Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
Thơ, văn là ngữ liệu quan trọng để dạy học môn Tiếng Việt, Ngữ văn ở trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Những tác phẩm hoàn chỉnh hay trích đoạn này trang bị cho học sinh nhiều hiểu biết về giới, hình thành ở họ thái độ, cách ứng xử, hành động phù hợp, từ đó định hình, phát triển nhân cách người học. Nắm được những nội dung kiến thức liên quan đến giới trong văn bản, đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh phổ thông từ đặc trưng từng phái tính, giáo viên sẽ có cách thức giảng dạy, giáo dục tương thích, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt, văn học ở trường phổ thông hiện tại và tương lai.

VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI

Bùi Thanh Truyền1

Trầm Thanh Tuấn2

Tóm tắt: Thơ, văn là ngữ liệu quan trọng để dạy học môn Tiếng Việt, Ngữ văn ở trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Những tác phẩm hoàn chỉnh hay trích đoạn này trang bị cho học sinh nhiều hiểu biết về giới, hình thành ở họ thái độ, cách ứng xử, hành động phù hợp, từ đó định hình, phát triển nhân cách người học. Nắm được những nội dung kiến thức liên quan đến giới trong văn bản, đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh phổ thông từ đặc trưng từng phái tính, giáo viên sẽ có cách thức giảng dạy, giáo dục tương thích, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt, văn học ở trường phổ thông hiện tại và tương lai.

Từ khóa: giới, trường phổ thông, thơ văn, tiếp nhận, dạy học

1. Giới – nét ưu việt của chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt, Ngữ văn

Cùng với các môn học khác như Đạo đức, Tự nhiên – Xã hội, Sinh học, Giáo dục công dân,... kiến thức, kĩ năng về giới cần trang bị cho học sinh đã được chú trọng trong môn Tiếng Việt, Ngữ văn ở cấp Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông cả về ngữ liệu (sách giáo khoa, sách giáo viên, truyện đọc bổ trợ,...) lẫn phương pháp dạy học. Điều này góp phần tạo nên tính nhất quán theo nguyên tắc đồng tâm – phát triển của chương trình, tính thời sự, cập nhật, mới mẻ, sát hợp với đối tượng học sinh của các bộ sách.

Ở cuối cấp Tiểu học, sách Tiếng Việt lớp 5, tập 2 đã dành một chủ điểm có tên “Nam và nữ” dạy trong ba tuần. Những bài học cảm động về tình bạn; lòng vị tha, trách nhiệm, nhân ái; vẻ đẹp ngoại hình, nội tâm của người phụ nữ Việt Nam và thế giới,... trong Một vụ đắm tàu, Lớp trưởng lớp tôi, Con gái, Thuần phục sư tử, Tà áo dài Việt Nam, Công việc đầu tiên, Bầm ơi... đã góp phần mang lại những hiểu biết, tình cảm mới mẻ, nhân văn cho học sinh. Đây cũng là điều kiện để các em đến với chủ điểm kết thúc cấp học nền tảng này: “Những chủ nhân tương lai” - một sự nâng tầm hợp lẽ nhằm giúp trẻ chuẩn bị lên cấp cao hơn.

Với Trung học cơ sở, những tri thức trong văn học dân gian: Thánh Gióng, Thạch Sanh, Tục ngữ về con người và xã hội, Quan âm thị Kính; văn học trung đại: Mẹ hiền dạy con, Bánh trôi nước, Chuyện người con gái Nam Xương, Chị em Thúy Kiều, Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga; văn học hiện đại: Bài học đường đời đầu tiên, Bức tranh của em gái tôi, Mẹ tôi, Cuộc chia tay của những con búp bê, Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Cô bé bán diêm, Chiếc lược ngà, Những đứa trẻ... sẽ cung cấp cho các em nhiều kiến văn bổ ích về đặc điểm ngoại hình, tính cách, nghĩa vụ, địa vị... của nam và nữ, từ đó có những ứng xử phù hợp với phái tính của mình trong gia đình, nhà trường, xã hội.

