Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TỪ DỤ THÁI HẬU CỦA TRẦN THÙY MAI: LỊCH SỬ TỪ GÓC NHÌN NỮ TÍNH
Lấy hậu cung làm bối cảnh chính của truyện, lấy cuộc đời các nhân vật nữ để dẫn dắt sự kiện lịch sử, lấy trái tim phụ nữ để hóa giải những ân oán lịch sử, Trần Thùy Mai đã mang đến cho bạn đọc một tiểu thuyết lịch sử đậm chất nữ tính. Lịch sử với những điều sáng rõ lẫn mơ hồ được nhìn qua lăng kính nữ, quy chiếu từ hình tượng nữ giới bằng tất cả trí tuệ, tâm hồn, tình cảm và khát vọng của họ như là một sự nghĩ khác, nhìn khác và hiểu khác về những điều quen thuộc, những điều vốn đã được mặc định. Tái hiện và lý giải lịch sử từ góc nhìn nữ tính đã khiến Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai mới mẻ hơn, rung cảm hơn, dễ tiếp nhận hơn với người đọc hôm nay.

Nguyễn Thị Tịnh Thy1

Tóm tắt: Lấy hậu cung làm bối cảnh chính của truyện, lấy cuộc đời các nhân vật nữ để dẫn dắt sự kiện lịch sử, lấy trái tim phụ nữ để hóa giải những ân oán lịch sử, Trần Thùy Mai đã mang đến cho bạn đọc một tiểu thuyết lịch sử đậm chất nữ tính. Lịch sử với những điều sáng rõ lẫn mơ hồ được nhìn qua lăng kính nữ, quy chiếu từ hình tượng nữ giới bằng tất cả trí tuệ, tâm hồn, tình cảm và khát vọng của họ như là một sự nghĩ khác, nhìn khác và hiểu khác về những điều quen thuộc, những điều vốn đã được mặc định. Tái hiện và lý giải lịch sử từ góc nhìn nữ tính đã khiến Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai mới mẻ hơn, rung cảm hơn, dễ tiếp nhận hơn với người đọc hôm nay.

Từ khóa: Từ Dụ thái hậu, Trần Thùy Mai, phụ nữ, tiểu thuyết, lịch sử

1. Mở đầu

Từ Dụ thái hậu là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trần Thùy Mai. Đây không phải là một thử nghiệm, thử bút với thể loại tiểu thuyết lịch sử, mà là sự kết tinh của tri thức lịch sử và văn hóa, tài năng văn chương đặc biệt và tình yêu sâu nặng đối với chốn kinh kỳ của tác giả. Chính trường nhà Nguyễn qua bốn đời vua từ thời Gia Long đến đầu thời Tự Đức với những cơn sóng nổi và sóng ngầm hiện lên sinh động và hấp dẫn qua 69 chương sách. Đặc biệt, tâm điểm của bức tranh lịch sử - văn hóa toàn cảnh đó không phải là các bậc đế vương lừng lẫy, cũng không phải các khanh tướng kiệt xuất được lưu danh thiên cổ, mà là những người phụ nữ vừa rất bình thường vừa rất phi thường - những người “sinh ra vua”. Lịch sử với những điều sáng rõ lẫn mơ hồ được nhìn qua lăng kính nữ, quy chiếu từ hình tượng nữ giới bằng tất cả trí tuệ, tâm hồn, tình cảm và khát vọng của họ như là một sự nghĩ khác, nhìn khác và hiểu khác về những điều quen thuộc, những điều vốn đã được mặc định. Đó chính là cách tái hiện và lý giải lịch sử đậm chất nữ tính, nữ quyền của của Trần Thùy Mai trong Từ Dụ thái hậu.

2. Nội dung

2.1. Từ Dụ thái hậu - tác phẩm của người viết nữ

Tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu bao quát một thời kỳ lịch sử dài nửa thế kỷ, trải qua bốn đời vua. Đây là thời kỳ khá bình yên so với thời kỳ sau, khi mà người Pháp bắt đầu nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta. Tuy nhiên, những xung đột trong nội bộ gia tộc, những âm mưu giữ ngôi và soán ngôi, những căng thẳng giữa mẹ chồng nàng dâu... cũng đủ để nói lên sự phức tạp của lịch sử triều Nguyễn. Bằng vốn hiểu biết khá phong phú và vững vàng về lịch sử có từ việc tham khảo nhiều nguồn tư liệu chính sử, dã sử, truyền thuyết dân gian, thơ ca dân gian... kết hợp với sức tưởng tượng, hư cấu một cách hợp lý, nhà văn Trần Thùy Mai thể hiện bản lĩnh của một cây bút nữ biết điều hòa giữa tư chất khoa học và tư chất nghệ thuật để viết nên bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ này. Chặt chẽ, khéo léo và duyên dáng, Trần Thùy Mai đã chọn con đường đi vào chính sử bằng văn học - một con đường lắm chông gai mà dường như các tác giả nữ thường không muốn, không dám bước vào.

Điểm lại lực lượng sáng tác tiểu thuyết lịch sử trong nước, có thể thấy rõ tính chất dương thịnh âm suy. Giữa rừng gươm bút với các tên tuổi như Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Hà Ân, Nguyễn Đức Hiền, Nghiêm Đa Văn, Đan Thành, Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Văn Phú, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Quang Thân, Bùi Việt Sỹ, Vũ Ngọc Tiến, Trần Thanh Cảnh, Uông Triều... chỉ lác đác vài bông hoa bút Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Nguyễn Thu Hiền (Hoàng đế Quang Trung), Nguyễn Anh Đào (Người con Trang Sơn Đông) và bây giờ là Trần Thùy Mai với Từ Dụ thái hậu. Có thể, do lịch sử luôn gắn với tranh đoạt, chiến tranh, chính trị, đó là những vấn đề lớn lao và gai góc cần phải truy tìm, tra cứu, lý giải... rất tốn thời gian và công sức? Có thể, do đề tài lịch sử vốn khô khan, tàn khốc không phù hợp với những tâm hồn nhạy cảm, mẫn cảm và mềm mại của phụ nữ? Có thể, sức tưởng tượng của phụ nữ không vươn lên tầm vĩ mô, chỉ phù hợp với những vấn đề “bé mọn”, gần gũi, đời thường? Có thể, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, tự trong nếp nghĩ, phụ nữ luôn nghĩ việc quốc gia đại sự, kinh bang tế thế là của đàn ông, chuyện bếp núc, gia đình, yêu đương thù hận, tâm lý tình cảm thì hợp với mình?...vv... Vì thế, trong thể loại tiểu thuyết trên thế giới nói chung và văn đàn Việt nói riêng, bóng dáng nhà văn nữ vô cùng thưa vắng. Trong bối cảnh đó, việc Trần Thùy Mai hoàn thành Từ Dụ thái hậu - bộ tiểu thuyết trường thiên về triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta, bao quát đủ chuyện từ binh đao khói lửa, tranh quyền đoạt lợi, vu cáo hãm hại, yêu đương thề hẹn, ghen tuông hờn giận... với khoảng không gian và thời gian rộng lớn, bút lực dồi dào, bút pháp nhuần nhuyễn, cấu tứ chặt chẽ... là sự khẳng định tầm vóc và khả năng của nhà văn nữ viết về đề tài lịch sử.

