Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
GIÁO DỤC VỀ GIỚI VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
Giới và bình đẳng giới là vấn đề có tính toàn cầu. Nhà trường các nước đều quan tâm giáo dục về giới và bình đẳng giới cho học sinh. Báo cáo này tập trung phân tích các nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới trong chương trình, sách giáo khoa môn Ngữ Văn hiện hành của trường phổ thông Việt Nam. Báo cáo cũng phân tích rõ nguyên nhân, các ưu và nhược điểm, hạn chế của chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành xoay quanh nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới. Từ các kinh nghiệm lồng ghép nội dung giáo dục giới và bình đẳng giới trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành, các tác giả báo cáo đề xuất các giải pháp để tích hợp các nội dung giáo dục về giới và bình đẳng đẳng giới vào sách giáo khoa Ngữ văn đang được biên soạn theo chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành vào cuối năm 2018.

GIÁO DỤC VỀ GIỚI VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

Nguyễn Trí1 - Nguyễn Thị Quốc Minh2

Tóm tắt: Giới và bình đẳng giới là vấn đề có tính toàn cầu. Nhà trường các nước đều quan tâm giáo dục về giới và bình đẳng giới cho học sinh. Báo cáo này tập trung phân tích các nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới trong chương trình, sách giáo khoa môn Ngữ Văn hiện hành của trường phổ thông Việt Nam. Báo cáo cũng phân tích rõ nguyên nhân, các ưu và nhược điểm, hạn chế của chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành xoay quanh nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới. Từ các kinh nghiệm lồng ghép nội dung giáo dục giới và bình đẳng giới trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành, các tác giả báo cáo đề xuất các giải pháp để tích hợp các nội dung giáo dục về giới và bình đẳng đẳng giới vào sách giáo khoa Ngữ văn đang được biên soạn theo chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành vào cuối năm 2018.

Từ khóa: bình đẳng giới, giáo dục về giới, giáo dục giới tính trong chương trình Ngữ văn

1. Giáo dục về giới và bình đẳng giới trong nhà trường

Giới và bình đẳng giới là vấn đề xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Kinh thánh của đạo Thiên Chúa đã nói tới sự xuất hiện của hai giới qua sự tích sinh ra hai người đầu tiên: A đam và Eva. Thần thoại Việt Nam giải thích về nguồn gốc của dân tộc Việt đã nhắc đến mối tình của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Kể từ xa xưa đó, vấn đề quan hệ giữa hai giới nam và nữ đã được đặt ra và loài người đi tìm câu trả lời tối ưu cho mối quan hệ đó trong tâm thức và trong xã hội.

Người ta phân biệt giới và giới tính. Giới tính là phân biệt sự khác biệt về sinh học giữa giới nam và giới nữ, những đặc điểm sinh ra đã có và không thể thay đổi được. Còn giới là một phạm trù xã hội, nảy sinh trong cuộc sống xã hội, chỉ các quan niệm về vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ từ đó xác định các đặc điểm khác nhau giữa hai giới. Do vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được.

Khoa học về giới đã hình thành từ lâu trên thế giới. Ở Việt Nam, khoa học này mới hình thành khoảng 30 năm trở lại đây, trước tiên trong các trường đại học thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn, báo chí tuyên truyền. Ở đại học, học phần về giới có thời lượng khoảng 2 -3 học trình (30t – 45t). Khoa học về giới quan tâm đến nhiều nội dung khác nhau như quan hệ giới, vai trò giới, nhạy cảm giới, trách nhiệm giới, phân công lao động trên cơ sở giới, bình đẳng giới... Xã hội văn minh quan tâm vấn đề giới tập trung vào việc chống các quan niệm lệch lạc, bất bình đẳng, lạc hậu, cổ hủ về giới, đánh giá thấp, coi thường vai trò phụ nữ so với nam giới. Giáo dục về giới nhằm giáo dục học sinh đấu tranh chống các định kiến về giới, chống bất bình đẳng giới, khẳng định vai trò, năng lực, phẩm chất của phụ nữ, tạo cho phụ nữ vị thế, công việc, giá trị bình đẳng với nam giới, coi bình đẳng giới trở thành một tiêu chí phải có của một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong nhà trường phổ thông, việc giáo dục về giới hiện nay chưa nhằm nghiên cứu các nội dung của khoa học về giới mà nhằm xây dựng các hiểu biết và xác định một thái độ sống coi trọng bình đẳng nam nữ, đề cao và tạo điều kiện phát huy vai trò của phụ nữ, của nữ sinh.

