Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
ĐÀN ÔNG VÀ ĐÀN BÀ - NHỮNG CHỦ THỂ ĐƯỢC ĐỊNH GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Trong Văn học Việt Nam sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp được xem là “ông vua truyện ngắn”. Tiểu luận này phân tích cấu trúc giới/quyền lực trong các tác phẩm của ông, chỉ ra tính hai mặt trong thái độ của các chủ thể được định giới đối với giới khác biệt. Tiểu luận này cũng chứng minh rằng cái gọi là thiên tính nữ trong truyện ngắn của ông chỉ là bề mặt còn ở bề sâu âm ỉ dòng ngầm tinh vi của logic phụ quyền.

Nguyễn Văn Thuấn1

Tóm tắt: Trong Văn học Việt Nam sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp được xem là “ông vua truyện ngắn”. Tiểu luận này phân tích cấu trúc giới/quyền lực trong các tác phẩm của ông, chỉ ra tính hai mặt trong thái độ của các chủ thể được định giới đối với giới khác biệt. Tiểu luận này cũng chứng minh rằng cái gọi là thiên tính nữ trong truyện ngắn của ông chỉ là bề mặt còn ở bề sâu âm ỉ dòng ngầm tinh vi của logic phụ quyền.

Từ khóa: giới, nam tính, nữ tính, logic phụ quyền, tính hai mặt, Nguyễn Huy Thiệp

 

1. Mở đầu

Đàn ông/đàn bà (đực/cái, nam/nữ) là hai cổ mẫu lớn, cũng là cặp đối lập nhị nguyên thường trực chi phối tư duy con người. Đàn ông và đàn bà vừa khác biệt vừa tương đồng, vừa phân cách vừa hợp nhất, vừa đối kháng vừa bổ sung, bao giờ cũng tồn tại trong trạng thái liên thuộc như quan hệ giữa âm và dương trong triết học phương Đông, như anima và animus trong quan niệm của C. Jung về tâm thần con người, như hình với bóng theo tri thức thông thường. Nhà phê bình Marxism người Anh T. Eagleton viết rằng, đàn ông chỉ là chính mình khi có đàn bà và ngược lại, người đàn bà cũng không thể xác lập bản sắc độc lập, tự trị khi loại trừ người đàn ông ra khỏi tâm thức mình [3, tr.307]. Nhà triết học người Pháp E. Morin phát biểu: “nam tính là trong nữ tính và ngược lại, xét về các mặt di truyền, giải phẫu, sinh lí, tâm lí, văn hóa” và “mỗi người, nam và nữ, đều mang trong bản thân sự hiện hữu bị kiềm chế hoặc nhiều hoặc ít, mạnh mẽ nhiều hoặc ít của giới kia” [6, tr.123-128]. Thế nhưng, như nhà xã hội học Pháp P. Bourdieu đã phân tích trong công trình Sự thống trị của nam giới [2], mối quan hệ giới/quyền lực giữa đàn ông và đàn bà bị cố định tinh vi trong logic đối kháng, và cấu trúc giới/quyền lực này ngày hôm nay có thể bị mờ nhạt nhưng không dễ/không thể bị phá hủy một cách dễ dàng như các nhà giải cấu trúc đã loan báo. Đọc các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy tính hai mặt trong thái độ của người nam đối với người nữ. Một mặt, các nhân vật nam thường khẳng định, đề cao phẩm chất của phụ nữ, của đàn bà với tư cách người Mẹ, người Vợ; mặt khác có những nhân vật nam thường xuyên bác bỏ, hạ thấp phụ nữ, loại trừ họ. Khi khẳng định, đề cao phụ nữ, nhân vật nam thường tự hạ mình, tự nhận mình yếu đuối, đáng thương, đốn mạt hoặc vô tích sự. Khi hạ thấp phụ nữ và đề cao nam tính của mình, nhân vật nam thường tỏ thái độ ghê sợ mọi biểu hiện nữ tính. Người nam có lúc ra sức chở che, bảo vệ, bênh vực, giúp đỡ người nữ, có lúc lại tìm mọi cách sàm sỡ, quấy rối, xâm hại, cưỡng đoạt họ. Trên bề mặt văn bản, nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp trình diễn bản thân vừa như là nạn nhân vừa như là đao phủ, vừa như là tác nhân vừa như là công cụ của đối kháng nam/nữ. Tuy nhiên, như Bourdieu đã viết, bên dưới bề mặt lưỡng trị dễ chịu này có một chiến lược tinh vi của logic phụ quyền mà nhiều nhà phê bình đã bỏ sót khi phân tích các chủ thể được định giới trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.

 

2. Nội dung

2.1. Hạ thấp đàn ông, đề cao đàn bà

Bài phê bình của Hoàng Ngọc Hiến mang tên Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió có vị trí như một phát hiện đầu tiên, quan trọng, xác đáng về tài năng của Nguyễn Huy Thiệp. Trong bài viết này, Hoàng Ngọc Hiến đã trình bày những nhận xét, đánh giá bước đầu của ông về sự đối lập giữa đàn ông/đàn bà trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Ông viết: “Trừ nhân vật thiếu tướng họ Nguyễn, nhân vật xưng “tôi” và vài ba nhân vật khác, những người đàn ông trong tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là đốn mạt, chí ít là những kẻ bất đắc chí, vô tích sự, nói chung là không ra gì. Ngược lại, trong các nhân vật nữ có những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ. Nó là sự hiện thân của nguyên tắc tư tưởng tạo ra cảm hứng chủ đạo của tác giả, có thể gọi đó là nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ” [5, tr.15-16]. Nhận xét này của Hoàng Ngọc Hiến dẫu chỉ là lời giới thiệu cho tập sách Tướng về hưu chứ không bao gồm toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, thoạt tiên khó bác bỏ. Bởi vì, xét ở nguyên tắc xây dựng hình tượng, trong tương quan với nhân vật nữ, phần lớn nhân vật nam trong sáng tác của nhà văn đều “không ra gì”. Chẳng hạn, Tổng Cóc trong Chút thoáng Xuân Hương ngang tàng, sắc lạnh, nghĩa hiệp mà chông chênh, nông nổi, vẫn như thiếu bản lĩnh và dũng khí so với nàng Xuân Hương “luôn thất bại trong đời”. Trong Nguyễn Thị Lộ, người anh hùng Nguyễn Trãi cô đơn và yếu đuối bên cạnh Nguyễn Thị Lộ cao vời lồng lộng. Trong Phẩm tiết, một Ngô Thị Vinh Hoa kiên trinh trước uy vũ của cả Quang Trung và Gia Long quyền lực tối thượng. Trong Mưa Nhã Nam, một Đề Thám anh hùng ra vào đồn giặc như chốn không người mà yếu hèn trước một người con gái tên Xoan mạnh mẽ, bản lĩnh... Thêm nữa, trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường xuất hiện motif con hoang, con côi; hình ảnh những người cha “hiện diện vắng mặt” hoặc vô trách nhiệm với con cái. Họ là những tướng tá “về hưu” lạc lõng với thời cuộc, những kẻ thất bại ở đời hoặc những kẻ tồi tệ luôn tìm cách hạ nhục con trai, “nhìn trộm” con dâu tắm khỏa thân, cưỡng bức con gái ruột. Trong tình trạng “tri kì mẫu, bất tri kì phụ”, một số bé trai trong truyện Nguyễn Huy Thiệp tỏ ra quá đa cảm, thiếu tự tin, yếu đuối, côi cút, đáng thương như Đăng (Tâm hồn mẹ), cậu bé (Đời thế mà vui), thằng bé (Lòng mẹ)... Ngược lại, một số nhân vật bé gái lại được nhà văn thể hiện những vẻ đẹp mạnh mẽ, bản lĩnh (Con gái thủy thần, Tâm hồn mẹ, Thương nhớ đồng quê...). Qua vài tương quan như thế đủ thấy, dường như trong cấu trúc đàn ông/đàn bà, nhân vật nữ của Nguyễn Huy Thiệp thường có dũng khí, bản lĩnh hơn nhân vật nam một bậc. Họ thường tỏ ra “to lớn”, “mạnh mẽ”, “sống có dũng”, “thăng bằng” hơn nhân vật nam. Đó không chỉ là những tính ngữ/định ngữ ưu ái dành riêng cho nhân vật Xuân Hương mà còn cho rất nhiều nhân vật nữ khác như Thắm (Chảy đi sông ơi), Thủy (Tướng về hưu), Sinh (Không có vua), Vinh Hoa (Phẩm tiết), Xoan (Mưa Nhã Nam), Bua (Những ngọn gió Hua Tát), Thu (Tâm hồn mẹ), Nguyễn Thị Lộ (Nguyễn Thị Lộ)...