Từ đặc điểm của một cây bút nữ viết về phụ nữ, Trần Thùy Mai đã đặt lịch sử trong cảm quan nữ giới, góc nhìn nữ giới, khiến cho tác phẩm Từ Dụ thái hậu mang màu sắc nữ tính rất rõ từ bối cảnh của truyện, tình huống truyện cho đến nhân vật. Không khai thác hình tượng nhân vật nữ trong lịch sử như những truyện nhi nữ thường tình đượm màu son phấn và sắc dục, Trần Thùy Mai chú ý đến trí tuệ, khát vọng, tình cảm và đức hạnh của họ. Đằng sau cuộc đời của mỗi một nhân vật nữ, lịch sử hiện lên đủ đầy, sống động và sâu sắc như một bức tranh đa diện đa phương.

2.2. Lịch sử nhìn từ quyền năng trí tuệ và tham vọng quyền lực của người phụ nữ

Khi viết về lịch sử của thời kỳ phong kiến, các nhà văn cho dù sáng tác theo quan điểm truyền thống trọng nam khinh nữ hay quan điểm phản tư, nữ quyền cũng đều tuân thủ nguyên tắc mỹ học “trai tài gái sắc”. Nếu đề cao nữ tính, nhấn mạnh yếu tố “tài” ở nhân vật nữ như Võ Tắc Thiên trong Nữ hoàng của Sơn Táp, Từ Hy thái hậu trong Nữ hoàng cuối cùng của Anchee Min thì trước khi thể hiện tài năng, tác giả vẫn không quên tạo ấn tượng ban đầu cho độc giả về yếu tố “sắc” của nhân vật. Trần Thùy Mai có quan điểm khác, phụ nữ trong tiểu thuyết của bà xác lập vị thế của mình trong đời sống và trong lịch sử bằng trí tuệ, tài năng và tham vọng quyền lực của mình, “sắc” chỉ là một chút xinh xắn ở thiếu nữ, một chút duyên dáng ở mệnh phụ. Họ không khẳng định mình bằng vốn liếng trời cho, mà bằng chính sự nỗ lực vươn lên cũng như tham vọng cá nhân đầy trần tục, phàm tục.

Với trí tuệ, tài năng và tham vọng quyền lực, nhân vật nữ trong Từ Dụ thái hậu đủ bản lĩnh để khẳng định “cái tôi” của mình, dù là cái tôi quyền uy như Nhị phi; cái tôi thân phận như Nguyễn Thị Bảo, Hạnh Thảo, Đẩu Nương...; cái tôi bi thương và sai lầm như Tống Thị Quyên, Cam Lộ...

Trong ba người đàn bà có địa vị cao nhất của triều Gia Long hoàng đế, Nhị phi Trần Thị Đang tuy không phải chánh cung, nhưng là người nắm nhiều quyền lực nhất. “Bởi hoàng hậu vốn hiền lành, mà lại thường xuyên đau yếu; Nhị phi thì lanh lợi, mạnh mẽ quyết đoán, nên quyền thưởng phạt sau cùng thực ra nằm trong tay bà” [4, tr.26].

Được thu nhận làm cung tần cho vua Gia Long trong những ngày vua phải chạy trốn sự truy đuổi của quân Tây Sơn, Nhị phi theo vua rày đây mai đó, lúc ra Phú Quốc, lúc sang Xiêm La. Nhà vua lao tâm khổ tứ về việc khôi phục vương triều nên chẳng mấy quan tâm đến nữ sắc, hơn nữa, đối với vua lúc ấy, “Nhị phi không có chút hấp dẫn gì hết” [4, tr.28]. Phải sau mười năm lênh đênh, nhà vua chiếm được miền nam, xây thành Gia Định, Nhị phi mới sinh con đầu lòng là hoàng tử Đảm. Ngay cả khi chiếm được thành Phú Xuân, lập nên triều Nguyễn của mình, hoàng đế Gia Long hầu như cả năm không ngự tới cung của Nhị Phi. Tuy vậy, “bà vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến những quyết định của ngài”, bà là người mà ngài thừa nhận là “nể nhất”. Nhà vua nể Nhị phi vì bà trưởng thành trong gian khó, thông minh, mạnh mẽ, quả cảm, quả quyết, đã muốn gì thì quyết đạt cho bằng được. Minh Mạng hoàng đế sợ mẹ mình bởi nhận thấy bà “can đảm, khôn ngoan, nhiều tham vọng” và “lúc nào cũng xem quyền lực là trò chơi đầy đam mê”.

Bằng tài trí của mình, Nhị phi đã đưa con trai và cháu nội là hai vị vua Minh Mạng và Thiệu Trị liên tục lên ngôi giữa những tranh chấp khốc liệt trong nội bộ hoàng tộc. Kết giao với người có uy tín, thuyết phục nhà vua về tính hợp lý của người thừa kế, bà đã loại các “đối thủ” khác một cách dễ dàng. Trực tiếp nuôi dạy hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng), hoàng tôn Tông (vua Thiệu Trị), bà đã tạo cho họ tư cách và tính cách đế vương từ lúc còn thơ bé. Việc hai vị này bước lên được ngai vàng một phần rất lớn nhờ vào sự rèn giũa, tính toán, sắp đặt của bà.

Trần Thùy Mai quan tâm đến vai trò của nữ giới, tiếng nói của nữ giới và cách nhìn nhận các sự kiện lịch sử của nữ giới. Họ là những người “sinh ra vua” như Nhị phi và Phạm Thị Hằng, tri âm với vua như Nguyễn Thị Bảo, hiểu tận cùng tâm cơ của vua như Hạnh Thảo. Khi vua Gia Long thường xuyên ngự ở cung của Tam phi Ngọc Bình, Nhị phi và những người khác chỉ nhìn thấy động cơ say đắm nhan sắc, họ ghen với Tam phi vốn là hoàng hậu của vua Quang Toản triều Tây Sơn (ngụy triều) mà lại được nhận nhiều sủng hạnh của đương kim hoàng thượng. Chỉ có cung nữ Hạnh Thảo hiểu hết nguồn cơn của sự sủng hạnh này: “Hoàng thượng một tháng dù có đến cung Tam phi cả ba mươi hôm đi nữa, đâu có nghĩa là Tam phi được yêu thương đâu?... Tam phi chỉ là một tù binh đáng thương, hoàng thượng thích đến với bà ấy có lẽ chỉ để tận hưởng cái cảm giác của người chiến thắng... Mồ mả của Tây Sơn chỉ có thể khai quật một lần. Còn Ngọc Bình, hoàng hậu Tây Sơn, chính là một ngôi mộ sống, hết ngày này sang ngày khác liên tục bị khai quật cày xới!...” [4, tr.112-113]. Người đọc không chỉ ngỡ ngàng nhận ra sự tàn nhẫn của bậc đế vương mà còn ngạc nhiên với sự sắc sảo trong nhận thức của cung nữ Hạnh Thảo. Đặt lời bình luận này vào nữ tỳ Hạnh Thảo chứ không phải vào một bậc thượng thư, Trần Thùy Mai đã nâng địa vị và giá trị của phụ nữ lên một bậc, thể hiện sự coi trọng đối với trí tuệ nữ.