Ở Trung học phổ thông, lứa tuổi tổng hợp của ba hình thái nhân cách: thiếu nhi, vị thành niên và thành niên, tri thức liên quan đến giới cũng đã có sự thay đổi về chất trong tác phẩm văn học. Nó có tác dụng khơi gợi ý thức về vẻ đẹp của con người, dân tộc, nhân loại, trách nhiệm đối với bản thân, cộng đồng,... Cùng với văn học Việt Nam: Tấm Cám, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Thương vợ... những tuyệt phẩm nước ngoài như Ô-đi-xê, Ra-ma-ya-na, Tam Quốc diễn nghĩa sẽ giúp học sinh có cái nhìn rộng mở về vấn đề này, từ đó hiểu thêm về những giá trị phổ quát, muôn thuở của con người.

Chương trình Ngữ văn sau 2018 [2] được xây dựng xuất phát từ các phẩm chất và năng lực cần có của người học để lựa chọn nội dung dạy học. Quan điểm tiếp biến, tính chỉnh thể, nhất quán liên tục ở tất cả các cấp học, lớp học cũng phần nào nhận thấy qua những biểu hiện sinh động của giới trong ngữ liệu. Trên tinh thần thượng tôn sự tự do, sáng tạo của cả thầy và trò, chương trình chỉ đề xuất một số lượng hạn chế văn bản bắt buộc, còn lại đa số là gợi ý tác phẩm trong phần Phụ lục để địa phương, nhà trường, giáo viên tự quyết định. Tuy là gợi dẫn có tính chất tham khảo, nhưng nó cũng thể hiện sự kế thừa, phát triển của của chương trình nhìn từ góc độ giới trong lựa chọn ngữ liệu sách giáo khoa, có tác dụng định hướng cho người dạy. Chỉ xét văn học Việt Nam sau 1975, thơ văn được giới thiệu cũng cho thấy rõ điều này. Môn Tiếng Việt có các bài Bàn tay cô giáo (Nguyễn Trọng Hoàn), Làm anh (Phan Thị Thanh Nhàn), Mẹ (Trần Quốc Minh), Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai (Phùng Ngọc Hùng),... Với môn Ngữ văn, cấp Trung học cơ sở có: Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh), Điều không tính trước (Nguyễn Nhật Ánh), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Mẹ (Đỗ Trung Lai)...; Trung học phổ thông với Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)... Ngữ liệu này sẽ tạo thuận lợi cho giáo viên kiến tạo và triển khai các chiến lược dạy học sát hợp với đối tượng nam sinh, nữ sinh. Học sinh cũng sẽ thấy gần gũi, hứng thú với thơ văn, dễ dàng trong việc cảm thụ, tiếp nhận văn học xuất phát từ ý thức về phái tính của bản thân, từ tình cảm, tri nhận về người khác giới,...

Điểm qua như thế sẽ thấy, vượt khỏi tình thế bên lề, phần nào cấm kị theo lối chớ có “vạch đường cho hươu chaỵ”, giới và những biểu hiện vi tế, rất đỗi nhân văn của nó đã giữ một vị thế trang trọng trong nhà trường phổ thông, góp phần đào luyện những công dân mới cho đất nước. Tính dân chủ, hiện đại của môn Tiếng Việt, Ngữ văn ở các cấp học này là điều dễ thấy và đáng được ghi nhận.

2. Giới với việc tiếp nhận văn học của học sinh

Nếu như trước đây, lí luận văn học chỉ chú trọng đến đối tượng tạo tác nên tác phẩm văn học, vai trò của người đọc bị coi nhẹ xem như một hoạt động thụ động thì hiện nay, vấn đề tiếp nhận văn học, nghĩa là đánh giá đúng vai trò của bạn đọc đã được nghiên cứu kĩ lưỡng, chuyên sâu. Đây là điều có ý nghĩa bởi nếu xem nhẹ vai trò của người đọc thì không thể giải thích được thực tế ý nghĩa của tác phẩm không ngừng biến động, phong phú thêm trong tiến trình lịch sử. Theo Hans Robert Jauss, "lịch sử văn học phải là lịch sử của tiếp nhận văn học. Tác phẩm được viết ra mới chỉ là văn bản, chỉ khi nào được tiếp nhận mới là tác phẩm thực sự" [6; tr.15].