2. Kinh nghiệm tích hợp các nội dung khác nhau vào môn Ngữ Văn ở phổ thông

Nhà trường phổ thông Việt Nam, nhiều năm qua đã thực hiện tích hợp nhiều nội dung kiến thức khác nhau (môi trường, dân số, phòng chống AIDS, an toàn giao thông, bảo vệ hòa bình...) vào nội dung các môn học Giáo dục công dân, lịch sử, Sinh học... Sách giáo khoa Ngữ văn cũng không là ngoại lệ.

Sách giáo khoa Ngữ văn thực hiện việc tích hợp các nội dung kiến thức khác nhau chủ yếu theo hai loại bài học: đọc hiểu và làm văn (tiểu học còn thêm kể chuyện). Các loại bài học khác nhau như từ ngữ, ngữ pháp, chính tả... khả năng tích hợp cũng có nhưng ít hơn và thấp hơn.

Việc tích hợp các nội dung kiến thức khác vào bài đọc hiểu phụ thuộc trước tiên vào đặc điểm kiểu phong cách biểu đạt của văn bản. Các văn bản nghệ thuật và các văn bản phi nghệ thuật có cách tích hợp khác nhau. Có thể nói tới hai kiểu tích hợp đối với văn bản phi nghệ thuật tức văn bản thuộc các kiểu phong cách biểu đạt như: chính luận, thuyết minh, khoa học, biểu cảm...

Thứ nhất, đưa các nội dung cần tích hợp thành nội dung bài dạy đọc hiểu thuộc các phong cách biểu đạt kể trên. Đó là cách làm của Sách Tiếng Việt với các bài đọc hiểu Nghìn năm Văn hiến (lớp 5); Trống đồng Đông Sơn (lớp 4)... Đó là cách làm của sách Ngữ Văn với các bài đọc hiểu Ôn dịch thuốc lá, Bài toán về dân số (lớp 8); Tuyên bố thế giới về sự sống còn, Quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em, Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, Bàn về sự học... (lớp 9); Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (lớp 11). Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1/12/2003, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (lớp 12), xu thế của kiểu tích hợp này là nhà sư phạm có thể cung cấp cho cả thầy và trò các hiểu biết tương đối trọn vẹn về một nội dung cụ thể của các kiến thức cần tích hợp. Nhờ đó kiến thức tích hợp dễ gây ấn tượng với người học.