Chưa bàn đến khái niệm “liệt nữ” như một phạm trù ý thức hệ phụ quyền, hoặc như sự quy giản người nữ về khía cạnh nhân cách, lập luận trên đây của Hoàng Ngọc Hiến có lẽ ám chỉ rằng Nguyễn Huy Thiệp tán dương nền văn hóa đàn bà, xem nữ tính là một nguyên lý và nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ. Quả thực, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp tồn tại một lớp hiển ngôn hạ thấp đàn ông và tôn sùng, đề cao phụ nữ. Cần lưu ý rằng, loại diễn ngôn này không chỉ có ở các nhân vật nữ mà còn có ở các nhân vật nam. Chẳng hạn, trong Sống dễ lắm, ông giáo Chi phát biểu: “Bọn đàn ông, tớ biết rất rõ (...), chúng nó là bọn láo khoét, không có phúc đức gì đâu... “Phúc đức tại mẫu”, đã hiểu chưa?” Đối với bà cụ Lâm, đàn ông là cường lực gia trưởng ích kỉ: ““Bà Lâm bảo: “Ăn đi con ạ. Đàn ông nó chẳng thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó đè lên mình” (Những bài học nông thôn). Ở đây, do thân phận bị định giới, bà Lâm có sự minh mẫn khác thường của “người già hiền minh”; bà đã phơi bày không úp mở trật tự gia trưởng bất bình đẳng và phản dân chủ ở nông thôn. Với những thị dân trẻ như M, N, đàn ông là dối lừa, phỉnh nịnh, khát dục: “Với bọn đàn ông thì người phụ nữ chẳng học được cái gì đâu. Chúng chỉ chăm chăm một việc là đè mình ra giường rồi tỷ tê những lời đường mật. Chúng mình tưởng bở, chúng mình tưởng đấy là tình yêu, là tình người. Thế là hết đời!” (Mưa). Đối với chị Hương, một thiếu phụ nông thôn, đàn ông là những đứa bé to xác, đầy tính súc vật: “Đàn ông các anh như trẻ con cả! Cũng giống hệt như đàn lợn của tôi. Khi nào được ăn thì phởn...” (Chút thoáng Xuân Hương). Viết về sự khát thèm của những người đàn ông bản Hua Tát trước nàng Bua, Nguyễn Huy Thiệp không ngại ngần phóng đại dâm tính, hạ thấp nhân cách của họ: “Đàn ông trong bản cười cợt, thèm thuồng. Họ ngồi cạnh nhau quanh các bếp lửa, nước dãi nhỏ ra bên khóe mép, đôi mắt long lanh, trơn tuột”. Đối với những nhân vật nữ như Diệu, Phượng... từng bị chồng/người yêu lừa gạt, ruồng bỏ, đàn ông đều là những kẻ “khốn kiếp”: “Mày cũng là thằng khốn kiếp lắm kia! Đàn ông chúng mày thế hết...” (Cún); “Phượng giật mình, ngẩng lên thấy tôi bèn giận dữ: Cút đi, cái lũ đàn ông khốn kiếp các anh!” (Con gái thủy thần). Trong ngôn ngữ tự sự của Nguyễn Huy Thiệp, đằng sau danh từ đàn ông thường đi kèm với những từ ngữ tiêu cực như “khốn kiếp”, “khốn nạn”, “bạc”: “Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình” (Vàng lửa); “- Nhi này, đàn ông bạc lắm, con ơi...” (Cánh buồm nâu thuở ấy)... Tất nhiên, Nguyễn Huy Thiệp đã dừng ở việc ca thán, rủa xả đàn ông và không có ý định xây dựng một nền tảng luân lý chính trị mới cho người đàn bà Việt. Thiên tính nữ trong sáng tác của ông thực chất là khẳng định, sùng bái những phẩm chất mà đàn ông muốn có ở phụ nữ, gán cho phụ nữ. Cụ thể, nhân vật nữ trong sáng tác của ông được gắn cho những phẩm chất của “Bà mẹ tự nhiên, Nữ thần sinh sản, Dạ con của cuộc sống, Người phân phát thực phẩm” [8, tr.117]. Điển hình cho điều này có thể thấy ở nhân vật bé Thu. Trước Đăng - cậu bé trai yếu đuối, thụ động, côi cút, đáng thương, Thu không chỉ mạnh mẽ, bản lĩnh hơn mà còn hội tụ đầy đủ phẩm chất của cổ mẫu mẹ/tâm hồn mẹ đúng như Đăng khao khát, kỳ vọng. Trong trò chơi mẹ - con giữa Thu và Đăng, Thu không chỉ là người chở che, bao bọc Đăng mà còn là người đã tìm ra thức ăn, tìm ra lửa. Mẹ Cả và những “mảnh” của Mẹ Cả gắn với cuộc phiêu lưu của Chương là bà mẹ tự nhiên, người luôn có ham muốn giữ chặt con trai mình trong vòng tay. Cuộc phiêu lưu của Chương chưa thể kết thúc và không bao giờ kết thúc, vì trước mặt anh là “dòng sông thao thiết. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển”. Cần lưu ý rằng những cổ mẫu Mẹ như sông, biển thường xuất hiện trong văn Nguyễn Huy Thiệp. Lăn vào rồi vượt thoát thế giới âm tính là động lực dẫn dắt cuộc phiêu lưu của Chương. Trước năm cha con nhà lão Kiền, đám đàn ông bản Hua Tát, Sinh, Bua là hiện thân của nữ thần sinh sản, của tình thương, sự bao dung và lòng nhân ái. Chiêm trong Giọt máu, Lộ trong Nguyễn Thị Lộ là biểu hiện của cổ mẫu dạ con của cuộc sống, người bao bọc và nuôi dưỡng những mầm sống lương thiện, những lương tri trong sạch, lành mạnh. Như thế, đề cao tính nữ trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp là tôn sùng phẩm tính Mẹ, phẩm tính Vợ ở những bé gái, thiếu nữ, thiếu phụ và phụ nữ nói chung. Qua việc này, Nguyễn Huy Thiệp làm dịu bớt sự căng thẳng do tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh. Việc ông khẳng định, đề cao năng lực làm mẹ của người nữ, đề cao nhân cách và thiên chức riêng của họ đã góp phần xoa dịu nỗi khốn khổ của người nữ nhưng cũng góp phần đưa họ vào trạng thái bị thôi miên, tê liệt khả năng phản kháng.