Có thể nói lịch sử triều Nguyễn trong tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu là lịch sử của hậu cung với nhân vật trung tâm là Nhị phi. Mọi diễn biến trong nội bộ cung đình và hoàng tộc, mọi quyết sách của triều đại đều có liên quan đến bà. Vua Minh Mạng từng nhiều lần thán phục mẹ mình: “Mẹ! Mẹ nhìn xa trông rộng, sắp đặt trước mọi việc, quả là người tạo ra thời thế”, “Mẹ đúng là người sinh ra vua!” [4, tr.185-162]. Hoàng phi Ngô Thị Chính thì cho rằng bà là người mưu sâu kế hiểm. Người đa mưu túc trí như Tả quân Lê Văn Duyệt cũng chấp nhận thất bại trước bà: “Ta đã thua một người đàn bà rồi... Bà ta ghê gớm lắm, ghê gớm hơn ta tưởng... Từ chuyện không lập tể tướng, không lập hoàng hậu, chuyện ban hành các bài Đế hệ thi và Phiên hệ thi, bắt dòng dõi các phiên vương đổi từ Nguyễn Phúc thành Tôn Thất... Tất cả đều nhằm vào một việc là củng cố quyền lực của hoàng đế, Là khẳng định tính chính danh của đệ nhị chánh hệ. Tất cả là mưu trí của bà ta. Ta phải trả giá vì đánh giá bà ta quá thấp” [4, tr.322]. Bản thân Nhị phi thì thừa nhận: “Từ lúc làm dâu nhà Nguyễn, hết trải qua chiến trường ngoài đời lại đến chiến trường trong cung cấm, nhiều khi sống chết trong gang tấc mà ta vẫn an toàn thủ thắng... Là vì Trời cho ta cái linh khiếu đặc biệt lắm” [5, tr.112-113]. Linh khiếu đó chính là sự nhạy cảm, thông minh, kết hợp với tham vọng chi phối quyền lực bất chấp thủ đoạn. Nhờ linh khiếu đó, bà luôn ra tay trước người khác, luôn đạt được mục tiêu của mình, và thậm chí là luôn điều khiển được lịch sử. Những người đàn ông vốn lẫy lừng đều lao đao vì bà, họ có thể hận bà, oán bà; nhưng vẫn không khỏi khâm phục bà. Có thể nói, Nhị phi trong văn học là một sáng tạo của Trần Thùy Mai so với Nhị phi trong lịch sử vốn “tính kiệm ước, hiền từ nhanh nhẹn, thiệp lịch (làu thông) kinh sử” [7(T2), tr.44], “rất từ ái đối với dân”, “rất kính tín đạo Phật” [1, tr.282]; “thường thong dong bảo Hiển Tổ về việc tin dùng người cũ tuân theo phép nước, khéo nối chí, ... Lại cho bài luận về vua tôi, dạy bảo cặn kẽ, nên nghĩ kỹ về tiết kiệm, chớ xa xỉ về ăn uống, sửa sang vườn tược để làm vui” [7(T2), tr.40-41]. Nhà văn đã nhấn mạnh vai trò lịch sử của Nhị phi ở những quyết định cứng rắn hơn là ở đức hiền minh.

Nhị Phi từng nói với hoàng tôn Tông: “Loài cỏ cây chen lấn nhau để giành đất sống, loài người cũng vậy. Trong chốn cung đình này càng như vậy! Một là đạp người khác xuống để vươn lên, hai là chịu giày xéo dưới gót chân người khác” [4, tr.68]. Đó không chỉ là quan điểm sống của riêng Nhị phi, mà là của hầu hết các phi tần, quận chúa. Biết được quy luật ai làm chủ nội cung cũng sẽ tác động rất lớn đến triều chính, họ đều tranh thủ địa vị cho bản thân và con cái mình. Vì thế, Anh Duệ vương phi Tống Thị Quyên liều lĩnh cầu viện và kết giao với linh mục để đổi lấy ngôi báu cho con trai là hoàng tôn Đán: “... Con thật lòng cầu mong cha giúp đỡ. Hãy tin con. Nếu con trai con được lên ngôi báu, con sẽ bảo nó cải đạo, nó sẽ là vị vua Thiên Chúa giáo đầu tiên của nước này” [4, tr.89]. Hiền phi Ngô Thị Chính muốn cầu thân với trọng thần Trương Đăng Quế cho tiền đồ của hoàng tử Miên Hoằng. Quận chúa Ngọc Lê (phu nhân của Trương Đăng Quế) rất vui mừng khi Hiền phi hứa hẹn: “Nay mai nếu Miên Hoằng lên ngôi hoàng đế, con gái của quận chúa tất nhiên sẽ là hoàng hậu!” [5, tr.174]. Cam Lộ một hai khuyên Miên Tông tranh thủ sự che chở của thái hậu để được chọn làm người kế vị. Bình Thái Phu nhân khuyên Hồng Bảo: “Một là làm vua, hai là chết!”... Hầu như việc tranh giành ngôi báu trở thành việc của riêng phụ nữ. Những người đàn ông khác hoặc là ơ thờ, hoặc a dua, hoặc phó thác cho sự lựa chọn của nhà vua.

Vua Minh Mạng còn khang kiện nhưng rất nhiều người là vợ con ông đều đã tính chuyện tranh quyền đoạt lợi từ sớm, đến mức Miên Tông ngao ngán: “chắc họ mong cho phụ hoàng băng hà...”. Đỉnh điểm của tham vọng và cơn sốt quyền lực là giây phút hoàng đế Minh Mạng ốm nặng. Trương Đăng Quế lật đật vào cung, quận chúa Ngọc Lê quýnh quáng kéo tay con gái là Thúy Nương dắt ra, níu tay áo chồng dặn thầm: “Đừng quên nghĩ tới tương lai của Thúy Nương”. Trong cung, bên long sàng của vua, Hiền phi khóc xin: “Xin thánh thượng mở lượng trời biển, cho Miên Hoằng được kế vị...”. Rốt cuộc, người được chọn là Miên Tông. Thái hậu đắc ý, còn các mệnh phụ, quý phi khác đều điêu đứng.