Thứ hai, là xuất phát từ nội dung bài đọc hiểu đang học nhưng có điều kiện mở rộng, liên hệ tới các kiến thức cần tích hợp. Sau đây là một ví dụ. Tiếng Việt lớp 5 có bài Những con sếu bằng giấy. Bài văn kể lại câu chuyện em bé Xa – xa – cô Xa – xa – ki, 12 tuổi, bị bệnh nặng vì nhiễm phóng xạ do quả bom nguyên tử ném xuống Hi – rô – si – ma năm 1945. Em tin rằng nếu gấp đủ 1000 con sếu bằng giấy sẽ thoát nạn. Em mải miết gấp nhưng chỉ được 644 con thì chết. Để tưởng nhớ em và những nạn nhân bị bom nguyên tử người ta đã xây dựng tượng đài một bé gái giơ cao cánh tay nâng một con sếu với dòng chữ khắc bên dưới “Chúng tôi muốn thế giới này mãi mãi hòa bình”. Nội dung bài đọc hiểu cho phép người dạy và người học liên hệ một cách tự nhiên không gượng ép tới cuộc đấu tranh bài trừ vũ khí hạt nhân hiện nay. Ưu thế của kiểu tích hợp thứ hai là không cần thêm kiến thức vào bài học trong sách giáo khoa nhưng trên lớp, thày cô giáo vẫn có thể mở rộng, liên hệ, cập nhật các kiến thức cần thiết vào bài dạy. Để sử dụng có hiệu quả kiểu tích hợp thứ hai, điều quan trọng nhất là tìm ra mối liên hệ tự nhiên, không gượng ép, gò bó giữa kiến thức bài dạy với kiến thức tích hợp. Chỉ có như vậy mới để lại ấn tượng sâu đậm trong nhận thức học sinh. Phương châm ở đây là coi trọng tinh thần quý hồ tinh bất quý hồ đa khi tích hợp. Bởi nếu tích hợp một cách tràn lan, sống sượng, gượng ép, thô kệch sẽ gây ra phản tác dụng ở người học.

Các bài đọc hiểu văn bản nghệ thuật có nhiều thuận lợi khi tích hợp các kiến thức khác nhau. Bản thân chủ đề tác phẩm, ý nghĩa và giá trị của hình tượng văn học đã ít nhiều liên quan tới các kiến thức cần tích hợp. Vì thế việc mở rộng, nâng cao giá trị nội dung tư tưởng các tác phẩm này phụ thuộc vào ý thức, vào ý đồ, mong muốn của người dạy. Bản thân bài thơ và hình tượng người con gái Nga trong trích đoạn bài thơ Tiếng đàn Ba- la – lai – ca (lớp 5) đã hàm chứa tình đoàn kết giữa hai dân tộc Nga Việt. Từ đó, khi dạy giáo viên mở rộng ra nói về tình hữu nghị giữa các dân tộc thì rất tự nhiên, nâng thêm giá trị của bài thơ và hình ảnh thơ. Các kiểu tích hợp trên có thể vận dụng để đưa nội dung giới vào các bài đọc hiểu môn Tiếng Việt và Ngữ Văn.

Ngoài các bài đọc hiểu, các bài làm văn cũng có khả năng tích hợp nhiều nội dung khác nhau vào bài làm của học sinh. Giáo viên có thể ra đề bài làm văn (đề nghị luận chính trị xã hội, đề làm bài văn biểu cảm...) có nội dung liên quan đến các kiến thức cần tích hợp. Đề có thể yêu cầu học sinh bàn luận về bảo vệ môi trường, về an toàn giao thông... yêu cầu học sinh bày tỏ cảm xúc, cảm nghĩ về một hình tượng phụ nữ trong văn học để đưa đến các nhận thức đề cao hay cảm thông... với số phận người phụ nữ, hướng tới sự bình đẳng giới...

Như vậy, trên cả hai phương diện, dạy tiếp nhận và dạy sản sinh văn bản, môn Ngữ văn đều có khả năng tích hợp nhiều nội dung khác nhau trong đó có nội dung về giới và bình đẳng giới.

3. Nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình và sách giáo khoa ngữ văn hiện hành

Dựa trên các kết quả khảo sát thực tế chương trình và toàn bộ sách giáo khoa môn Tiếng Việt (ở tiểu học), môn ngữ văn (ở cấp THCS, cấp THPT) hiện hành, nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình và sách giáo khoa môn ngữ văn ở phổ thông có các đặc điểm sau:

3.1. Nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình ngữ văn hiện hành

Chương trình môn ngữ văn hiện hành (tức chương trình ngữ văn được ban hành từ năm 2006), không đề cập đến nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới dù chỉ trong một từ ngữ. Đây là một hạn chế đáng tiếc cần được khắc phục.