Người đọc tiếp nhận tác phẩm văn học với những nhu cầu khác nhau. Thông thường là bắt đầu từ nhu cầu giải trí, tìm những điều thú vị, hấp dẫn. Tiếp đến là nhu cầu hiểu biết, nâng cao năng lực cảm thụ. Độc giả có nhu cầu phát hiện, nhận xét, đánh giá và có người còn có nhu cầu đọc để học tập, sáng tác cho mình nữa. Dù nhu cầu tiếp nhận văn học có đa dạng thế nào thì vai trò chủ thể của người đọc vẫn được thể hiện. "Trước hết là do thực tiễn sống và giáo dưỡng văn hóa, đã hình thành nên người đọc từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ thái độ chính trị đến khuynh hướng tình cảm và hứng thú thẩm mĩ. Rồi nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính v.v... cũng góp phần tác động đến tầm đón nhận của người đọc. Nói chung nữ giới thích những câu chuyện tình cảm tinh tế, còn nam giới lại thích những câu chuyện phấn đấu thành công trong lập nghiệp" [6; tr.56].

Cho đến nay, đã có không ít công trình chuyên sâu bàn đến đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh trong nhà trường phổ thông với những kiến giải đa chiều, thấu đạt [xem 1, 3, 4, 5, 10]. Tựu trung lại, ý kiến có tính nhất quán là: phải xem học sinh là bạn đọc sáng tạo. Dù dành nhiều tâm sức cho việc khái quát cũng như đề xuất hướng tiếp cận phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận của học sinh, nhưng tiếp nhận văn học của người học dưới góc nhìn giới vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Các tác giả chưa dành sự quan tâm đúng mực cho đặc trưng, hiệu quả của hoạt động dạy học văn xét trong tương quan với những biểu hiện đa dạng, phong phú về giới tính của người học – một đối tượng tiếp nhận văn học đặc thù.

Dung lượng bài viết không cho phép chúng tôi trình bày đặc điểm tiếp nhận văn học của học sinh cả ba cấp học từ sự chi phối của tâm – sinh lí, nhận thức, tình cảm, năng lực cảm thụ... mang đặc trưng từng giới tính. Kết quả khảo sát ngữ liệu dạy học là một minh chứng cho thấy có sự tác động của giới trong hoạt động dạy học văn của cả thầy và trò. Ở đây, người viết chỉ dừng lại ở một điều tra nhỏ trên đối tượng học sinh Trung học phổ thông – lứa tuổi “tổng hợp” rất đặc biệt về phát triển thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ nói trên. Việc khảo sát những văn bản nghệ thuật được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông đảm bảo những chỉ số đo mang tính giả định sau đây:

-       HS nữ thuận lợi trong tiếp nhận

-       HS nam thuận lợi trong tiếp nhận

-       Cả hai giới nam nữ đều thuận lợi trong tiếp nhận

Văn bản

page1003image2817216Học sinh nữ thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nam thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nữ và học sinh nam đều thuận lợi trong tiếp nhận

Chiến thắng Mtao Mxây (trích sử thi Đăm San)

page1003image2814720

X


Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

page1003image2813376


X

Uy-lit-xơ trở về (trích Ô-đi-xê)



X

 

Văn bản

Học sinh nữ thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nam thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nữ và học sinh nam đều thuận lợi trong tiếp nhận

Ra-ma buộc tội



X

Tấm Cám



X

Tam đại con gà



X

Nhưng nó phải bằng hai mày



X

Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)


X


Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão)

X



Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)



X

Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)



X

Đọc “Tiểu Thanh Kí” (Nguyễn Du)

X



Đọc thêm: Vận nước (Đỗ Pháp Thuận); Cáo bệnh, bảo mọi người (Mãn Giác); Hứng trở về (Nguyễn Trung Ngạn)



X

Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lí Bạch)


X


Cảm xúc mùa thu (Đỗ Phủ)

page1004image3108096


X

Đọc thêm: Nỗi oán của người phòng khuê (Vương Xương Linh);

X

page1004image14294528



Đọc thêm: Lầu Hoàng Hạc (Thôi Hiệu); Khe chim kêu (Vương Duy)



X

Thơ Hai-kư của Ba-sô (bài 1, 2, 3, 6)

page1004image3097728


X

Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu)



X

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ)

page1004image3130880


X

Hồi trống Cổ thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa – La Quán Trung) Đọc thêm: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng (Trích Tam Quốc diễn nghĩa – La Quán Trung)


X


Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm (?))