Chính tham vọng quyền lực của nữ giới là giềng mối của mọi âm mưu, mâu thuẫn, xung đột. Dòng họ Lê Văn Duyệt bị tru di, Phạm Đăng Hưng bị ghẻ lạnh, Tống Thị Quyên bị dìm chết, Mỹ Đường điên dại vì mang án loạn luân nhơ nhuốc, Tĩnh Hảo bị đâm chết khi sắp sinh con đầu lòng,... tất cả đều có liên quan đến nữ giới. Dường như lịch sử đầu triều Nguyễn là lịch sử của hậu cung, và nói chính xác hơn là lịch sử của những cuộc “cung đấu” không cân sức mà phần thắng luôn thuộc về Nhị phi.

Các nhân vật nữ của nhà văn Trần Thùy Mai đều tồn tại trong không gian cung đình - vốn là chỗ của đàn bà đẹp. Tuy nhiên, Trần Thùy Mai hầu như không chú ý đến nhan sắc của tam cung lục viện. Càng là nhân vật chính, lại càng bị bỏ qua yếu tố ngoại hình. Không có màn mỹ nhân kế nào diễn ra để khuynh đảo triều chính. Tác giả tập trung khắc họa nhân vật nữ thông qua trí tuệ, mưu lược và tham vọng. Tham vọng của người phụ nữ đã thúc đẩy bánh xe lịch sử quay. Đó chính là cách nhìn khác về lịch sử của nhà văn Trần Thùy Mai trong tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu.

Trần Thùy Mai không muốn quy kết lịch sử cho nữ giới theo motif “má hồng là nước lụt” (người đàn bà đẹp là nguồn gốc của tai họa) hoặc “hậu phi tham chính gây họa” [3, tr.24], tác giả cũng không quy trách nhiệm về sự hưng vong của triều đại cho nữ giới như các tiểu thuyết về đề tài hậu phi từng thực hiện. Đặt bên cạnh các nhân vật nam, nhân vật nữ của Từ Dụ thái hậu đều là chủ nhân lịch sử chứ không phải là công cụ lịch sử. Bằng tất cả những tố chất của người nữ, mỗi người trong số họ đều có những tác động khác nhau để đẩy bánh xe lịch sử quay.

2.3. Lịch sử nhìn từ khát vọng hạnh phúc của nữ giới

Có hai tuyến truyện song song phát triển trong cốt truyện của tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu. Đó là tuyến truyện gia tộc và tuyến truyện tình yêu. Nếu Nhị phi là nhân vật trung tâm của tuyến truyện gia tộc thì Phạm Thị Hằng - Từ Dụ thái hậu là nhân vật trung tâm của tuyến truyện tình yêu. Qua nhân vật Phạm Thị Hằng, Trần Thùy Mai đã thể hiện khát vọng hạnh phúc của nữ giới một cách tha thiết và mạnh mẽ. Đồng thời, chính khát vọng này đã khiến cho nhân vật chính Phạm Thị Hằng mang dấu ấn sáng tạo của nhà văn với nhiều khác biệt so với nhân vật lịch sử.

Đúng như nhận định của nhiều học giả, “nhà sử học chỉ quan tâm sự kiện, nhưng chỉ nhà văn mới quan tâm con người” [9]. Nhà văn Trần Thùy Mai đã xây dựng nên một hình tượng Phạm Thị Hằng hiền lành, đoan chính, nhân hậu và quả cảm. Là con gái duy nhất của quan thượng thư bộ lễ Phạm Đăng Hưng liêm chính, nàng không mang vẻ kiêu kỳ khuê các mà luôn chất phác, giản dị. Mẹ mất sớm, Hằng quen tự lập, chịu thương chịu khó. Yêu hoàng tôn Miên Tông, nàng về làm dâu hoàng thất và chịu muôn cay ngàn đắng, chết đi sống lại bởi không được lòng bà nội chồng là Thái hoàng thái hậu Trần Thị Đang (Nhị phi). Để cứu giọt máu còn lại của gia tộc Lê Văn Duyệt, nàng đã phải cải trang trong đêm khuya đến nhờ cậy Trương Đăng Quế giúp đỡ. Thương những phận đời bất hạnh trong hoàng gia, nàng xin vua Minh Mạng lập nên viện giáo dưỡng để chăm sóc họ. Chồng lên ngôi vua, nàng được phong Hoàng quý phi, lại phải buồn khổ vì Thái hoàng thái hậu nổi giận. Vua Thiệu Trị băng, con trai của nàng là Hồng Nhậm trở thành vua Tự Đức, nàng trở thành Từ Dụ thái hậu. Thái hậu lại âu lo cho tính mạng của kẻ phản bội Hồng Bảo, phải đối mặt với tin đồn về mối quan hệ riêng với cố mệnh đại thần Trương Đăng Quế... Sau tất cả những sóng gió, thái hậu quyết định lui vào, không dự bàn vào việc triều chính nữa.

Cuộc đời của Phạm Thị Hằng trong tiểu thuyết Trần Thùy Mai thể hiện rất rõ khát vọng hạnh phúc của nữ giới. Đó là hạnh phúc đời thường với tình yêu vợ chồng son sắt. Vì thế, Trần Thùy Mai đã tạo nên một cuộc gặp gỡ lãng mạn giữ Hằng và Miên Tông trong đêm thả hoa đăng trên sông Hương. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” cùng với tình cảm nảy nở sau này đã giúp chàng chiến thắng trong cuộc so tài để cưới được nàng. Hằng và Miên Tông là một đôi vợ chồng tâm đầu ý hợp. Giữa hai người không có những khoảng cách thường thấy của vợ chồng hoàng gia. Tình yêu thiết tha nhưng cũng đầy tự trọng và kiêu hãnh đã khiến một lần hiểu lầm cũng đủ để đẩy hai người cách xa hơn một năm trong buồn giận và hờn tủi. Đó cũng chính là lý do Miên Tông ngã vào vòng tay của thứ thiếp Cam Lộ, dẫn đến sự ra đời của Hồng Bảo.

Các nhân vật liên quan đến Hằng cũng đều mang màu sắc chính diện và mẫu mực trong tình yêu và hôn nhân. Thượng thư Phạm Đăng Hưng một mực yêu quý vợ con, dẫu phu nhân chỉ sinh được một gái là Hằng. Tình cảm của ông và cung nữ Hạnh Thảo nảy sinh trong gian khó. Để giữ hạnh phúc cho gia đình ông, Hạnh Thảo đã ra đi, rồi lại trở về khi ông gặp đại nạn. Phu nhân qua đời, ông cưới Hạnh Thảo với tình yêu đã chín muồi qua bao thử thách.

