Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA MIÊN TRINH TỪ GÓC NHÌN VĂN TỰ HỌC
Bài viết tập trung khảo sát những chữ Hán có bộ nữ biểu ý trong các thi phẩm (933 bài) của Vi Dã hợp tập (Miên Trinh). Về mặt cấu trúc, các chữ Hán được thống kê chủ yếu thuộc loại hình thanh. Một số chữ thuộc loại hội ý, tuy số lượng ít nhưng lại cho thấy được nguồn gốc sâu xa của các từ khiêm xưng của nữ giới. Về mặt ngôn ngữ, những chữ có bộ nữ biểu ý thuộc từ loại danh từ, động từ, tính từ. Trong nhóm từ định danh, đáng chú ý là từ khiêm xưng của người phụ nữ, từ để gọi cách thành viên thân tộc và các mĩ từ dùng để nói về một số người phụ nữ có địa vị bình thường, thậm chí thấp kém như bà góa (sương nga), hầu gái (thị cơ),… Trong nhóm tính từ, số từ mang sắc thái nghĩa tiêu cực xuất hiện ít (đố, vọng, gian, hiềm); đa số là từ đặc tả dáng vẻ mĩ miều, mềm mại, duyên dáng (kiều, nga, yên, tư), đặc biệt là các từ láy tượng hình (niệu na, quyên quyên, a na, sinh đình, vỉ vỉ). Qua cách dùng bộ nữ chỉ ý trong Vi Dã hợp tập, Miên Trinh đã thể hiện thái độ trân trọng, ưu ái cũng như sự tinh tế, nhạy cảm trong thấu hiểu, cảm thông với tâm tư, số phận của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam cuối XIX.

HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA MIÊN TRINH

TỪ GÓC NHÌN VĂN TỰ HỌC

Nguyễn Lãm Thắng

Võ Thị Ngọc Thúy

 Lê Thị Cẩm Vân

Tóm tắt: Bài viết tập trung khảo sát những chữ Hán có bộ nữ biểu ý trong các thi phẩm (933 bài) của Vi Dã hợp tập (Miên Trinh). Về mặt cấu trúc, các chữ Hán được thống kê chủ yếu thuộc loại hình thanh. Một số chữ thuộc loại hội ý, tuy số lượng ít nhưng lại cho thấy được nguồn gốc sâu xa của các từ khiêm xưng của nữ giới. Về mặt ngôn ngữ, những chữ có bộ nữ biểu ý thuộc từ loại danh từ, động từ, tính từ. Trong nhóm từ định danh, đáng chú ý là từ khiêm xưng của người phụ nữ, từ để gọi cách thành viên thân tộc và các mĩ từ dùng để nói về một số người phụ nữ có địa vị bình thường, thậm chí thấp kém như bà góa (sương nga), hầu gái (thị cơ),… Trong nhóm tính từ, số từ mang sắc thái nghĩa tiêu cực xuất hiện ít (đố, vọng, gian, hiềm); đa số là từ đặc tả dáng vẻ mĩ miều, mềm mại, duyên dáng (kiều, nga, yên, tư), đặc biệt là các từ láy tượng hình (niệu na, quyên quyên, a na, sinh đình, vỉ vỉ). Qua cách dùng bộ nữ chỉ ý trong Vi Dã hợp tập, Miên Trinh đã thể hiện thái độ trân trọng, ưu ái cũng như sự tinh tế, nhạy cảm trong thấu hiểu, cảm thông với tâm tư, số phận của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam cuối XIX.   

Từ khoá: văn tự, chữ viết, bộ thủ, phụ nữ, Tuy Lý Vương

                                               

I. DẪN NHẬP

Trong rất nhiều hướng tìm hiểu về hình ảnh người phụ nữ trong văn chương, ngôn ngữ học là một cách tiếp cận hiện đại, trong đó, văn tự học (nghiên cứu về chữ viết) đem đến những cứ liệu cụ thể và xác tín. 