Theo M. Kundera, “Kẻ theo thuyết nam quyền tôn thờ nữ tính và thích thống trị cái hắn tôn thờ. Trong khi tán dương nữ tính mẫu gốc của người đàn bà bị thống trị (tình mẫu tử của họ, khả năng sinh sản của họ, sự yếu đuối của họ, tính cách thích quanh quẩn ở nhà của họ, tính đa cảm của họ, v.v) hắn ta tự tán dương nam tính của mình” [4, tr.144]. Ý kiến của Kundera quả thực rất phù hợp với diễn ngôn định giới của Nguyễn Huy Thiệp. Chàng thi sĩ - diễn viên đã tụng ca người thiếu phụ tên Hương bằng cách tự hạ mình, và bằng cách ấy, anh ta trở nên cao thượng: “Được gặp những người đàn bà như chị thật thích. Tất cả đàn ông chúng tôi đều muốn sống mãi, chúng tôi đều sẽ tốt lên” (Chút thoáng Xuân Hương). Đề Thám trong mưa rừng Yên Thế đã tuân theo định mệnh xã hội, đẩy người con gái tên Xoan trẻ đẹp đầy bản lĩnh sẵn sàng buông bỏ tất cả theo mình phải kết đôi với một gã trai khèo tay tầm thường. Đề Thám biết quý trọng cái đẹp nữ tính của Xoan nhưng cũng biết giữ gìn hình ảnh đàn ông trong khuôn thước đạo đức của hình mẫu người quân tử nghĩa hiệp, phương Đông. Đề Thám đã nghĩa hiệp với cha con Đồ Hoạt và vì thế vẫn thuộc về cùng một phía với cha con Đồ Hoạt: luôn tìm cách thống trị đàn bà, biến Xoan thành một thân phận thụ động và cam chịu (Mưa Nhã Nam). Chí Phèo của Nam Cao và Chương của Nguyễn Huy Thiệp đã cho mình quyền cao thượng vì biết nhục trước tính chủ động tình dục của đàn bà. Nếu Chí Phèo “thấy nhục hơn là thích” khi bị bà Ba vợ Bá Kiến “gọi đến mà bóp chân” thì Chương “không xúc động”, “xấu hổ”, “không thích lắm”... khi phải hầu giường chiếu cho Phượng - “nhà cách mạng nữ quyền” và đám bạn gái của Phượng. Khoái lạc cưỡng bức cũng như lao động cưỡng bức thường thiếu vắng tình yêu và sự dâng hiến tự nguyện. Nguyễn Huy Thiệp đã nhìn thấu sự cao thượng chân thành của đàn ông khi họ tỏ ra cao thượng cũng như ông đã nhìn thấu sự cao thượng của đàn ông khi họ chân thành hạ mình trước đàn bà: đàn ông chưa bao giờ từ bỏ thức về vai trò thống trị phụ nữ và làm chủ xã hội của họ. Để cho nhân vật nam hạ mình trước nhân vật nữ, tỏ ra yếu đuối, thấp kém, bất lực, trẻ con trước họ là cách nhà văn tái tạo quyền lực đàn ông trong bối cảnh lịch sử - xã hội đã thay đổi. Người đàn ông hậu chiến đột ngột mất đi trò chơi chiến tranh, không thể điềm nhiên coi người đàn bà là hậu phương vững chắc; họ rơi hẫng vào cõi hỗn mang âm tính, chới với trong thị trường tài sản tượng trưng thời Đổi mới. Không còn khả năng nắm giữ và áp đặt quyền lực thống trị như trước được nữa, người đàn ông của “mùa bình thường” tìm kiếm chiến lược mới, trong đó có việc đánh thức tính nữ, đặc biệt là khả năng cảm thông và bao dung của cổ mẫu Mẹ. Trong những tác phẩm xuất sắc nhất, ông vua truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã thể hiện rõ ý thức hướng sáng và khát vọng về một trật tự xã hội mới thoát ra khỏi và vượt lên trên tình trạng hỗn mang âm tính. Trong khi làm thế, nhà văn đã trả lời thỏa đáng câu hỏi cơ bản: đàn ông là ai? Bản sắc người đàn ông được xác lập, cố định không phải bằng cách tách ra khỏi tính nữ mà là liên kết với tính nữ. Bởi vì “người đàn ông chỉ là chính mình khi biết luôn khép lại trước giới đối kháng, nếu thể hiện mình là đối kháng thì tất cả bản tính (identity) của anh ta sẽ bị nắm bắt và sẽ bị đe dọa trong từng động thái khi anh ta tìm cách xác nhận sự tồn tại độc lập, tự trị của mình” [3, tr.307]. Đây là một phương cách mới của việc trở thành đàn ông khi khói lửa chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng. Người đàn ông tôn sùng tính nữ thực ra chỉ là tôn sùng những phẩm chất tích cực mà họ hoài vọng ở người người mẹ/người vợ; người đàn ông tự hạ mình trước người đàn bà thực ra chỉ là một cách khác thỏa đáng hơn nhằm xác lập vị thế và bản tính của đàn ông trong tương quan liên thuộc chặt chẽ với đàn bà. Do đó, đây không phải là nguyên tắc thiên tính nữ mà là một chiến lược diễn ngôn tinh vi của nhà văn nam giới Nguyễn Huy Thiệp. Ông muốn giải hoặc những ngộ nhận về giới, hướng tới cái nhìn đa bội, phức hợp về mối quan hệ bí ẩn giữa đàn ông và đàn bà. Điều này sẽ được thể hiện với ít sự êm ái và ngọt ngào khi nhà văn hạ thấp đàn bà và đề cao đàn ông.

 

2.2. Hạ thấp đàn bà, đề cao đàn ông

Bằng con mắt sắc xảo của một triết gia nữ quyền, Simone De Beauvoir đã viết: “người đàn bà chỉ được tôn thờ chừng nào người đàn ông tự mình làm nô lệ cho những nổi sợ hãi của chính mình, là đồng lõa của sự bất lực của bản thân mình: họ tôn thờ người đàn bà trong sợ hãi chứ không phải trong tình yêu. Họ chỉ có thể tự hoàn thiện mình bằng cách bắt đầu “hạ bệ” người đàn bà” [1, tr.102]. Với triết gia và nhà phê bình tả phái Eagleton, một trong những lí do phụ nữ trở thành đối kháng và bị đàn ông loại trừ là vì: “Có thể người phụ nữ tồn tại trong chính bản thân anh ta như một triệu chứng nào đó mà anh ta cần phải kiềm chế, loại bỏ ra khỏi mình, cho ra một lãnh địa khác để không phương hại đến anh ta” [3, tr.307]. Theo Jung, để có một mặt nạ phù hợp với xã hội, mỗi cá nhân sẽ loại trừ tất cả những gì mà cá thể ấy cho là không phù hợp, biến nó thành đối lập, thành bóng âm. Bóng âm là cái được che dấu, đối lập với mặt nạ là cái được hiển lộ trong quan hệ với người khác. Nếu anima là phần tâm thần vô thức nữ trong người nam, animus là phần tâm thần vô thức nam trong người nữ thì để trở thành người đàn ông phù hợp với văn hóa và ý thức hệ xã hội, người nam sẽ tìm cách che đậy, loại trừ phần tâm thần vô thức nữ trong mình (và ngược lại) [7], [8]. Nói cách khác, “có sự tồn tại bị che dấu, dồn nén hoặc vô hình của giới kia trong nội tâm giới này” [6, tr.128]. Cho nên, hạ thấp đàn bà và đề cao đàn ông trước hết phải được xem xét ở nội dung tâm lí. Mà điều này theo Kundera, “là nội dung duy nhất đáng quan tâm” mà đạo thiện ác nữ quyền đã tránh né.