Mối tình của Trương Đăng Quế và Phạm Thị Hằng bắt đầu bằng motif anh hùng cứu mỹ nhân, khi Hằng gặp bọn cướp Đá Vách trong chuyến ra kinh đô đoàn tụ với cha. Đây là một mối tình đẹp. Đẹp vì nó là tình câm nín. Biết Hằng yêu Miên Tông, Trương Đăng Quế lặng lẽ rút lui, lặng lẽ bảo vệ nàng, lặng lẽ yêu nàng cho đến lúc bạc đầu. Giây phút cuối cùng, khi Từ Dụ thái hậu Phạm Thị Hằng quyết định lui vào, không can dự đến triều chính, bà gửi gắm hoàng đế Tự Đức cho Đăng Quế, “cố nén cảm xúc trong lòng, thái hậu đứng dậy, dợm bước vào trong. Đăng Quế vội nói thêm lần cuối: “Từ nay Đức bà không ra bàn chính sự, chắc chẳng bao giờ Quế thấy lại dung nhan. Vậy xin Đức bà nán lại vài giây, để Quế được chiêm ngưỡng những phút cuối cùng”... Thái hậu đứng lại. Đăng Quế lặng nhìn, “cố ghi vào trí nhớ hình ảnh long lanh ấy trước lần cuối cùng bái biệt...” [5, tr.461]. Cao thượng, trong trẻo và tha thiết, tình yêu cũng như sự hy sinh của Đăng Quế là những tình cảm, cảm xúc đẹp đẽ đến nao lòng.

Bên cạnh đó, tình yêu giữa tiểu thư Thúy Nương và ông hoàng thi ca Miên Thẩm, của ca nữ Đẩu Nương với tử tù Hồng Bảo, của phi tần Nguyễn Thị Bảo với vua Minh Mạng... là những câu chuyện thể hiện khát vọng tình yêu chân thành, tự do giữa những ràng buộc khắc khe của lễ giáo phong kiến, lễ nghi triều đình và những cuộc hôn nhân đầy toan tính quyền lực.

Khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ trong Từ Dụ thái hậu không chỉ là tình yêu, mà còn là cuộc sống bình thường như Hạnh Thảo được săn sóc Phạm Đăng Hưng mỗi tối, như Miên Tông có thể nắm tay Hằng đi dạo trong vườn cây, như Nguyễn Thị Bảo tự do làm thơ thả diều... Vì vậy, Trần Thùy Mai đã để cho Từ Dụ thái hậu lui vào, không dự bàn chính sự. Tác giả muốn lưu giữ trong độc giả hình ảnh của một người phụ nữ nhu mì, giản dị, chừng mực và chuẩn mực. Đặt trong thế đối lập với nhân vật Phị phi - người đàn bà can dự rất sâu vào triều chính, có thể thấy niềm ưu ái của nhà văn dành cho mẫu phụ nữ biết giữ lấy vẻ đẹp nữ tính của mình như Từ Dụ thái hậu.

So sánh với nhân vật Từ Dụ thái hậu trong lịch sử, Từ Dụ thái hậu của tiểu thuyết Trần Thùy Mai thay đổi khá nhiều. Trong sử sách, Từ Dụ thái hậu là người “chiếm được sủng ái của vua Thiệu Trị”. “Tính hậu lại thông minh nhớ lâu, hết thảy việc cũ và nghe tuyên đọc các sách, giấy tờ gì, là hiểu ngay, không đợi mở xem, lại vua có hỏi đến, thưa rõ từng điều, không sót” [7(T3), tr.29]. Mỗi khi ngự triều ở điện Khâm Văn nghe chính, vua thường “sai Lệnh bà ngồi sau vách để nghe các quan tâu và xem vua phán có rõ ràng hay không”. Ngoài việc thính chính, Từ Dụ thái hậu cũng là “nhân vật chủ chốt trong việc vận động cho hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi báu” [10, tr.247]. Sau khi lên ngôi, vua Tự Đức nổi tiếng là người con chí hiếu, ngày chẵn hầu cung Từ Dụ, ngày lẻ ngự triều. Ông còn soạn Từ huấn lục ghi lời mẹ dạy, bất cứ chuyện gì “nhà vua cũng nhất nhất thừa hoan theo ý bà” [10, tr.245]. Trong Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu còn ghi lại rằng “vua Tự Đức việc gì cũng trình qua thái hậu rồi mới thi hành” [2, tr.6]. Sau khi vua Tự Đức băng hà, Từ Dụ thái hậu vẫn tiếp tục “dấn thân vào việc chính trị” [10, tr.250] trong các đời vua tiếp theo. Trong tiểu thuyết, nhà văn Trần Thùy Mai đã loại bỏ những chi tiết thính chính, tham chính của Từ Dụ thái hậu; nhấn mạnh những chi tiết thể hiện lòng thương người, vị tha; khắc sâu chi tiết không “lấn tiếm việc ngoài triều” [5, tr.460].

Độ chênh giữa Từ Dụ thái hậu trong lịch sử và Từ Dụ thái hậu trong tiểu thuyết của Trần Thùy Mai thể hiện rõ quan điểm của người sáng tác. Nhà văn Trần Thùy Mai vẫn muốn nhân vật nữ của mình tránh xa những cơn sóng chính trị, được sống bình yên, hưởng hạnh phúc đời thường. Tương tự, nhà văn lý giải quan hệ của Miên Tông với Cam Lộ là hệ quả của việc chàng và Hằng hiểu lầm nhau, hờn giận nhau trong hơn một năm trời; sắp đặt cuộc hôn nhân muộn màng của Phạm Đăng Hưng và Hạnh Thảo sau khi chính thất của Đăng Hưng qua đời thể hiện thái độ không tán thành chế độ đa thê của tác giả. Dường như Trần Thùy Mai không thể chấp nhận những người quân tử - nhân vật chính của mình lại là người đa thê. Vì vậy, vua Thiệu Trị vốn “rất đông con (64 người) lại có lắm vợ, tình cảm của nhà vua được ban phát khắp cả tam cung lục viện” [10, tr.243]; Phạm Đăng Hưng có đến bốn bà vợ và mười người con đều được tỉnh lược còn hai vợ và ít con cái hơn. Một mặt, sự tỉnh lược này xuất phát từ yêu cầu cốt truyện, nhưng mặt khác không kém phần quan trọng, đó là quan niệm về người đàn ông lý tưởng - người chung tình - của tác giả.

Từ khát vọng hạnh phúc của nữ giới, lịch sử trong tiểu thuyết của Trần Thùy Mai trở nên giản dị hơn, gần gũi hơn. Đó là cách Trần Thùy Mai đưa đời thường vào lịch sử và kéo lịch sử về với đời thường, khiến cho khoảng cách giữa lịch sử và đời sống, quá khứ và hiện tại, cung đình và dân dã dần thu hẹp nhờ nhịp cầu chung là tâm tư, mơ ước, khát vọng của phụ nữ muôn đời. Đồng thời, chính điều đó đã giúp tác giả xử lý tốt những tình tiết phức tạp, đa chiều, hồ nghi trong lịch sử triều Nguyễn.