3.2. Nội dung về giới và bình đẳng giới trong các bài đọc hiểu của sách giáo khoa ngữ văn hiện hành

a) Sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học, Ngữ văn ở hai cấp trung học có nhiều nội dung liên quan có thể tích hợp nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới khi giảng dạy. Số lượng bài đọc hiểu sử dụng kiểu tích hợp thứ nhất tức các bài có nội dung trực diện bàn về, nói đến vấn đề giới và bình đẳng giới rất ít. Theo thống kê, duy nhất sách Tiếng Việt ở tiểu học có một chủ điểm và một bài trực diện có nội dung về giới và bình đẳng giới. Đó là chủ điểm nam nữ trong sách Tiếng Việt lớp 5 tập 2 và bài tập đọc Con gái nằm trong chủ điểm này. Chủ điểm nam nữ được học trong 3 tuần, tuần 29, 30, 31 ở học kì 2 lớp 5. Sáu bài đọc hiểu ở 3 tuần này có 1 bài trực diện phê phán sự kì thị đối với trẻ em gái, phê phán quan niệm trọng nam khinh nữ. Sự kì thị được thể hiện qua lời than của dì Hạnh khi mẹ Hoa vừa sinh bé gái thứ hai “lại một vịt giời nữa”3. Câu chuyện đề cao hình ảnh Hoa, một em bé giàu nghị lực, giàu tình thương và khi cần thì sẵn sàng lao xuống ngòi nước cứu bạn. Câu nói của dì Hạnh cũng là câu kết của truyện “Biết cháu tôi chưa? Con gái như nó thì một trăm đứa con trai cũng không bằng”4 là một lời cổ vũ, lời ngợi ca bé Hoa nhưng cũng là lời ngợi ca người phụ nữ. Khẳng định sự bình đẳng của bé Hoa với các bạn nam khác. Sở dĩ chúng tôi dài dòng như vậy vì đây là một điểm sáng duy nhất trong sách giáo khoa Tiếng Việt, và sách giáo khoa Ngữ văn khi đề cập thực hiện nội dung giới và bình đẳng giới. Năm bài đọc hiểu còn lại của chủ điểm nam, nữ đều hoặc đề cao phẩm chất, năng lực, vẻ đẹp người phụ nữ (như bài Thuần phục sư tử, bài Tà áo dài Việt Nam, bài Công việc đầu tiên) hoặc thể hiện tình cảm yêu mến mẹ (bài Bầu ơi), đề cao tình bạn trong sáng, sẵn sàng hi sinh để cứu bạn gái (bài Một vụ đắm tàu)... Tóm lại cả 5 bài đều có liên quan xa, gần, ít, nhiều với chủ đề giới và bình đẳng giới.

b) Các nhận xét liên quan tới chủ đề giới và bình đẳng giới trong các bài đọc hiểu môn Ngữ Văn hiện hành:

- Đề cao, ca ngợi vai trò, phẩm chất, năng lực tình cảm, công lao... của người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội đối với con cái, công việc, bè bạn: Sự đề cao này đặt trong bối cảnh một nước phương đông còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhất nâm viết hữu, thập nữ viết vô là tuyên ngôn chống lại quan niệm lỗi thời này, khẳng định vị trí bình đẳng của người phụ nữ. Từ lớp 1 đến lớp 12, lớp nào cũng có nhiều bài văn trích, tác phẩm văn học tuyển chọn đề cao vài trò phẩm chất, năng lực người phụ nữ như các bài: Sáng kiến của bé Hà, Cô giáo lớp em... (lớp 2), Cô giáo tí hon, Người mẹ, Chõ bánh khúc của dì tôi.... (lớp 3). Tiếng đàn Ba-la-lai-ca, Con gái... (lớp 5), Quan âm Thị Kính, Mẹ hiền dạy con... (lớp 6), Mẹ tôi, Cổng trường mở ra... (lớp 7).