Trước hết, đàn ông ghét đàn bà và ngược lại là do hệ quả của mối quan hệ không hài hòa giữa họ. Phần lớn những kẻ ghét giống cái/ghét đàn bà (misogyny) thường trực tiếp có những trải nghiệm/kinh nghiệm tiêu cực đối với phụ nữ. Nhâm, một thanh niên nông thôn mới lớn, sau lần đầu trong đời trải nghiệm vẻ đẹp nữ tính đậm chất thị dân hiện đại của Quyên đã đánh đồng đàn bà với thói bạc tình, phản bội: “Có một người đàn bà đến làm cho tôi đau/Nàng dạy tôi thói bạc tình/Bằng cách phản bội tôi như có thể/phản bội một người thường” (Thương nhớ đồng quê). Đối với đồ Hoạt, bà Lâm, ông Miêu, đàn bà thì khó hiểu hoặc hời hợt, nông cạn: “Không hiểu sao đàn bà chỉ thích những tên đàn ông nhăng nhít, dê cụ, khả ố, đểu cáng...” (Mưa Nhã Nam); “Bà Lâm bảo: “Cha bố con đĩ, để tí nữa nó đến đây tao bảo. Các cô bây giờ chỉ thích nước sơn hào nhoáng, rồi rơi vào tay Sở Khanh mới biết thân”. Ông Miêu bảo: “Dòng máu hào kiệt ở nước mình cứ cạn dần vì mỹ nhân toàn rơi vào tay bọn Sở Khanh với Khuyển Ưng cả. Tiếc lắm thay!” (Những bài học nông thôn). Ở một số kẻ ghét đàn bà khác, đàn bà bị coi là “rắn”, “yêu tinh”, “ác quỷ”, “quỷ sứ”: “Nhà vua hỏi: Phi tần không còn ai ư? Hoàn tâu: Đàn bà trơn mà nhanh như rắn, động ổ là chuồn, biết đâu mà lần?” (Phẩm tiết), “- Đàn bà là giống yêu tinh ác độc nên trong lòng nó mới thấy thiếu tình thương!” (Đời thế mà vui), “- Đàn bà... Quỷ sứ... Tất cả đều chẳng ra gì... Bẩn thỉu...” (Sang sông). Những phát ngôn trên đây là sự phóng chiếu của cổ mẫu nữ tính, là sự bất đồng, đối nghịch với cổ mẫu nữ tính. Như Beauvoir đã phân tích, năng lực lưỡng trị của giới nữ chỉ được văn hóa phụ quyền giữ lại mặt xấu, mặt đối kháng với đàn ông, người nữ trở thành một kí hiệu, biểu tượng của cái Ác, cái dơ bẩn, cám dỗ nguy hại [1, tr.183]. Bởi thế, hình ảnh thân xác đàn bà với tư cách là một kí hiệu bị khinh bỉ, nguyền rủa, bị xem là cám dỗ đáng sợ của quỷ dữ. Tính nữ trong họ thường không được nhìn nhận từ góc độ nhân loại mà từ phía cái Khác, người Khác xa lạ, thù địch, thấp kém so với đàn ông. Ngay cả đối với một bậc thiện tri thức như thầy giáo Triệu, diễn ngôn về đàn bà của nhân vật này thực chất vẫn là ý thức/vô thức tập thể về cổ mẫu nữ tính:

“Anh Triệu bảo: “Hoa này lạ lắm, trông y như cái miệng cười, vớ vẩn có chú muỗi nào rơi vào là nó khép ngay cánh lại. Nó có cái lạ là cứ để yên thì chẳng làm sao, nhưng hễ đụng đến là thơm lựng lên. Người ta đặt tên là hoa cỏ đĩ. Y hệt đàn bà, để yên thì là hạnh kiểm phi thường, đụng vào tan nát như chơi, đầu tiên nát tiền, đến nát tâm hồn, rồi tan gia đình, tan cơ nghiệp” (Những bài học nông thôn).

Truyện ngắn Đời thế mà vui có một đối thoại độc đáo về nam tính/nữ tính. Cũng như bộ phim Tâm hồn mẹ do Phạm Nhuệ Giang chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp, cả hai cho thấy người đàn bà đơn thân không mấy hấp dẫn/hấp dẫn, vô nghề nghiệp/nghề nghiệp tạm bợ, vụng dại/tháo vát đều sẽ đáng thương và trở nên tồi tệ ra sao trong xã hội phụ quyền hậu thuộc địa: “Đàn bà chúng tôi nhẹ dạ lắm, trong lòng lúc nào cũng thấy trống vắng, trong lòng lúc nào cũng thấy thiếu tình thương. Ai nói đến tình thương là bọn chúng tôi gục đầu vào ngay chẳng biết đất trời gì nữa.

Chú Hảo cười:

- Đàn bà là giống yêu tinh ác độc nên trong lòng nó mới thấy thiếu tình thương! Còn đàn ông bao giờ thiếu tình thương đâu! Hoan hô đàn ông! Hoan hô dê cụ!”

Hảo là một kẻ khinh bỉ nữ tính nên khi buộc phải để mắt đến những biểu hiện nữ tính của người đàn bà, hắn đều rủa một cách thô lỗ, tục tằn: “Đồ đĩ! Béo nứt bụng!”, “Gái xề! Đồ mặt chó!”, “Nước mắt đàn bà! Nước đái bò!”. Sau khi đã đạt đến đỉnh điểm của sự thô bạo nam tính, chàng thanh niên đã mắng người yêu: “- Đàn bà... Quỷ sứ... Tất cả đều chẳng ra gì... Bẩn thỉu...” (Sang sông). Những lời rủa này tương tự như lời rủa mà Đoài văng ra khi y gạ gẫm chị dâu và bị Sinh cự tuyệt: “Đàn bà là giống ác quỷ” (Không có vua). Thân thể người nữ cũng như thiên nhiên, đất đai là một cám dỗ bí hiểm. Họ bị thu hút mãnh liệt nhưng cố cưỡng tránh phụ thuộc hoặc quy phục. Thân thể nữ tính bị đàn ông biến thành bóng âm, thành cái khác xấu xa, thấp hèn mà họ nhất định phải xa lánh nhằm giữ cho mình sự thanh sạch, cao thượng. Đây chính là tâm lí sợ hãi mà Nguyễn Huy Thiệp đã mượn lời Phượng để phát ngôn: “Bọn đàn ông các anh loanh quanh vì các anh sợ hãi. Các anh không dám đam mê” (Con gái thủy thần). Kinh nghiệm nhân loại/kinh nghiệm đàn ông về “bi kịch của những đam mê” tập trung trong các tác phẩm bi kịch cổ đại là một kinh nghiệm đau đớn, gây sợ hãi vì với đàn ông, đam mê là mặt đối lập với lý tính, có thể dẫn họ đến cái chết nhục nhã. Thân xác, ham muốn, bản năng, tự nhiên, điên rồ và đàn bà bị đồng nhất với nhau và đối lập hoàn toàn với cái linh hồn, lí tính, văn hóa do đàn ông đại diện. Muốn mang mặt nạ đàn ông, nhân vật nam đã biến nhân vật nữ thành kẻ thù, kẻ đối kháng hèn mọn đáng bị loại trừ. Giữ lấy nam tính tức phải loại trừ nữ tính, đề cao đàn ông tức phải hạ thấp đàn bà. Nhân vật nam của Nguyễn Huy Thiệp luôn tồn tại một phức cảm: vừa ham muốn lệ thuộc, tôn thờ lại vừa thù ghét, xa lánh, khinh rẻ, xem thường phụ nữ.