Chữ Hán là một trong số bốn văn tự cổ xưa nhất của loài người còn được sử dụng đến ngày nay. Sự tồn tại của chữ Hán, đặc biệt là ở loại chữ tượng hình, qua thời gian đã tích lũy trong nó dấu ấn của văn hóa, lịch sử, tư tưởng. Những chữ Hán tượng hình đơn giản nhất là các bộ thủ và việc sử dụng chúng để cấu tạo chữ viết đã phản ánh phần nào hiện thực văn minh và quan niệm về thế giới của người Trung Hoa. Người Việt Nam khi vay mượn chữ Hán làm văn tự chính thống trong giao dịch hành chính và sáng tác văn chương cũng tất yếu mang theo những tư tưởng, quan niệm của họ phản ánh trong văn tự. Mặc dù vậy, sự lựa chọn sử dụng chữ Hán nào trong tác phẩm lại mang tính chủ quan của tác giả Việt, do đó, nó phần nào giúp nghĩa chữ Hán trong văn chương Việt Nam có tính độc lập tương đối so với nghĩa của chúng trong nền văn tự Hán nói chung.

Để thấy được những điểm riêng trong cách sử dụng chữ Hán để sáng tác văn chương của người Việt, cụ thể là trong phạm vi thể hiện cái nhìn về người phụ nữ, chúng tôi lựa chọn khảo sát văn bản các thi phẩm trong 葦野合集Vĩ Dạ hợp tập (tổng hợp thơ và văn xuôi của Vĩ Dạ – tên hiệu của Tuy Lý Vương) của綏理王綿寊Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 - 1897). Miên Trinh, ngoài tư cách là một Hoàng tử cao quí, còn là một trong “Nguyễn triều tam đường”, là nhà thơ tiêu biểu của văn học Đàng Trong cuối thế kỉ XIX - giai đoạn cuối của việc sử dụng chữ Hán như văn tự chính thống ở Việt Nam. Từ góc độ văn tự học, để có thể tìm hiểu cái nhìn về người phụ nữ phản ánh qua chữ Hán, chúng tôi khảo sát cách sử dụng bộ thủ nữ của Miên Trinh trong Vĩ Dạ hợp tập.