2.4. Hóa giải những tồn nghi lịch sử từ trái tim của người viết nữ

Lịch sử triều Nguyễn trong tiểu thuyết có nhiều vụ án, nghi án trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến Từ Dụ thái hậu. Đó là vụ án loạn luân của hai mẹ con Anh Duệ vương phi Tống Thị Quyên - Mỹ Đường, vụ án Hồng Bảo tự ải và nghi án tình cảm giữa Trương Đăng Quế và Từ Dụ thái hậu. Lịch sử thì tàn khốc, dã sử thì mơ hồ. Trần Thùy Mai đã vén mở những bức màn bí ẩn, ngang trái và nghiệt ngã ấy bằng nhãn quan và trái tim phụ nữ.

Hoàng tôn Đán vốn là con trai trưởng của hoàng tử Cảnh, cháu đích tôn của vua Gia Long và hoàng hậu. Hoàng tử Đảm là con trai trưởng của Nhị phi, thuộc dòng thứ. Hoàng tử Cảnh đoản thọ, quyền nối ngôi phải thuộc dòng trưởng, cho nên hoàng tôn Đán nối ngôi là hợp lý. Tuy nhiên, bằng sự khôn ngoan và nhiều mưu kế, Nhị phi đã giành quyền làm vua cho con trai của mình. Hoàng tử Đảm lên ngôi, trở thành hoàng đế Minh Mạng. Để trừ hậu họa và xác lập vững chắc quyền thống trị của chi phái mình, vua Minh Mạng đặt ra Đế hệ thi (Thơ cho dòng chính - đệ nhị chính phái, dòng dõi làm vua, mặc dù họ thuộc dòng thứ hai chứ không phải dòng trưởng) và mười bài Phiên hệ thi (cho dòng dõi của mười người con trai còn lại của vua Gia Long, gọi là dòng dõi các phiên vương, trong đó có dòng trưởng). Mỗi chữ trong bài thơ sẽ là tên lót cho các vị vương tôn, hoàng thân. Bài Phiên hệ thi cho dòng trưởng của hoàng tử Cảnh bắt đầu bằng chữ “Mỹ”. Nhà vua đổi tên Đán thành Đường, kết hợp với chữ lót thành Mỹ Đường, em trai Mỹ Đường có tên Mỹ Thùy. Tống Thị Quyên ấm ức: “Đến cái tên của mình, giờ đây các con tôi cũng phải chịu theo ý người ta rồi! Trời đất hỡi! Nghe cái tên mà đủ thấy sự mềm yếu, lệ thuộc! Nghe như người ta rút xương mình!” Mỹ Đường và Mỹ Thùy cũng tức giận không kém, họ cho rằng đó là những cái tên “đàn bà”, “tên lại cái” đầy “kệch cỡm” [4, tr.169]. Từ sự bất bình đó, trong nội cung và hoàng tộc ngấm ngầm rất nhiều đợt sóng “lo toan và dự tính quyền lực”.

Dĩ nhiên, việc tranh đoạt ngôi báu tập trung vào mẹ con Tống Thị Quyên và những người ủng hộ họ. Bởi vì ngôi báu lẽ ra phải thuộc về Mỹ Đường. Vì vậy, họ vẫn là đối thủ số một của Nhị phi và vua Minh Mạng. Mưu đồ vương bá của họ chỉ thực sự chấm dứt khi xảy ra vụ án Tống Thị Quyên thông dâm với con trai là Mỹ Đường. Tả quân Lê Văn Duyệt nhận kiếm lệnh của vua Minh Mạng buộc phải xử tử Tống Thị Quyên ngay trong đêm mà không cần xét xử. Người mẹ bị nhận chìm xuống sông, Mỹ Đường, Mỹ Thùy và con cháu họ từ nay vĩnh viễn bị xóa tên trong sổ tôn thất. Vụ án chấn động đất trời này được tác giả Trần Thùy Mai cật vấn lại trong những dòng trao đổi căng thẳng và gay gắt giữa vua Minh Mạng với Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng. Nhà vua lớn tiếng khép tội, hai đại thần một mực đòi điều tra rõ ràng. Rốt cuộc, Mỹ Đường và Mỹ Thùy vẫn bị kết án, Lê Văn Duyệt rơi vào kế điệu hổ ly sơn phải vào Nam nhậm chức, Phạm Đăng Hưng bị nhà vua ruồng rẫy. Những uất hận của Lê Văn Duyệt, đau đớn của Phạm Đăng Hưng, thương xót của thái trưởng công chúa Ngọc Tú và Hạnh Thảo đối với mẹ con Tống Thị Quyên đã cho thấy tấm lòng của tác giả đối với các nạn nhân trong vụ án cung đình này. Bằng con đường gián tiếp, Trần Thùy Mai đã phần nào cởi bỏ oan khiên cho một người đàn bà gặp quá nhiều bất hạnh trong đời, cho dù bà ta từng là người khao khát quyền lực cho con trai đến mức phạm sai lầm. Cùng với trí tuệ nữ trong việc sử dụng ngôn từ sắc bén, chặt chẽ, trái tim phụ nữ, tâm lý nữ đã giúp nhà văn xử lý tài tình và đầy cảm xúc trường đoạn này, mang lại một nỗi đồng cảm rất lớn cho độc giả đối với những con người thất bại trong ván cờ quyền lực. Lại nữa, dù không trực tiếp thể hiện qua câu chữ, Trần Thùy Mai đã tỏ thái độ bất bình với đòn trừng phạt, triệt hạ quá mức nặng nề, thâm hiểm của vua Minh Mạng đối với chị dâu của mình. Đồng thời, thông điệp ngầm của tác giả là lịch sử thuộc về kẻ mạnh; văn chương, trong một chừng mực nào đó, sẽ viết lại lịch sử, cởi bớt oan khiên cho kẻ thất thế oan khiên.