 

page617image154101762.3. Giới, thân xác và quyền lực

Nhưng hạ thấp phụ nữ, đề cao đàn ông không chỉ có nội dung tâm lí. Với con mắt phân tích xã hội sắc xảo, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy trong đối kháng nam/nữ thấm đẫm các quan hệ quyền lực. Đối với người đàn ông, càng ý thức về nam tính thì càng ý thức về nam quyền. Và càng ý thức về nam quyền thì càng ý thức sâu sắc về bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ xã hội. Tướng Thuấn, một trong những nhân vật nam chiếm được nhiều cảm tình của độc giả đã phát biểu rất chính xác về điều này: “Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn, càng nhục” (Tướng về hưu). Những tiêu chuẩn về quân tử/tiểu nhân, những quan hệ tôn ti trong “tam cương ngũ thường”, những mệnh đề mà người đàn ông phải nằm lòng về nghĩa vụ, trách nhiệm như “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”... chính là nội dung của chữ tâm trong quan niệm của tướng Thuấn. Những quan niệm trừu tượng này đã đặt nền móng kiến tạo văn hóa phụ quyền Á Đông, hình thành nguyên tắc nam tính võ trong nhiều thực hành biểu đạt và định giới. Được giáo dục ý thức hệ phụ quyền, ý thức về mình như một “kẻ mạnh”, buộc phải hơn “kẻ yếu” về mọi mặt, có nghĩa vụ phải xông pha nơi hòn tên mũi đạn,... khiến người đàn ông có nhiều quyền lực/quyền lợi nhưng cũng lắm trách nhiệm, nghĩa vụ nặng nề mà nhiều khi các nhà nữ quyền ghét đàn ông thường né tránh không bao giờ bàn đến. Trong buổi li biệt vợ con, chính Bường đã than thở về gánh nặng trách nhiệm của người đàn ông đối với gia đình: “Chị Bường bảo “Các con chào bố đi”. Ba đứa con anh Bường líu ríu: “Con chào bố”. Anh Bường bảo: “Vâng! Chào các ông các bà! Các ông các bà ăn no ngủ khỏe. Bố phải xa mẹ lăn lóc trên đường” (Những người thợ xẻ). Quyền đàn ông của Bường song hành với nghĩa vụ làm cha, làm chồng. Đó là những nghĩa vụ, trách nhiệm mà Bường chua chát ý thức rõ là rất nặng nề. Ý thức về nam tính và nam quyền của Bường cũng là ý thức về nam tính và nam quyền của tướng Thuấn, ông Bổng. Với ông tướng về hưu, làm đàn ông thì không được phép nhu nhược; là phải có nội lực kèm khả năng kiểm soát, thống trị người đàn bà/người vợ của mình. Bởi thế, ông đã thẳng thắn phê bình con trai ông là kẻ “đếch sống được một mình” khi không dám đương đầu với chuyện vợ mình có kẻ công khai ve vãn. Với ông Bổng, làm đàn ông là phải làm chủ kinh tế, làm chủ gia đình “Ông Bổng hỏi tôi: “Nhà này ai chủ trì kinh tế?” Tôi bảo: “Vợ cháu”. Ông Bổng bảo: “Đấy là ngày thường. Tao hỏi đám ma này thì ai chủ trì kinh tế”. Tôi bảo: “Vợ cháu”. Ông Bổng bảo: “Không được con ơi, khác máu tanh lòng. Tao bảo bố mày nhé” (Tướng về hưu). Người đọc dễ xót xa, đồng cảm với người vợ lính “chồng đi xa, lấy chồng cũng như không” mà bỏ qua tâm trạng của người chồng trẻ xa vợ, xa gia đình, một mình xông pha nơi hòn tên mũi đạn (Những bài học nông thôn). Bằng một bức thư rất ngắn của anh Thế gửi mẹ, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy ông đã cảm thông sâu sắc và tê tái ra sao trước thân phận người lính chiến: “U ơi xin u nương nhẹ thân mình, dù chỉ để cho con đỡ khổ. Con xin hứa sang năm con sẽ về phép con sẽ làm nhà, lấy vợ. U cứ giấm cho con một cô ở làng, mặt rỗ cũng được, góa chồng cũng được, miễn là người ta yêu thuơng mình. Chỉ mười ngày phép là xong mọi việc, u sẽ mát lòng mát dạ ở nơi suối vàng. Còn con, con khỏe lắm, được mọi người yêu mến. Con luôn nhớ về u, nỗi nhớ như gai đâm ruột...” (Con gái thủy thần). Dù là một bức thư có phần công thức, mang vác những nhiệm vụ chính trị giống như thư Bường gửi vợ khi làm thợ xẻ ở rừng Tây Bắc, mang máng như biết bao lá thư gửi từ chiến trường cho người mẹ/người vợ hậu phương, nhưng nó xót xa và cảm động. Ở nhân vật Thế, bổn phận với gia đình, với người mẹ gần đất xa trời và Mẹ-tổ quốc đã chiếm mất của anh trọn vẹn hạnh phúc cá nhân. Trong diễn ngôn của Thế, thực ra người vợ tiềm năng có vai trò hết sức thảm hại, chỉ là cầu nối, vật trung gian giữa con trai và mẹ, như thời cổ sơ, người vợ chỉ là đối tượng trung gian biểu thị mối quan hệ tương hỗ giữa những người đàn ông với nhau (“Mối quan hệ tương hỗ tạo nên hôn nhân không được thiết lập giữa đàn ông và đàn bà, mà là giữa đàn ông với nhau bằng những người đàn bà vốn chỉ là cơ hội cho chính hôn nhân mà thôi” (Lévi- Strauss, dẫn theo Beauvoir [1, tr.95]). Hiên sống với bản năng, ham muốn và sự yếu đuối nữ tính của mình. Còn Thế, anh sống bằng lí trí, bản lĩnh của người đàn ông. Cả hai đều sống theo những tiêu chuẩn định giới được cộng đồng Việt mong đợi. Nhưng không thể nói ở Hiên không có sự mạnh mẽ, ở Thế không có sự yếu đuối. Bổn phận, trách nhiệm đè nặng lên mỗi sinh vật/người chứ đâu chỉ ở mỗi con đực/đàn ông. Đó là bài học mà ông Diểu nhận ra khi ông vào rừng săn khỉ: “Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề” (Muối của rừng).