II. NỘI DUNG

2.1. Giới thiệu chung về bộ nữ trong hệ thống văn tự Hán

Chữ Hán thuộc loại hình văn tự tượng hình biểu ý với nhiều kiểu cấu tạo xoay quanh 214 bộ thủ. Các bộ thủ Hán có tầm quan trọng được ví như “bảng chữ cái” trong hệ chữ viết Latin. Trong hệ thống văn tự Hán, các bộ thủ Hán là những chữ tượng hình ra đời sớm nhất. Có thể phân 214 bộ thủ thành các nhóm theo các trường nghĩa như sau: nhóm về động thực vật (mã, ngưu, khuyển, điểu, trùng, mộc, thảo,…); nhóm về chất liệu (kim, mộc, thạch, mịch,…); nhóm về hiện tượng tự nhiên, thời tiết (nhật, nguyệt, phong, vũ,…) nhóm về màu sắc (bạch, hoàng, thanh,…); nhóm về con người (nhân, tử, nữ, khẩu, mục, nhĩ, tâm, thủ,…), nhóm về các tính chất trừu tượng (đãi, thị, quỉ,…), Trong nhóm bộ thủ về con người, bộ nữ dùng để chỉ con gái (trong sự đối lập với con trai) và những thuộc tính liên quan đến con gái. Điều đặc biệt là người Hán chỉ tạo ra bộ thủ dành cho nữ giới mà không có bộ thủ nào dành riêng cho nam giới. Trong hệ thống văn tự Hán, để chỉ người còn có bộ () nhân, bộ tử, song hai bộ này dùng chung cho cả nam và nữ. Ví dụ: tử (con), tôn (cháu), nhụ (trẻ con), nễ (bạn, ngươi), giai (đẹp), thị  (hầu), nho (học trò, nhà Nho), tiên,… Tuy nhiên, mặc dù không có qui định cụ thể, dường như đã có sự phân biệt giữa vai trò bộ nhân và bộ nữ. Chẳng hạn, đại từ ngôi thứ ba tha (anh ấy, cô ấy) có hai chữ đồng âm tha với bộ / nhân khi người được nói tới là nam, là khi người được nói tới là nữ; để chỉ người đầy tớ, đầy tớ gái được viết với bộ nữ ( nô, ) và đầy tớ trai với bộ nhân ( bộc); để chỉ người tu hành là nam thì có chữ tăng, là nữ thì có chữ ni. Như vậy, tuy không có một bộ thủ đặc thù để cấu tạo chữ, giới nam lại hầu như được mặc định viết với bộ nhân. Sự phản ánh của định kiến về giới vào chữ Hán diễn ra không chỉ ở các chữ để ghi từ định danh sự vật mà còn ở những chữ để ghi từ chỉ tính chất, hoạt động. Những hoạt động, tính chất thiên về sức mạnh thì dùng bộ đặc trưng cho nam: kiệt (xuất sắc), tín (tin), tuấn (tài giỏi), khôi (to lớn), ngụy (dối trá),…; trong khi những hoạt động, tính chất thiên về sự khéo léo thì dùng bộ đặc trưng cho nữ: hảo (tốt đẹp), ngu (vui), kiều (mềm mại, đáng yêu), diệu (khéo léo),… Điểm đáng chú ý là tính từ được viết bằng chữ Hán có bộ nữ rất nhiều, nhiều hơn số lượng tính từ viết bằng chữ Hán có bộ nhân; bộ nhân được dùng nhiều để cấu tạo chữ Hán là danh từ. Hơn nữa, bộ nhân hầu như không được dùng để cấu tạo chữ mang nghĩa tiêu cực. Trọng trách này được đổ dồn lên bộ nữ. Đúng ra, chữ Hán đã có bộ tâm để cấu tạo chữ chỉ tính chất, tâm trạng, nên cũng không cần dùng thêm bộ nữ. Khi đó, tương tự bộ nhân, bộ nữ chỉ cần đảm nhiệm chức năng chỉ ý nghĩa trong các từ định danh. Tuy nhiên, thực tế thì văn tự Hán đã chịu sự chi phối mạnh mẽ của tâm lí, quan niệm, tư tưởng xã hội Trung Hoa cổ trung đại với sự kì thị nữ giới. “Xuất phát từ quan điểm thiên tôn địa ti (trời cao đất thấp) người Trung Quốc đã cho rằng quan hệ nhân sinh cũng thống nhất với quan niệm vũ trụ. Nam giới là tượng dương, ánh sáng, điều tốt đẹp, nữ giới là tượng âm, bóng tối, điều xấu xa” [6]. Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, khi đạo Nho được tôn sùng, đã có sự phân biệt đối xử giữa nam giới và nữ giới. Nho giáo quan niệm “男尊女卑nam tôn nữ ti (nam giới thì cao quí, nữ giới thì thấp hèn), dẫn tới “重男輕女trọng nam khinh nữ, 一男曰有,十女曰无 nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô (có một đứa con trai mới gọi là có, có mười đứa con gái cũng như không có). Không những thế, người phụ nữ còn bị qui định bởi những khuôn phép cực kì khắt khe, bị gán cho những tính nết xấu xa, có phẩm chất và địa vị thấp kém. Điều này tất yếu dẫn đến việc dùng bộ nữ để cấu tạo nên những chữ Hán mang nghĩa tiêu cực, chẳng hạn: đố (ghen tị), gian, vọng (sằng bậy), tật, hiềm, yêu,