X



Trao duyên (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

page1004image2914944X

page1004image3021184



Nỗi thương mình; Thề nguyền (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

X



Chí khí anh hùng (Truyện Kiều – Nguyễn Du)


X


 

Văn bản

Học sinh nữ thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nam thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nữ và học sinh nam đều thuận lợi trong tiếp nhận

Vào phủ chúa Trịnh (Lê Hữu Trác)



X

Tự tình II (Hồ Xuân Hương)

X



Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)



X

Thương vợ (Trần Tế Xương)


X


Đọc thêm: Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến); Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương)



X

Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ)


X


Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)


X


Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)



X

Đọc thêm: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu), Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)



X

Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

page1005image14404032


X

Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)



X

Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)



X

Chí Phèo (Nam Cao)

page1005image2961408page1005image2962368


X

Đọc thêm: Cha con nghĩa nặng (Hồ Biểu Chánh); Vi hành (Nguyễn Ái Quốc); Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan)



X

Vĩnh biệt Cửu trùng đài (Trích Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)

page1005image2671552


X

Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu- li-et - Sếch-xpia)

page1005image2677120


X

Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

page1005image2679616

X


Hầu trời (Tản Đà)

page1005image2673664page1005image2676352


X

Vội vàng (Xuân Diệu)



X

Tràng giang (Huy Cận)

page1005image2681728


X

Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

page1005image2965056


X

Chiều tối (Hồ Chí Minh)



X

Từ ấy (Tố Hữu)

page1005image14294912


X

Tương tư (Nguyễn Bính)


X


Đọc thêm: Lai tân (Hồ Chí Minh); Nhớ đồng (Tố Hữu); Chiều xuân (Anh Thơ)



X

Văn bản

Học sinh nữ thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nam thuận lợi trong tiếp nhận

Học sinh nữ và học sinh nam đều thuận lợi trong tiếp nhận

Tôi yêu em (Pu- skin)


X


Đọc thêm: Bài thơ số 28 (Ta- go)


X


Người trong bao (Sê- khốp)



X

Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích Những người khốn khổ - V. Huy- gô)



X

Tây Tiến (Quang Dũng)


X


Việt Bắc (Tố Hữ)



X

Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm), Đọc thêm: Đất nước (Nguyễn Đình Thi)



X

Đọc thêm: Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Đò lèn (Nguyễn Duy)



 

X

Sóng (Xuân Quỳnh)

Xpage1006image2774464



Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo); Đọc thêm: Bác ơi! (Tố Hữu), Tự do



X

Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

page1006image2788736


X

Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)



X

Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)



X

Vợ nhặt (Kim Lân)



X

Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)


X


Đọc thêm: Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)



X

Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)



X

Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

page1006image14336000X



Thuốc (Lỗ Tấn)

page1006image2755008


X

Số phận con người (Sô-lô-khốp)

page1006image2767680


X

Ông già và biển cả (Hê-ming-uê)

page1006image2757504page1006image2768064


X

Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)



X

Kết quả khảo sát cho thấy, đặc điểm giới tính đã chi phối trực tiếp đến quá trình cảm thụ, tiếp nhận văn học của học sinh. Những văn bản mà học sinh nam cảm nhận tốt hơn là những văn bản đề cập trực tiếp đến lí tưởng của người con trai trong xã hội như: đoạn trích Chiến thắng Mtao – Mxây (Trích Sử thi Đam Săn), Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du, Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ, Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) của Cao Bá Quát, phẩm chất trung nghĩa, yêu nước trong các văn bản như: đoạn trích Hồi trống cổ thành - Trích Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Những tác phẩm thể hiện những giằng xé khi yêu, tâm trạng nhớ nhung trong tình yêu của nhân vật trữ tình nam cũng tạo được những hiệu ứng tâm lí đối với nam học sinh hơn so với nữ học sinh bởi lẽ các em đồng cảm bởi những phản ứng tâm lí "tương đồng" như: Tương tư của Nguyễn Bính, Tôi yêu em của Pus-kin, Bài thơ số 28 của Ta-go... Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương, học sinh nam tiếp nhận thuận lợi hơn phái nữ bởi lẽ đây là tâm trạng của người chồng khi "tự vấn" mình đồng thời cũng là những đồng cảm sâu sắc trước sự hi sinh của người vợ.