Văn hóa và ý thức phụ quyền chi phối diễn ngôn giới phái của các nhân vật, chi phối cách ứng xử của họ với giới tính khác. Điều này không chỉ biểu hiện ở diễn ngôn của những kẻ ghét nam giới, tôn sùng nữ giới mà còn biểu hiện ở diễn ngôn của những kẻ ghét nữ giới, tôn sùng nam giới. Đằng sau diễn ngôn của người thiếu phụ chèo đò, chị Hiên, mẹ Lâm và nhiều nhân vật nữ khác là thói quen bẩm sinh cam chịu thua thiệt, chấp thuận tư thế bên trên của nam giới, “ham muốn sự thống trị của nam giới” (Bourdieu): “Chúng tôi quen rồi: “Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta trêu” (Chút thoáng Xuân Hương); “Chị Hiên thở dài: “Tôi hơn Hiếu ba tuổi. Thế là già rồi đấy. Đàn bà chỉ có một thì. Tôi sợ lắm... Hiếu đổi chỗ cho tôi. Giã gạo, ai đàn ông lại đứng trước đàn bà bao giờ?”; “Hiếu bảo lấy chồng mà bỏ chồng thì có tốt không?” Tôi bảo: “Không”. Chị Hiên bảo: “Phải rồi. Nứa trôi sông không giập cũng gãy. Gái chê chồng không chứng nọ cũng tật kia”. Tôi hỏi: “Thế là thế nào hả chị?” Chị Hiên bảo: “Thế là đàn bà không ra gì” (Những bài học nông thôn); “Sinh bảo: Chú lễ đi. Tôi đàn bà con gái biến khấn thế nào” (Không có vua). Đối với những cô giáo trẻ được được/bị thừa hưởng nền triết lí Khổng-Mạnh, ngôn từ của họ thấm đẫm cái nhìn của nam giới. Với họ, đàn bà bao giờ cũng là nguyên nhân gây ra bi kịch cho đàn ông: “- Cũng tại bọn đàn bà hay đòi hỏi cơ! - Các cô gái than thở - Người ta vẫn nói đàn bà với tiểu nhân là một...” (Sống dễ lắm). Bị chi phối bởi tri thức/quyền lực phụ quyền biểu hiện qua phạm trù “trinh tiết” cộng với với nền tảng y tế công cộng lạc hậu (người phụ nữ Việt gần cuối thế kỷ XX còn chưa biết đến các biện pháp tình dục an toàn như sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai) vì thế cả Thủy và Chi đều thấy thân phận

đàn bà là điếm nhục: “Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan” (Tướng về hưu). Có thể mọi người nữ đều muốn được giải phóng, “đổi phận làm trai”, thoát khỏi quyền lực phụ quyền, nhưng chúng ta sinh ra đâu phải là những tờ giấy trắng phi giới tính, được tự do lựa chọn giới hay mặc nhiên “thấp kém” hoặc “ưu việt” hơn giới khác. Vì bị tắm đẫm bởi văn hóa phụ quyền thống trị, trong vô thức, người nữ không dễ gì thoát khỏi “mặc cảm thiến hoạn”, kể cả những người đàn bà “nội tướng” như Thủy. Tương tự, hành vi và phát ngôn của các nhân vật nam dĩ nhiên bị chi phối bởi văn hóa và ý thức phụ quyền. Trong Những người thợ xẻ, Bường cố tìm cách cưỡng bức Quy vì y coi đàn bà như tặng vật dành cho đàn ông, sự chiếm đoạt đàn bà bằng vũ lực không được y xem là tội ác mà là sự thể hiện quyền lực và nam tính. Ngọc ra sức bảo vệ Quy chống lại hành vi của Bường. Nhưng không vì thế mà Ngọc khác hẳn Bường trong quan niệm về đàn bà/tính nữ. Ngọc là người ý thức rõ về nam quyền: “Tôi không thích dáng vẻ tự tin vô tư của Quy. Điều ấy ngu xuẩn biết bao. Phải, ngu xuẩn. Cả cô gái tôi đã từng yêu cũng thế. Nàng cứ tưởng tự tin và tự do là điều hay hớm cho mình. Trăm lần không, vạn lần không. Với phụ nữ, tự tin với tự do nghĩa là bất trắc, là hiểm họa, là thiếu thốn, thậm chí còn có khả năng bất hạnh và điếm nhục. Với riêng tôi, nhân cách của người phụ nữ trước hết là sự phụ thuộc của nàng đối với chính tôi. Mãi mãi. Vĩnh viễn là như thế. Bởi tôi là đàn ông, là tôi. Không ai thay thế được”. Với Ngọc, nhân cách phụ nữ là cái có sẵn thụ động, chỉ có thể được bảo vệ hoặc bị tước đoạt bởi đàn ông. Khái niệm “trinh tiết” do đó đồng nhất với phạm trù “phẩm tiết” là những phạm trù nhân cách. Phạm Ngọc Phong trong Giọt máu cũng cùng một ý thức như Ngọc, muốn chở che, bảo vệ phụ nữ, cũng muốn phụ nữ mãi mãi bị thống trị, tùy thuộc vào đàn ông. Y rất xem thường phụ nữ khi nói với Thiều Hoa: “Đàn bà không có thơ đâu. Thơ phải là những tâm sự lớn. Đàn bà thì tâm sự gì. Thơ phải cao cả. Mỗi tháng các bà hành kinh một lần thì cao cả gì”. Nhiều người có thể đồng tình với phát ngôn của Phong: “Tôi không thích phụ nữ lặn lội kiếm sống. Phụ nữ là phải lành lặn, sạch sẽ”. Tuy nhiên, phát ngôn này trên thực tế chỉ là một biến thái khác của ham muốn giữ chặt phụ nữ trong vòng lệ thuộc, truất quyền kinh tế rất cần thiết cho khả năng bình đẳng của họ trước người chồng/đàn ông. Đối với Phong, Bường, trinh bạch và thủy chung là tiêu chuẩn mà người chồng đơn phương áp đặt cho người vợ chứ không phải cho bản thân mình. (Anh Bường bảo: “Thôi mẹ đĩ về đi, bảo vệ an toàn cái hĩm, chờ tớ một năm sau tớ về”/“Thương anh giấu ở trong lòng/Xin em chớ có lòng thòng với ai”). Tương tự, trong Thương nhớ đồng quê, nhân vật giáo Quỳ đã cưu mang một cô gái điếm người Hải Phòng bụng mang dạ chửa không nơi nương tựa, cho cô ta một danh phận, một mái nhà. Nhưng chính giáo Quỳ lại nói với người vợ hai “phong tình” ấy như sau: “Cô ngủ với ai thì nhớ đòi tiền. Không có tiền thì lấy thóc hay lấy lợn vịt thế vào chứ đừng ngủ không”. Bằng câu nói ấy (cũng như câu đáp của Tổng Cóc sau lời “nửa đùa nửa thật” của bà quận chúa họ Trần: “- Ta ngủ với ông mà cứ kinh hoàng tưởng như ông hiếp dâm ta!”: “- Tâu lạy quận chúa, việc mua bán đã xong rồi!) giáo Quỳ bộc lộ tư cách kẻ thống trị, muốn Nhung mãi trong tình trạng đồ vật, chỉ có thể bị mua bán, bêu riếu và khinh bỉ, bởi có như thế thì trật tự văn hóa truyền thống ở làng quê mới không đảo lộn. Đạo diễn Đặng Nhật Minh khi chuyển thể chi tiết này trong phim đã bổ sung một diễn giải đáng chú ý: ông để Nhung nói một lời với nhân vật ông giáo, rằng: “con người ta đâu phải lúc nào cũng cần tiền”. Với các sáng tác trên, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy tính tương đối của việc tôn sùng/hạ bệ đàn ông/đàn bà trong cấu trúc nghệ thuật của mình.