- Ca ngợi người phụ nữ trong lịch sử giải phóng dân tộc trong cuộc đấu tranh cách mạng chống đế quốc, phong kiến: Các bài đọc hiểu theo chủ đề này một lần nữa đề cao ý chí và tinh thần quật cường của người phụ nữ, một lần nữa khẳng định vị trí bình đẳng của họ trong cuộc đấu tranh cho dân tộc đồng thời có ý nghĩa đấu tranh cho sự bình đẳng giới. Có thể kể đến các tác phẩm đọc hiểu như Hai Bà Trưng (lớp 3), Bắc Sơn (lớp 9), Vợ chồng A Phủ (lớp 11) ....

- Tỏ sự cảm thông với nối khổ, nỗi buồn, thân phận nhỏ bé, bị đầy đọa của người phụ nữ trong chế độ phong kiến ngày xưa: như bài Vợ nhặt (lớp 12), Kiều ở lầu Ngưng Bích (lớp 9), Những câu hát than thân (lớp 7), Sau phút chia li (lớp 7), Bánh trôi nước (lớp 7)... Những sự cảm thông giàu lòng nhân đạo đó gợi lên trong người đọc biết bao tình cảm mến thương, trân trọng cuộc đời và số phận những người phụ nữ nghèo khổ, thêm mong muốn thay đổi trong cuộc đời họ, những xúc cảm rất cần đề cao trong cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng giới.

- Ca ngợi, biểu dương những cử chỉ, hành động tình cảm mến thương, bảo vệ người phụ nữ: đó là tình thương con của anh Sáu, người chiến sĩ giải phóng trong Chiếc lược ngà (lớp 9); đó là lời tâm sự cất lên từ gan ruột một người bố răn dạy khi con vỗ lễ với mẹ trong bài Mẹ tôi (trích trong tác phẩm Những tấm lòng cao cả) (lớp 7); đó là hành động cao cả của chàng trai Mariô tình nguyện ở lại nơi con tàu đang đắm để cô bạn đồng hành mới quen Giuliet được sống (lớp 5)... Còn nhiều bài trích, tác phẩm văn học trong các bài đọc hiểu ở sách Tiếng Việt và ngữ văn đã biểu dương, ngợi ca những hành động, cử chỉ cao thượng đối với các nhân vật nữ. Những hình ảnh ấy, những tấm lòng ấy chắc chắn sẽ gieo vào tâm hồn học sinh những mầm non mới nhú hay đã vươn cao của các tình cảm đẹp đối với các bạn gái, các em gái, chị gái, với mẹ, với bà... của các em, của nhận thức về bình đẳng nam nữ, bình đẳng giới.

4. Đề xuất các giải pháp tích hợp nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới vào Sách Ngữ văn đang biên soạn.

4.1. Chương trình Ngữ văn ban hành năm 2018 không quy định các nội dung cần tích hợp vào môn học. Do đó, chương trình cũng không quy định tích hợp nội dung giáo dục giới và bình đẳng giới vào môn Ngữ Văn. Tuy nhiên, chương trình đưa ra khái niệm “hướng mở” như sau: “Chương trình được xây dựng theo hướng mở, thể hiện ở việc không quy định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ quy định những yêu cầu về đọc, viết, nói, nghe theo mỗi lớp, quy định một số kiến thức cơ bản, cốt lõi về tiếng việt, văn học và một số văn bản có vị trí quan trọng của văn học dân tộc là nội dung thống nhất đối với học sinh toàn quốc” [4, tr.5].

“Hướng mở” của chương trình cho phép đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn của các tác giả biên soạn sách. Các cuốn sách giáo khoa có nội dung học tập ra sao, tích hợp những tác phẩm vào văn học nào, tích hợp nội dung kiến thức nào, phương pháp biên soạn sách ra sao... đều tùy thuộc các tác giả sách. Vì thế, điều đầu tiên cần có sự nhắc nhở, “đánh động” với tác giả sách giáo khoa, yêu cầu tác giả chú ý đến các nội dung cần tích hợp vào sách.