Ngược lại, những tác phẩm mà nhiều học sinh nữ quan tâm thường đi sâu phản ánh những bi kịch trong đời sống của người phụ nữ. Đó là những bi kịch thân phận trong những bài ca dao than thân của nữ giới trong xã hội phong kiến xưa, sự cô lẻ vì chồng phải đi chinh chiến phương xa trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm (?), tâm trạng tiếc nuối tuổi xuân qua mau và tình duyên không trọn vẹn trong bài Tự tình của Hồ Xuân Hương, bi kịch tài mệnh tương đố của người phụ nữ trong Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) của Nguyễn Du, những giằng xé đớn đau của nàng Kiều khi phải trao duyên cho Thúy Vân trong đoạn trích Trao Duyên (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du, bi kịch về cuộc đời của người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhịn vì con trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, quan niệm về tình yêu, thời gian, tuổi trẻ của người phụ nữ đang yêu trong Sóng của Xuân Quỳnh,...

Đặc biệt có những văn bản, khi tìm hiểu tâm trạng của từng nhân vật thì nam học sinh hoặc nữ học sinh lại có những ưu thế riêng. Nam sinh có xu hướng đồng cảm với những diễn biến tâm lí của nam nhân vật; ngược lại nữ sinh lại có những đồng điệu với tâm trạng của nữ nhân vật hơn. Uy-lit-xơ trở về (trích Sử thi Ô-đi-xê), Rama buột tội (trích Sử thi Ramayana), Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu-li-et của Sếch-xpia)... là những minh chứng cho lối tiếp nhận mang tính chất “lưỡng giới phân hợp” này.

3. Giới với cách thức dạy học văn ở trường phổ thông

Văn học trong nhà trường phổ thông nói chung, thơ văn liên quan đến giới nói riêng, tự bản thân chúng đã có một ý nghĩa giáo dục rất lớn, hơn rất nhiều so với những lời giáo huấn khô khan, khiên cưỡng. Khai thác những nội dạy học gắn với vấn đề nhạy cảm này sao cho phát huy hết sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm mà vẫn giữ nguyên vẻ đẹp của nó, không gượng, không thô, không phi sư phạm... là công việc không hề đơn giản, đòi hỏi rất lớn ở tài năng, tâm huyết, trách nhiệm, sự tinh tế, linh hoạt sự của mỗi thầy cô giáo.

Ở cấp Tiểu học, do các em rất dễ làm theo, dễ bắt chước khi tiếp nhận sáng tác nghệ thuật, để bồi dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh, nâng cao trí tuệ, nhận thức cho học sinh, bên cạnh việc chú trọng tính vừa sức, tính tích hợp trong phân tích tác phẩm (dạy tiếng Việt với dạy văn, giảng dạy gắn với giáo dục), giáo viên cần đề cao nguyên tắc gắn văn học với đời sống khi truyền thụ những kiến thức về ngôn ngữ, văn chương thông qua các ngữ liệu liên quan đến giới. Những tình huống, liên hệ gần gũi, đời thường sẽ giúp trẻ hiểu về bản thân và bè bạn; tâm sinh lí, nhận thức của các em cũng sẽ phát triển tự nhiên, đúng đắn hơn nhờ sự hướng dẫn của thầy cô giáo. Gắn văn học với đời sống chính là thực hiện đúng nguyên tắc “dạy văn – dạy người”, phát huy có hiệu quả chức năng nhận thức và giáo dục của văn học, khiến quá trình dạy học không chỉ nhẹ nhàng, tự nhiên mà còn tế nhị, sâu sắc, được các em hiểu kĩ và nhớ lâu.