Viết về ý thức nữ tính và nữ quyền của các nhân vật nữ, diễn ngôn tự sự của Nguyễn Huy Thiệp đầy ắp tính lưỡng trị. Nhân vật nữ ý thức về vẻ đẹp cơ thể, khả năng làm chủ thân thể, sức mạnh quyến rũ đàn ông. Bà Lâm, chị Hiên trong truyện ngắn Những bài học nông thôn là điển hình cho ý thức này. Tuy nhiên, trong diễn ngôn của bà Lâm, rất dễ nhận ra “chứng si mê dương vật” của bà: “Bà Lâm bảo: “Ngày xưa có ông Hai Chép lái đò ham đánh tam cúc ăn

tiền, đầu tiên mất tiền, rồi mất ruộng, mất đến nhà, vợ nó cũng bỏ đi nốt. Thế là đến đêm ra thuyền ngồi khóc. Giận đời, lại muốn chuộc tội, ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hai hòn dái của mình vứt xuống sông. Vợ nó cũng chẳng quay lại”. Mẹ Lâm bảo: “Đàn bà thế là bạc”. Bà Lâm bảo: “Bạc gì? Có hai hòn dái là của quý thì mất rồi còn đâu?”. Một trong những “bài học nông thôn” mà Hiếu được gợi ý đó là bộ phận sinh dục của nam nhi không chỉ quyết định quyền “ngồi mâm trên” của đàn ông trong nhà Lâm mà còn được đem ra để đo lường mọi sự. Chính vì thế mà hình phạt cao nhất, khiến cho đàn ông phải nhục nhã là bị lôi đi “cắt dái”. Trong lịch sử, Tư Mã Thiên là nạn nhân vĩ đại minh chứng cho điều này. Nhân vật vua Gia Long đã thực thi trò chơi này với Vũ Văn Hoàn (Phẩm tiết). Thật mỉa mai, trong ý thức tập thể của “mấy tay thanh niên ở bên Duệ Đông”, việc phô bày dương vật cương cứng với đàn bà giữa đám đông được coi là quyền tự nhiên tương đương với quyền lực đạt được do “nhân dân tín nhiệm” mà có: “Chị Hiên ngừng một lát rồi bỗng bật cười: “Có mấy tay thanh niên ở bên Duệ Dông đứng sau chúng tôi. Một tay dí chim vào đít cái Lược. Cái Lược bảo: “Làm gì thế?” Tay này cũng dơ, nói thản nhiên: “Làm chủ nhiệm hợp tác”. Cái Lược mắng: “Thôi đi chứ”. Tay này lại bảo: “Nhân dân tín nhiệm thì tôi còn làm”. Xung quanh cười ồ. Cái Lược chạy ra ngoài, đằng sau quần ướt đẫm. Ả sợ quá, chỉ sợ chửa thì chết, thế là vể nhà vứt ngay cái quần xuống ao. Tần Hương Liên với Trần Sĩ Mỹ”. Nhóm thanh niên Duệ Đông đã đồng lõa cùng nhau thực hiện hành vi quấy rối tình dục. Không ai trong bọn họ có thái độ khác, thái độ mà sẽ bị đồng nhất với việc người ấy chưa vượt qua thử thách để trở thành người đàn ông đích thực. Theo Bourdieu, không cảm thông, không yếu đuối, không thương xót, ưa bạo lực, tàn nhẫn,... là biểu hiện của người đàn ông có khí chất nam nhi. Tuy nhiên, kí hiệu thân xác, được trình diễn bởi nam giới và nữ giới có những khác biệt quan trọng. Tự sự sau đây cho thấy Hiếu ý thức rõ nhưng thiếu thiện cảm và sợ hãi quyền năng ghê gớm của ngôn ngữ thân xác do Hiên sở hữu và diễn xuất: “Tắm độ mười phút thì lên bờ. Quần áo ướt dính chặt vào người chị Hiên với cái Khanh. Tôi cứng người vì thấy thân hình chị Hiên với cái Khanh đều tuyệt đẹp. Những đường cong cân đối gợi cảm lạ lùng. Máu rần rật dồn đầy ngực tôi. Chị Hiên gọi. “Hiếu lại giúp tôi”. Ánh mắt chị Hiên gặp mắt tôi. Thoáng nhanh, tôi thấy một nét nanh nọc hớn hở trên khóe mắt ấy. Tôi đi lom khom, tôi định nâng rổ cá lên thì chị Hiên như vô ý xáp lại để đùi chạm vào người tôi. Tôi bủn rủn, hàm cứng lại. Một thoáng, tôi thấy chị Hiên nhìn sâu vào đáy mắt tôi rồi đỏ bừng mặt. Tôi không thở được nữa, chân khuỵu xuống bãi cát, người run bắn lên. Chị Hiên đặt tay lên đầu tôi, mặt tái đi lúng búng nói một câu gì không rõ nghĩa rồi bỗng chạy tế lên đuổi kịp cái Khanh đang cầm nơm đi trước. Tôi nghe tiếng hai chị em cười ròn rã.

Tôi thở dốc, nằm lăn lộn trên bãi cát ướt. Hai viên tinh hoàn và dương vật tôi nặng trĩu, rất đau.

Rổ cá đổ văng ra. Tôi nằm úp người giữa đám cá tôm mà phóng tinh, miệng ngoạm đầy cát. Tôi không biết tôi có nuốt cát vào bụng không. Một nỗi sợ hãi lẫn khoan khoái trào dâng lòng tôi. Tôi biết từ nay tôi đã trở thành người lớn” (Những bài học nông thôn).

Tách khỏi mẹ, rời xa gia đình, gặp gỡ người nữ xa lạ và “phóng tinh” là chuỗi ký hiệu của sự trưởng thành. Chuỗi kí hiệu này cũng được đạo diễn Đặng Nhật Minh tái sử dụng trong bộ phim Thương nhớ đồng quê. Ở cấp độ giàu tính ẩn dụ, Sang sông là một tượng trưng cho sự đoạn tuyệt của bé trai với mẹ. Bình gốm là một vật do lửa chế tác, đứa bé thò tay vào bình gốm phản ánh sự xâm nhập tượng trưng của người nam với người nữ. Đứa bé chỉ có thể thoát khỏi việc mắc kẹt vào cái bình gốm với sự trợ lực đầy bạo lực của người cha tượng trưng - tên cướp với cây côn nhị khúc. Đứa bé đã sang sông, dứt bỏ những quyến luyến có tính ấu thơ của bé trai đối với mẹ, với sông nước, cá thần tiên và tất cả những gì mềm mại, ẩm ướt để đối mặt với thế giới bên ngoài, với bạo lực và máu. Trong hình dung của các nhà nữ quyền, kể từ đây, thân xác của người mẹ đã biến thành cái xấu xa mà đứa bé trai cần phải xa lánh, khinh miệt. Đó là cội nguồn của thái độ thiếu thiện cảm và sợ hãi của nhân vật Hiếu (Những bài học nông thôn), anh thanh niên (Sang sông) và của mọi đàn ông khác đối với thân xác của phụ nữ.