4.2. Các tác giả sách giáo khoa cần vận dụng kinh nghiệm quý dạy tích hợp của sách giáo khoa giai đoạn hiện nay vào quá trình biên soạn của mình. Cụ thể:

- Lựa chọn một số văn bản nhất định về giới và bình đẳng giới để đưa vào dạy đọc hiểu các văn bản thuộc phong cách biểu đạt nghị luận, thuyết minh, biểu cảm...

- Lựa chọn một số phù hợp, cân đối các trích đoạn hoặc tác phẩm văn chương đề cập đến chủ đề, đề tài phụ nữ, đề cập đến hình tượng người phụ nữ... để đưa vào dạy đọc hiểu, tạo điều kiện tích hợp nội dung giới và bình đẳng giới.

- Trong suốt cả cấp học phổ thông, cần cho học sinh học một nữ văn sĩ hay thi sĩ. Lí do: bản thân lịch sử văn học nước nhà ở các giai đoạn đều có các nữ tác giả nổi tiếng (Điểm Bích, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Anh Thơ, Xuân Quỳnh... ) học sinh cần biết. Đồng thời phải qua tác phẩm của các nữ tác giả, học sinh mới biết và hiểu đầy đủ về nữ quyền, về các vấn đề giới và bình đẳng giới. Điều này cần được sự đồng tình của các tác giả sách giáo khoa.

- Các tác giả khi biên soạn các phần sư phạm trong sách giáo khoa (phần hướng dẫn học) cần có các hướng dẫn liên hệ, mở rộng kiến thức từ bài học đến các kiến thức cần tích hợp về giới và bình đẳng giới.

- Cần có sự phân chia các kiến thức về giới và bình đẳng giới theo các cấp độ khác nhau có thể tích hợp vào nội dung học môn Ngữ Văn ở từng cấp học. Các nội dung này cần phù hợp với đặc điểm sinh lí, đặc điểm nhận thức của học sinh từng cấp học. Ở cấp tiểu học nên chọn các kiểu hiệu về giới, bình đẳng giới liên quan tới xúc cảm, tình cảm, nhận thức cảm tính của học sinh để tích hợp. Ở các cấp học trên, các kiến thức tích hợp nên thiên về nhận thức lí tính, có tính logic chặt chẽ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    [1]  Bộ Giáo dục và đào tạo, Tiếng Việt (tập 1, 2) lớp 1, 2, 3, 4, 5, NXB Giáo dục Việt Nam.

2.    [2]  Bộ Giáo dục và đào tạo, Ngữ Văn (tập 1, 2) lớp 6, 7, 8, 9, NXB Giáo dục Việt Nam.

3.    [3]  Bộ Giáo dục và đào tạo, Ngữ Văn (tập 1, 2) lớp 10, 11, 12, NXB Giáo dục Việt Nam.

4.    [4]  Bộ Giáo dục và đào tạo, Chương trình ngữ văn 2018, NXB Giáo dục.

5.    [5]  Bùi Thị Hồng Thái, “Đào tạo về giới ở một số trường đại học của Việt Nam”, Tạp chí Tâm lí học (4/2009).

6.    [6]  Nguyễn Văn Tiệp, “Bất bình đẳng giới về cơ hội giáo dục ở Đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ (5/2015).

Chú thích:

1Nguyễn Trí: PGS, TS, Hội CGC Cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo. Email: nguyentri1942@gmail.com
2 Nguyễn Thị Quốc Minh: TS, Khoa Văn Học, Đại học KHXH&NV - ĐHQGTP.HCM. Email: ntquocminh1212@gmail.com

3 Sách Tiếng Việt 5, tập 2, tr.112.

4 Sách Tiếng Việt 5, tập 2, tr.113.


______________

 

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc gia Văn học và giới, khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Huế.


Bài khác