Ở Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, học sinh đã có nhận thức cao hơn về vấn đề giới. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần khéo léo điều chỉnh, biến đổi hệ thống câu hỏi, bài tập cho tương thích với đối tượng học sinh nam hoặc nữ khi tiếp cận những văn bản phù hợp với lợi thế của các em. Với dạng bài tập hóa thân nhân vật, thầy cô cần cẩn trọng trong việc chọn vai để học sinh thể nghiệm. Không thể có một đề bài chung cho cả lớp, bởi nữ sinh sẽ dễ dàng hóa thân vào nhân vật nữ trong tác phẩm, ngược lại nam sinh sẽ có sự đồng cảm sâu sắc hơn khi được nhập vai nhân vật nam. Khi khai thác những bình diện nội dung của văn bản, giáo viên nên nghiên cứu kĩ yếu tố giới để có định hướng khai thác văn bản phù hợp với đặc điểm về phái tính của học sinh. Công việc này là cả một quá trình suy tư nghiêm túc, cẩn trọng của người giảng dạy Ngữ văn.

Có một thực tế dễ nhận thấy hiện nay là trong một lớp học, số lượng học sinh nữ yêu thích môn Ngữ văn cao hơn học sinh nam rất nhiều. Ngoài sự chi phối của thiên hướng chọn ngành nghề, học sinh nam thường không mặn mà với môn học này vì định kiến rằng văn chương thường gắn với sự nhạy cảm, lãng mạn (thậm chí yếu đuối) không thích hợp với tính cách, bản lĩnh nam giới. Giáo viên cần có sự khai thông tâm lí cho học sinh ngay buổi học đầu tiên để các em nhận thức rằng năng lực cảm thụ văn học của hai giới là như nhau. Môn Ngữ văn không chỉ cần sự nhạy cảm, lãng mạn mà nó còn đòi hỏi tư duy logic, sự nhạy cảm về ngôn ngữ, những trải nghiệm sâu sắc trong cuộc sống, trong tâm tư tình cảm con người. Bên cạnh năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, môn học này hướng tới sự hình thành nhân cách của người học, cả nam lẫn nữ. Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để nam sinh tham gia tích cực vào "cuộc giao tiếp” văn học, như thế mới có thể tạo nên sự đồng bộ của lớp học trong việc tiếp nhận văn bản nghệ thuật.

Góc nhìn về giới đòi hỏi giáo viên cần linh hoạt khai thác nội dung bài học, sử dụng phương pháp dạy học cho phù hợp với đặc điểm phái tính của học sinh từng cấp học, từng khu vực, vùng miền. Cụ thể, khi phát vấn, thầy cô nên tùy chỉnh câu hỏi, cùng với đó là các hoạt động, cách thức truyền thụ hướng đến học sinh nam, học sinh nữ hay cả hai đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận của người học nói riêng, chất lượng dạy học văn nói chung.

Chẳng hạn, với bài Con gái (Tiếng Việt 5, tập 2), thầy cô có thể thay đổi nội dung hai câu hỏi (1) và (4) thành:

1. Những chi tiết nào trong bài cho thấy nơi Mơ ở vẫn còn tư tưởng xem thường con gái?

4. Qua bài học này, em muốn nhắn gởi điều gì đến bạn bè và người thân (ba mẹ, ông bà,...) của mình?

Tình trạng “nam tôn nữ ti” dẫu bây giờ không còn gay gắt, lệch lạc như trước, nhưng đâu phải chỉ còn ở “làng quê”, nó vẫn tồn tại ở những thành phố trung tâm của cả nước. Điều chỉnh câu hỏi 1, tính phổ biến sẽ rộng hơn, hiệu quả giáo dục về bình đẳng nam nữ sẽ cao hơn. Với câu 4, tùy theo giới tính, hoàn cảnh, các em sẽ có những trao gởi, tâm sự riêng với bè bạn, gia đình mình. Cách trả lời cũng mang tính cá nhân, cụ thể, không mơ hồ, chung chung như yêu cầu của sách giáo khoa (“có suy nghĩ gì”). Năng lực của học sinh cũng được phát huy, nâng cao hơn, đúng với quan điểm, tinh thần dạy học tích cực hơn.