Cùng thể hiện sự phản kháng với tình trạng thiếu vắng chồng, việc Hiên phô bày sức mạnh giới tính, trình hiện thân xác gợi dục trái ngược với thái độ chủ động của Phượng, “nhà cách mạng nữ quyền” trong truyện ngắn Con gái thủy thần: “Tôi ở nhà cô Phượng mấy tháng ròng. Chồng cô Phượng vắng nhà, đang ở nước ngoài, mấy đứa con đi học suốt ngày. Cô Phượng có cách nghĩ về tình yêu khá lạ lùng: Tôi thưởng thức anh, tôi nhắm anh, - cô Phượng bảo tôi, - như thể người ta nhắm món ăn. Tôi và ba mươi triệu người phụ nữ đang rên xiết... Tôi là nhà cách mạng nữ quyền... Cô Phượng bảo tôi: Đàn ông các anh tùy tiện đặt ra luật pháp. Cả chồng tôi nữa. Họ có bà Cả, bà Hai. Họ hưởng lạc giấu giếm... Anh là ông Hai của tôi, anh có thích không? Tôi bảo: Cũng thích. Cô Phượng bảo: Tôi thích bản chất hồn nhiên man rợ của anh. Nó vô học, vô đạo nhưng lành mạnh”. Cho nhân vật Phượng có tiếng nói, thậm chí gay gắt (chứ không khiến họ bị câm bặt, như trường hợp cô gái Mường trong truyện Thổ cẩm) có phải Nguyễn Huy Thiệp đứng về phía phong trào nữ quyền? Xét từ nhiều góc độ, phong trào nữ quyền đóng góp nhiều cho sự tiến bộ của phụ nữ. Nhưng nữ quyền không có nghĩa là thay thế tình trạng bất bình đẳng này bằng tình trạng bất bình đẳng khác, thay thế sự suy đồi này bằng sự suy đồi khác. Tinh thần nữ quyền ở Phượng, mặc dù chỉ là sự kháng cự mang tính cá nhân và đơn lẻ, dọn sẵn một không gian tiềm năng cho khả năng kháng cự tập thể của phụ nữ nhằm giành quyền bình đẳng rất tiếc đã bị tác giả khoác cho gương mặt phóng đãng hiện đại, khiến nó đơn giản chỉ còn là hành vi trả thù chồng/đàn ông. Điều này có thể thông cảm được, vì theo Beauvoir, “Đó là sự tự vệ duy nhất của người đàn bà để chống lại cảnh nô lệ trong gia đình trói buộc mình: ách áp bức của xã hội người đó phải chịu, là hệ quả của ách áp bức về kinh tế” [1, tr.67]. Phượng đạt được quyền áp bức một người đàn ông vì có thể mua được năng lực đàn ông của Chương. Hình ảnh Phượng nằm trên giường phán xét Chương và mọi đàn ông khác là biểu tượng của sự tự mãn nữ quyền nhưng cả Phượng cũng không thể thoát khỏi tù ngục của chế độ gia trưởng: cuối truyện, anh chồng trở về, Chương bị đuổi việc, Mây lên hầu giường chiếu cho chồng Phượng vì “món tiền ông ta cho tôi lớn quá”. Phượng giả vờ thần phục khi chồng ở nhà để thủ lợi khi chồng vắng nhà. Qua Phượng, nữ quyền chỉ còn là một trạng thái bấp bênh nhất thời và giảo quyệt nhằm lấp chỗ trống khi quyền lực gia trưởng vắng mặt. Trong mối quan hệ giữa vợ chồng Phượng với Chương và Mây, vấn đề giới tính quện chặt với vấn đề giai cấp. Đề cao nữ tính, tôn sùng phụ nữ, hạ bệ và mạt sát đàn ông không phải bởi Nguyễn Huy Thiệp theo đòi chủ nghĩa nữ quyền như một mốt đạo đức thời thượng. Ông không ảo tưởng về nữ quyền như một sự thay thế cho quyền lực phụ quyền. Có lẽ ông gần gũi với Kundera hơn: “Mỗi chúng ta ngay từ khi mới ra đời đều đã được đối chiếu với một người mẹ và một người cha, với một nữ tính và một nam tính. Và, như vậy, được in dấu bằng một mối quan hệ hài hòa hay đối nghịch với mỗi vế trong hai mẫu gốc đó. Những kẻ ghét giống cái (ghét đàn bà) không chỉ có trong đàn ông mà cả trong đàn bà, và có bao nhiêu kẻ ghét giống cái thì cũng có bấy nhiêu kẻ ghét giống đực (những người đàn ông và đàn bà đối nghịch với mẫu gốc đàn ông). Những thái độ ấy là những khả năng khác nhau và hoàn toàn hợp pháp của thân phận con người” [4, tr.134].

page622image15258496

3. Kết luận

Với Nguyễn Huy Thiệp, cũng như nhiều nhân vật nam của ông, đề cao tính nữ không có nghĩa là đứng về phong trào nữ quyền đòi hạ bệ đàn ông, lật đổ nam quyền mà là một cách thức xác lập lại bản sắc nam trong quan hệ liên thuộc với bản sắc nữ. Thái độ hạ thấp/đề cao đàn ông/đàn bà trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp tưởng chừng mâu thuẫn nhưng thực chất chứa đựng năng lượng liên thuộc, khiến đối kháng nam/nữ không còn là đối kháng loại trừ nhau mà bí mật thuộc về nhau để tạo nên con người như một toàn thể phức hợp. Với tư cách nhà văn, đối kháng nam/nữ, đàn ông/đàn bà trong cơ cấu tư duy nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp có tính chất lưỡng trị, đã tiến gần đến tính chất tự giải kiến tạo và phức hợp. Với ông vua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, cao hơn nữ tính/nam tính, nam quyền/nữ quyền, cao hơn đối kháng nam/nữ, cao hơn sự khác biệt đến đối lập trong thái độ đối với đàn ông/đàn bà là tình yêu đối với con người như một toàn thể phức hợp, là tranh đấu và hi vọng về tự do, sự yêu thương và mưu cầu hạnh phúc cho con người.

 

 

Tài liệu tham khảo

[1]  Beauvoir. S (1996) Giới nữ, tập 1, (Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

[2]  Bourdieu. P (2018), Sự thống trị của nam giới, (Lê Hồng Sâm dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.

[3]  Eagleton.T (2007), “Chủ nghĩa hậu cấu trúc” trong Lộc Phương Thủy (chủ biên), Lí luận - phê bình văn học thế giới thế kỉ XX (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[4]  Kundera. M (2001), Tiểu luận (Nghệ thuật tiểu thuyết, Những di chúc bị phản bội) (Nguyên Ngọc dịch), Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[5]  Hoàng Ngọc Hiến (2001), “Tôi không chúc bạn “thuận buồm xuôi gió”” trong Phạm Xuân

Nguyên sưu tầm, biên soạn, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.15-16.

[6]  Morin.E (2015), Phương pháp (5) Nhân loại bàn về nhân loại - Bản sắc nhân loại, (Chu Tiến Ánh dịch, Phạm Khiêm Ích biên tập và giới thiệu), Nxb Tri thức, Hà Nội.

[7]  Stein. M (2010), Bản đồ tâm hồn con người của Jung, (Bùi Lưu Phi Khanh dịch), NXB Tri thức, Hà Nội.

[8]  Stevens. A (2016), Dẫn luận về Jung, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

 

Chú thích

1 TS, Khoa Ngữ Văn - Đại học Sư phạm Huế. Email: nguyenvanthuankv@gmail.com

 

Bài đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn học và giới – Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, tháng 10/2019.


Bài khác