Vẫn là chuyện phế trưởng lập thứ, đến thời Tự Đức lại lặp lại với hoàng tử Hồng Bảo. Hồng Bảo sinh trước, nhưng lại là con thứ thất, Hồng Nhậm sinh sau, nhưng là con chánh thất. Vua Thiệu Trị chọn Hồng Nhậm nối ngôi, trong lễ đăng quang, “Hồng Bảo ngã vật ra trên chiếu, miệng thổ huyết” [5, tr.380]. Sau khi Hồng Nhậm lên ngôi (tức vua Tự Đức), Hồng Bảo âm mưu với một số tín đồ Thiên Chúa giáo tìm cách giành lại ngôi báu. Nhiều lần như thế, Hồng Bảo bị án chung thân. Cuối cùng Hồng Bảo thắt cổ chết trong ngục. Vua Tự Đức nghe tin, không cầm được nước mắt. Từ Dụ thái hậu băn khoăn, buồn phiền: “Hồng Bảo chết âm thầm trong ngục, người đời tất nhiên nghi ngờ, thế nào cũng thêu dệt là triều đình thủ tiêu Bảo... Cái thị phi này sẽ dai dẳng đến muôn đời” [5, tr.440]. Băn khoăn đó thể hiện sự nhạy cảm của Từ Dụ thái hậu trước một tình huống éo le, bất lợi cho mẹ con bà. Đồng thời, viết nên những băn khoăn này, nhà văn Trần Thùy Mai đã chiêu tuyết cho Từ Dụ thái hậu, bởi vì rất nhiều sử liệu cho rằng “Từ Dụ là một trong những nhân vật chủ trương tiêu diệt gia đình Hồng Bảo nhằm mục đích “nhổ cỏ phải nhổ cả rễ”. Riêng vua Tự Đức vì yếu đuối mù quáng nghe lời mẹ nên đành phải nhận một vết nhơ đối với gia tộc và lịch sử, nhưng thâm tâm nhà vua vẫn luôn luôn hối hận đau khổ về việc này” [10, tr.249]2. Sự chiêu tuyết của Trần Thùy Mai cho thấy niềm tin yêu của nhà văn đối với nhân vật nữ mẫu mực của mình. Đồng thời, cách bố trí tình tiết này rất hợp với tính cách nhân hậu, tâm lý đa đoan của nhân vật Từ Dụ mà tác giả đã xây dựng nhất quán trong tiểu thuyết cũng như góp phần khẳng định sự vô can của mẹ con bà trong vụ án thảm khốc này.

Liên quan đến việc “phế trưởng, lập thứ”, đưa Hồng Nhậm bước lên ngai vàng, lịch sử có nhiều cách lý giải khác nhau. Nhiều người cho rằng sở dĩ Trương Đăng Quế tận tâm tận lực với việc này và việc dẹp “Loạn Chày Vôi” (do Đoàn Hữu Trưng cầm đầu vào tháng 9 năm 1866, âm mưu lật đổ vua Tự Đức, đưa con trai của Hồng Bảo là Đinh Đạo lên ngai vàng, nhưng đã bị thất bại) là vì mối quan hệ đặc biệt giữa ông và Từ Dụ thái hậu. Ông tư thông với Từ Dụ thái hậu, sinh ra Hồng Nhậm, nên hai người này đã tìm mọi cách đưa Hồng Nhậm lên kế vị3. Có nhiều ý kiến phản bác các lời đồn đãi trên. Trong bài bi ký khắc trên tấm bia đá ở lăng Tự Đức, đích thân nhà vua giải thích việc mình được vua cha Thiệu Trị chọn lựa là rất hợp tình hợp lý, bởi vì vua Thiệu Trị đặc biệt thương yêu Hồng Nhậm và có chủ ý để Hồng Nhậm nối ngôi từ trước. Nhiều sử gia cũng tìm cách chứng minh sự vô can của Trương Đăng Quế trong việc “phế, lập” của vua Thiệu Trị cũng như không hề có chuyện dan díu giữa vị cố mệnh đại thần này với Từ Dụ thái hậu. Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề “vua Tự Đức là con của ai?” vẫn còn là một nghi vấn [8, tr.13-16].

Nhà khoa học Albert Einstein từng nói: “Phá vỡ một định kiến còn khó hơn phá vỡ một nguyên tử”. Trần Thùy Mai đã phá vỡ định kiến, giải đáp nghi vấn trên bằng cách xây dựng một tình yêu cao khiết qua hình tượng Trương Đăng Quế văn võ song toàn, cúc cung tận tụy, liêm minh chính trực và Phạm Thị Hằng đoan trang tiết hạnh, khắc kỷ phục lễ. Quế và Hằng có duyên mà không phận. Ông lặng lẽ yêu nàng, lặng lẽ dõi theo những thăng trầm trong cuộc đời nàng, lặng lẽ yên lòng lẫn xót xa vì nàng, và chưa hề đi quá ranh giới nam nữ, quân thần. Hằng cũng vậy, nàng luôn coi Đăng Quế như một người anh trai, như một lương đống triều đình mà nàng và các vua nể phục. Nàng luôn yêu thương và chung thủy với Miên Tông, từ khi chàng là hoàng tôn cho đến khi là quân vương của một nước. Mọi hiểu lầm và ác ý của người đời bắt đầu từ hành động đang đêm nàng đã liều mình cải trang đến gặp Đăng Quế để xin chàng cứu vớt giọt máu còn lại của tả quân Lê Văn Duyệt. Vì thanh danh của mình và Đăng Quế, vì uy tín của con trai, Từ Dụ thái hậu đã thẳng thắn chứng minh sự trong sạch của mình trước tất cả các mệnh phụ của triều đình, dập tắt những đồn đoán thâm hiểm. Riêng với Trương Đăng Quế, trong lần gặp cuối, khi ông tha thiết nói với bà: “Quế đã sống vì thái hậu suốt nửa cuộc đời, và niềm mong ước của Quế là một ngày kia được vì thái hậu mà chết”, Từ Dụ thái hậu ngậm ngùi: “Một bà thái hậu, trong mắt mọi người, đã trở thành một ngẫu tượng để mà tôn thờ. Một ngẫu tượng để tôn thờ thì đâu có thể có những nhu cầu như người bình thường được!... Cảm tạ tấm lòng của ngài.” [5, tr.459]. Họ chia tay nhau từ nay, vĩnh viễn. Bởi vì thái hậu quyết định không dự bàn việc triều chính nữa. Đôi mắt thái hậu “rơm rớm ướt”, “Đăng Quế đứng lặng nhìn, cố ghi vào trí nhớ hình ảnh long lanh ấy trước lần cuối cùng bái biệt...”

Cuộc chia tay của hai con người vốn rất gần nhau, cũng chẳng ai đi xa nhưng sao nghe da diết lạ thường. Họ không mất nhau, họ vẫn còn nhau, nhưng vĩnh viễn không có nhau. Cuộc chia tay ấy, tình yêu ấy chính là đức trung trinh của Từ Dụ thái hậu; là sự hy sinh của Trương Đăng Quế; là sự kính ngưỡng, tâm huyết và tài năng văn chương của Trần Thùy Mai.

Mọi tồn nghi lịch sử đã được nhà văn Trần Thùy Mai tiểu thuyết hóa bằng những giải đáp mềm mại thông qua hình tượng nhân vật sống động, truyền cảm. Đặc biệt, hình tượng Từ Dụ thái hậu như một ngẫu tượng với trái tim bao dung và đức hạnh hiền minh đã trở thành cái đẹp vĩnh cửu. Mấy mươi năm lịch sử với chiến tranh, chính trị, tôn giáo; được mất, phúc họa, thăng trầm... chợt nhạt nhòa trước đức hạnh của của người nữ vĩnh hằng. Đó chính là chính kiến, là bản lĩnh của người cầm bút Trần Thùy Mai khi viết về những nghi án lịch sử. Đó cũng chính là tiếng nói vì phụ nữ một cách mạnh mẽ, thẳng thắng nhưng đầy khéo léo và thuyết phục của Trần Thùy Mai.

