thúc truyện, người đọc vẫn không thôi ám ảnh về nhân vật này. Một người đàn bà tuy ít học nhưng vị tha, thầm lặng, biết chắt chiu hạnh phúc ấy, liệu mụ có thoát ra được cái vòng kiểm toả của suy nghĩ “gia đình luôn cần đến một người đàn ông, dù hắn vũ phu, tàn bạo” để tìm được lối thoát cho cuộc đời của mình và những đứa con không? Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn có tính gợi mở rất lớn cho học sinh. Truyện ra đời cách đây hơn 30 năm, nhưng những vấn đề đặt ra trong truyện, đặc biệt là vấn đề về nữ giới, vẫn còn có ý nghĩa đến ngày nay. Luôn đấu tranh bảo vệ phụ nữ từ trong gia đình đến ngoài xã hội, nhưng người phụ nữ cũng phải biết đấu tranh để tự bảo vệ mình, mọi cam chịu, chấp nhận sẽ không có giá trị gì nếu như bản thân mình bị chà đạp. Đấy là sự đánh thức bản lĩnh dành riêng cho nữ giới.

3. Kết luận

Trên cơ sở thực tiễn, bài viết đã chỉ ra, do nhiều nguyên nhân, vấn đề dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông từ góc nhìn về giới vẫn còn rất hạn chế. Việc đọc tác phẩm từ góc độ về giới là một cách diễn giải, bổ sung cho cách giảng dạy hiện nay. Sự hiểu biết về giới qua hình tượng văn học là hành trình khám phá “con người trong con người”, khơi dậy cho học sinh ý thức về giới, để từ đó người học biết trân trọng những giá trị vốn có của bản thân. Mặt khác, việc bồi dưỡng nhân cách sống, kĩ năng sống bằng những hiểu biết, trải nghiệm về giới qua môn văn học là một mục tiêu mà giáo dục ngày nay đang hướng tới.

 

 

1 Trần Thị Hải Quỳ: Giáo viên trường THPT Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Email: tranthihaiquy83@gmail.com

 

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn học và Giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.

 


Bài khác