Với bài Bức tranh của em gái tôi (Ngữ văn 6), sách giáo viên không có hướng dẫn hoạt động cảm nhận về nhân vật người anh trai, mà chỉ đặt ra yêu cầu đối với nhân vật cô em gái. Điều này thiếu công bằng trên quan điểm về giới, bởi trong truyện người anh là nhân vật trung tâm, giữ vai trò người kể chuyện, gây ấn tượng mạnh, ngang bằng, thậm chí hơn cả cô em Mèo – Kiều Phương. Chú trọng vấn đề đó, thầy cô sẽ dễ dàng tổ chức các hoạt động dạy học trên quan điểm, tình cảm của mỗi giới, có thể tiến hành đối sánh sản phẩm từ bài tập cá nhân, bài tập nhóm của học sinh nam và học sinh nữ. Trẻ được thể hiện chính kiến, bộc lộ phẩm chất, năng lực thẩm mĩ bằng chính suy nghĩ, lời nói thể hiện rõ cá tính và sự sáng tạo của mình. Mục tiêu hình thành thái độ và ứng xử đúng đắn, biết thắng được sự ghen tị trước tài năng, thành công của người khác cũng được tất cả các em trải nghiệm để khắc sâu và vận dụng vào đời sống.

Khi giảng dạy bài Tỏ lòng (Thuật hoài, Ngữ văn 10) của Phạm Ngũ Lão, với học sinh nam, giáo viên có thể hỏi: Qua những lời thơ tỏ lòng, em thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì đối với em trong cuộc sống hôm nay? Với học sinh nữ, thầy cô phát vấn theo cách khác: Qua những lời thơ tỏ lòng, em thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Trong xã hội ngày nay, theo em, một người con trai lí tưởng sẽ là người con trai hội tụ những phẩm chất gì?

Với văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, khi khai thác, giáo viên cần đặc biệt chú ý những yếu tố tác động đến tâm lí người học. Hiện tượng bạo hành không phải là điều quá lạ lẫm trong gia đình của nhiều học sinh hiện nay. Tiếp cận nhân vật người đàn bà hàng chài, thầy cô cần phải khéo léo, không nên sa đà tìm hiểu sự chịu đựng đến nhu nhược ở con người này, mà cần phải khai thác sâu các phẩm cách đáng quý khác như: yêu thương con, thấu hiểu lễ đời, trân trọng những hạnh phúc bình dị... của người phụ nữ ấy. Những điều này thường tác động mạnh đến tâm tư tình cảm của học sinh nữ.

Khi giảng dạy những văn bản đề cập đến tình yêu đôi lứa như đoạn trích Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu-li-et của Sếch-xpia), Tôi yêu em của Pus-kin, Bài thơ số 28 của Ta-go, giáo viên cần chú ý đến đặc điểm "giới" trong việc hướng dẫn học sinh khai thác văn bản. Cùng là diễn biến tâm lí của nhân vật đang yêu, nhưng quan niệm của mỗi giới về việc biểu lộ tình yêu cũng rất khác nhau. Điều đó đã được nhà thơ, nhà văn khắc họa một cách sâu sắc. Khi định hướng học sinh tiếp cận văn bản, mặc dù cùng một vấn đề nhưng giáo viên cũng nên điều chỉnh câu hỏi phù hợp với "giới" của các em. Từ góc nhìn riêng mang đặc trưng của "giới", người học sẽ có những đồng cảm ở mức độ nông sâu khác nhau.

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có những chi tiết nhỏ nhưng nếu được khai thác ở góc độ "giới" sẽ gia tăng sự hứng thú học tập cho học sinh. Ví dụ: giáo viên có thể đưa ra vấn đề thảo luận: Khi nhớ về người Tây Bắc, nhân vật trữ tình thường chú ý đến nhân vật "em", "nàng":

- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

- Khèn lên man điệu nàng e ấp

Phải chăng vì người lính Tây Tiến là những chàng thanh niên Hà Thành lãng mạn và hào hoa. Chính đặc điểm về giới ấy đã chi phối cái nhìn, cách cảm của họ về thiên nhiên và con người.