3. Kết luận

Từ Dụ thái hậu là lịch sử của đời người. “Cuộc đời một cung phi non trẻ, năm 13 tuổi vào cung, trở thành hoàng quý phi, rồi thành thái hậu, quả thật là một câu chuyện rất dài với nhiều khổ đau, hạnh phúc, vinh quang và cả thị phi...” [4, tr.5]. Qua đó, người đọc còn nhận ra nhiều cuộc đời trong một cuộc đời, bởi “mỗi số phận chứa một phần lịch sử”. Đồng thời, điều lớn lao hơn là thông qua những cuộc đời con người, ta thấy được một đoạn đời lịch sử của triều Nguyễn với nhiều điều đáng ngẩng cao đầu lẫn đáng cúi đầu. Lấy hậu cung làm bối cảnh chính của truyện, lấy cuộc đời các nhân vật nữ để dẫn dắt sự kiện lịch sử, lấy trái tim phụ nữ để hóa giải những ân oán lịch sử, Trần Thùy Mai đã mang đến cho bạn đọc một tiểu thuyết lịch sử đậm chất nữ quyền. Lịch sử từ góc nhìn nữ tính đã khiến Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai mới mẻ hơn, rung cảm hơn, dễ tiếp nhận hơn với người đọc hôm nay.

Nhà văn M. Gorki từng nói: “Lịch sử đích thực của con người phải do nhà văn viết chứ không phải do nhà sử học viết” [theo 11, tr.1]. Lịch sử đích thực của Từ Dụ thái hậu do nhà văn Trần Thùy Mai viết đã khắc tạc được chân dung một trong những bà hoàng được yêu quý nhất trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, do muốn nhấn mạnh “tính giản dị, khiêm nhường, lòng nhân và tình thương” của nhân vật, Trần Thùy Mai đã khiến cho hình tượng Từ Dụ thái hậu không sắc nét và thành công như Nhị phi và một số nhân vật khác (tuy nhiên, nhà văn cũng đã sáng tạo vượt quá nguyên tắc của tiểu thuyết lịch sử khi làm thay đổi bản chất của nhân vật Nhị phi so với lịch sử). Đồng thời, kết thúc tác phẩm ở quyết định lui vào, không can dự triều chính của Từ Dụ thái hậu quá vội vã, trong khi tác giả chưa kịp để nhân vật khẳng định mình ở chính trường, khiến cho vai trò lịch sử của nhân vật bị thiếu khuyết, đơn giản và chưa tỏ rõ là bậc mẫu nghi thiên hạ như sử sách từng viết: “Hậu dẫu ở thâm cung, thường lo dân sinh tật khổ. Nghe một phương có giặc hoặc có tai họa gì, thì đau đáu không vui. Thời thường hỏi việc nhà nông có tiện lợi không, hạn thì cầu mưa, lụt thì cầu tạnh...” [7(T3), tr.68] hoặc vua Tự Đức dâng roi xin chịu phạt khi mải mê săn bắn. Những khuyết thiếu đó khiến người đọc có cảm giác chỉ thấy rõ chân dung Phạm Thị Hằng, chưa thấy rõ chân dung Từ Dụ thái hậu “từ ái mà nghiêm” [7(T3), tr.62], giỏi thính chính và tham chính. Vì thế, những phức tạp của nhân vật Từ Dụ thái hậu cùng với những biến động của lịch sử triều Nguyễn xảy ra sau thời Tự Đức với vô vàn sự kiện, vô số quyết định gây tranh cãi của Từ Dụ thái hậu vẫn còn là những sử liệu và bí ẩn lịch sử cần được nhà văn khai thác. Ngoài ra, sự nhầm lẫn giữa niên hiệu, đế hiệu và tên gọi các vua; cách xưng hô của nhân vật và cách gọi tên nhân vật của tác giả cũng như một số phép tắc, điển chế cung đình chưa được chú ý nghiêm ngặt đã khiến tác phẩm tiểu thuyết lịch sử bị vơi bớt chất lịch sử, cho dù người đọc luôn bị cuốn hút bởi cách kể chuyện, dựng chuyện và sự sống động của nhân vật Trần Thùy Mai, như trước nay vốn vậy.

Tài liệu tham khảo

[1]  Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb. Văn hóa Sài Gòn.

[2]  Phan Bội Châu (1959-1960), “Việt Nam vong quốc sử”, Tập san Đại học Văn Khoa, niên khóa 1959-1960.

[3]  Dương Đông Phủ, Lư Tư Phi (2003), Họa hậu phi (Nguyễn Thị Bích Hải & nnk dịch), Nxb. Thanh niên.

[4]  Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu (quyển thượng), Nxb. Phụ nữ.

[5]  Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu (quyển hạ), Nxb. Phụ nữ.

[6]  Nhiều tác giả (1986), Danh nhân Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hóa.

[7]  Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện (tập1,2,3,4), Nxb. Thuận Hóa.

[8]  Phạm Văn Sơn (1962), Việt sử tân biên (quyển 5, tập thượng), Nxb. Sài Gòn

[9]  Trần Đình Sử (2017), “Về tiểu thuyết lịch sử”, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, khai thác ngày 27/06/2019.

[10]  Hồ Bạch Thảo (2017), Việt sử: Tư liệu với lời bàn, Nxb. Hồng Đức.

[11]  Zolina E. N. (2006), “Tiềm năng giáo dục nhân văn của tiểu thuyết lịch sử”, tạp chí IEGU, tập 1.

Chú thích:

1 Nguyễn Thị Tịnh Thy: TS, Khoa Ngữ Văn - Đại học Sư phạm Huế. Email: nguyentinhthy@gmail.com

2 Hồ Bạch Thảo (2017), Việt sử: Tư liệu với lời bàn, Nxb. Hồng Đức, tr.249. Xin xem thêm: Nguyễn Quang, “Giặc Chày vôi của Đoàn Trưng mưu toan truất phế vua Tự Đức thế nào?”,Tạp chí Phổ thông số 32, ngày 15 tháng 4 năm 1960, tr. 41 và “Minh oan Hồng Bảo và Đoàn Trưng”, Tạp chí Phổ thông [bộ mới] số 41, ngày 1 tháng 9 năm 1960, tr. 50; Bức thư của giáo sĩ Galy đăng trong Annales Propagation Foi, năm 1853, tập 25.

3 Xin xem thêm: Truyện Đoàn Hữu Trưng in trong Danh nhân Bình Trị Thiên, nhiều tác giả, Nxb. Thuận Hóa, 1986, tr. 133.

 

***

Bài viết đã được đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Văn học và Giới – Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế

 

 

 

 

 

 

 


Bài khác