Với dạng bài tập hóa thân vào nhân vật (văn tự sự tưởng tượng), không thể có một đề bài chung cho cả lớp. Ví dụ: Hãy hóa thân vào nhân vật Đăm săn kể lại hành trình chiến thắng Mtao-mxây; hay: Hãy tưởng tượng mình là Tấm, kể lại những lần hóa thân... Bởi lẽ, muốn học sinh có thể thâm nhập tốt vào nhân vật, qua đó tái hiện những diễn biến nội tâm của họ, nên chăng giáo viên cần để nam sinh hóa thân vào nhân vật nam, nữ sinh hóa thân vào nhân vật nữ để tưởng tượng và kể chuyện bằng chính lời nói, cảm nghĩ, hành động... của nhân vật.

Trong xu hướng đổi mới, giờ dạy Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay có hoạt động vận dụng nhằm giúp học sinh thực tiễn hóa các kiến thức, kĩ năng đã học, phát hiện và giải quyết các tình huống, vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương. Giáo viên nên gợi ý học sinh về những hoạt động, sự vật, hiện tượng cần quan sát trong cuộc sống hằng ngày, mô tả yêu cầu về sản phẩm mà các em cần hoàn thành để họ quan tâm thực hiện. Người dạy cần cân nhắc nhiệm vụ học tập cụ thể cho đối tượng học sinh nam và nữ phải khác nhau (đối với những văn bản mà giới này hoặc giới kia có ưu thế trong việc tiếp cận); luôn khuyến khích người học trao đổi, tranh luận, đặt câu hỏi cho mình và cho người khác; khơi gợi, vận dụng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh về vấn đề đang học, từ đó tìm hiểu, khám phá để tự mình bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện những hiểu biết ấy.

4. Lời kết

Giáo dục trẻ bằng văn học là con đường sát hợp, hiệu quả. Đây là vinh dự đồng thời cũng là trọng trách của môn Tiếng Việt, Ngữ văn. Nó đòi hỏi thơ văn được giảng daỵ ở trường phổ thông vừa đảm bảo tính thẩm mĩ của chất liệu văn học, vừa phải có tính khoa học, sư phạm, giáo dục của ngữ liệu dạy học. Sáng tác văn học liên quan đến vấn đề giới được đưa vào chương trình, sách giáo khoa cũng không là ngoại lệ. Tích hợp dạy học, giáo dục nội dung này có vai trò không nhỏ trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết, tốt đẹp để sống, làm việc và không ngừng hoàn thiện bản thân.

Không còn nghi ngờ gì nữa, nhãn quan giới là một yếu tính chi phối đến nhiều nhân tố của quá trình dạy học văn ở trường phổ thông Việt Nam hiện tại và tương lai. Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ có những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục ở các cấp học này. Đây cũng là cơ sở đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học để giáo dục nước nhà đảm bảo tính hiện đại, nhân văn trong thời đại ngày nay.

 

Tài liệu tham khảo

1.    [1]  Hoàng Hòa Bình (2000), Dạy văn cho học sinh tiểu học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000.

2.    [2]  Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, Hà Nội.

3.    [3]  Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tiếp cận văn học, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4.    [4]  Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

5.    [5]  Phan Trọng Luận (2003), Văn chương – Bạn đọc sáng tạo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

6.    [6]  Phương Lựu (1999), Giáo trình Tiếp nhận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

7.    [7]  Nhiều tác giả (2018), Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5 (Sách giáo khoa, Sách giáo viên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

8.    [8]  Nhiều tác giả (2018), Ngữ văn 6, 7, 8, 9 (Sách giáo khoa, Sách giáo viên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9.    [9]  Nhiều tác giả (2018), Ngữ văn 10, 11, 12 (Sách giáo khoa, Sách giáo viên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

10. [10]  Phạm Toàn (2006), Công nghệ dạy văn, Nxb. Lao Động, Hà Nội.

Chú thích

1 PGS.TS. Bùi Thanh Truyền, Khoa Ngữ văn -Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Email: truyen_bui2000@yahoo.com

2 ThS. Trầm Thanh Tuấn, Trường THPT Long Hiệp, Trà Cú, Trà Vinh. Email: caotramtuan198456@gmail.com.vn

 ------

Bài viết được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn học và Giới, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 10/2019

 

 


Bài khác