Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
PHỤ NỮ, TRẺ EM VÀ NHỮNG ĐỐI THOẠI VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHALED HOSSEINI
Với ba tiểu thuyết Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ, Và rồi núi vọng, nhà văn người Mỹ gốc Afghanistan Khaled Hosseini đã trình ra một Afghanistan đang đau đớn trở mình, một Afghanistan còn đầy những hủ tục, những quan niệm phản nhân văn, đặc biệt trong cái nhìn về giới. Bằng việc tái hiện chân xác đất nước Afghanistan trong những năm tháng chiến tranh, trong những giai đoạn hoang tàn, tăm tối vì các tư tưởng tôn giáo cực đoan, các định kiến về sắc tộc, giới tính, Khaled Hosseini đã giúp thế giới, đặc biệt là người phương Tây biết và hiểu về Afghanistan từ cái nhìn của người trong cuộc. Tác phẩm của Khaled Hosseini không chỉ là lời trần tình, mà còn là lời kêu gọi thức tỉnh, thức tỉnh từ những đối thoại văn hóa. Trong sự thức tỉnh ấy, các vấn đề về phụ nữ và trẻ em đặc biệt được chú ý.

Thái Phan Vàng Anh

 

Tóm tắt: Với ba tiểu thuyết Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ, Và rồi núi vọng, nhà văn người Mỹ gốc Afghanistan Khaled Hosseini đã trình ra một Afghanistan đang đau đớn trở mình, một Afghanistan còn đầy những hủ tục, những quan niệm phản nhân văn, đặc biệt trong cái nhìn về giới. Bằng việc tái hiện chân xác đất nước Afghanistan trong những năm tháng chiến tranh, trong những giai đoạn hoang tàn, tăm tối vì các tư tưởng tôn giáo cực đoan, các định kiến về sắc tộc, giới tính, Khaled Hosseini đã giúp thế giới, đặc biệt là người phương Tây biết và hiểu về Afghanistan từ cái nhìn của người trong cuộc. Tác phẩm của Khaled Hosseini không chỉ là lời trần tình, mà còn là lời kêu gọi thức tỉnh, thức tỉnh từ những đối thoại văn hóa. Trong sự thức tỉnh ấy, các vấn đề về phụ nữ và trẻ em đặc biệt được chú ý.

Từ khóa: Afghanistan, Khaled Hosseini, giới, phụ nữ, trẻ em, chiến tranh, đối thoại văn hóa.

 

Abstracts: With three novels, The Kite Runner, A Thousand Splendid Suns, And the Mountains Echoed, the Afghan-American novelist Khaled Hosseini has presented his country, an Afghanistan society which has many evil customs and 'anti-humanist' conceptions, especially in gender prejudice. By recreating the characteristics of Afghanistan during the war years, in times of crisis due to extremist religious views, gender and ethnic prejudices, Khaled Hosseini has helped the world, especially Westerners, understand Afghanistan from the insider’s perspective. Khaled Hosseini's works are not only the revelations, but also the calls to awaken, awakening from cultural dialogues. In that awakening, the issues of women and children have been given special attention.

Keywords: Afghanistan, Khaled Hosseini, gender, women, children, war, cultural dialogue

 

Sau một thời kì dài các nước châu Á đổi mới theo hướng “dĩ Âu vi trung”, trong một vài thập kỉ trở lại đây, xu hướng tìm về các giá trị phương Đông lại nổi lên như một hiện tượng của xã hội Âu Mỹ hiện đại vốn khát khao tự nhận thức từ cái nhìn của “phía bên kia” với những hệ quy chiếu “khác”. Sự dịch chuyển quan niệm theo hướng học tập bên ngoài, kiếm tìm cái mới, lạ là những tín hiệu cho thấy khoảng cách Đông Tây đã ngày một được thu hẹp cùng khát vọng thấu hiểu, dung nạp “cái khác”. Trong quá trình toàn cầu hóa, gần một thế kỉ qua, các quốc gia trên thế giới đã ngày càng xích lại gần nhau. Hội nhập, đối thoại Đông Tây để đạt đến các giá trị chung trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Tuy vậy, không phải không còn những khu vực ít nhiều vẫn tách biệt với thế giới bởi những đặc thù về văn hóa (trong đó có không ít các yếu tố là rào cản, trở ngại). Nói như Claudio Magris, “có những thành phố nằm trên những đường biên và có những thành phố thì mang trong nó những đường biên và cấu thành bởi những đường biên. Đó là những thành phố mà một số xáo trộn chính trị đã tước đi một phần thực tại của chúng, cái thực tại vùng sâu vùng xa: sự gắn bó mật thiết với phần còn lại của đất nước; lịch sử đã cắt sẻ chúng thành những vết thương và biến chúng thành cái sàn sân khấu thế giới hoặc có thể nói, thành cái sàn sân khấu của những vở kịch phi lí”[1]. Afghanistan là đất nước của những đường biên như thế. Những giới tuyến trong lòng dân tộc và những giới tuyến bên ngoài lãnh thổ đã khiến Afghanistan trở thành khu vực “ngoại biên”. Sự ngăn cách của Afghanistan với thế giới có phần là bởi những khác biệt quá lớn về thể chế văn hóa, trong đó có quan niệm về sắc tộc, tôn giáo, giới tính… nếu nhìn từ phía bên kia giới tuyến.

Một trong những nhà văn viết về quê hương Afghanistan của mình như một cuộc đối thoại văn hóa Đông Tây là Khaled Hosseini - nhà văn người Mỹ gốc Afghanistan. Với ba tiểu thuyết Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ, Và rồi núi vọng, nhà văn lưu vong này đã giúp người Mỹ và thế giới hiểu hơn về văn hóa và xã hội Afghanistan. Đối với các nhà văn lưu vong, việc dùng thứ tiếng nước ngoài (nơi lưu trú) để nói về quê hương của chính mình thường có nhiều trải nghiệm hơn về sự khác biệt văn hóa. Họ có đến “hai lần kinh nghiệm trực tiếp về toàn cầu hoá: qua kinh nghiệm sống ở các thành phố toàn cầu (global cities) ở Tây phương và qua kinh nghiệm lưu vong vốn mang bản chất vượt biên giới và xuyên quốc gia của họ”[2]. Họ luôn mang theo hình ảnh của cố quốc với nỗi ám ảnh phải viết vể nó, kể cả khi phải nhìn trực diện vào những mặt trái và những đớn đau. Khaled Hosseini (người Kabul, hiện sống tại Mỹ) là một nhà văn như thế. Tiếp nhận cả hai nền văn hóa, ông hiểu rõ sức sống bất diệt của Afghanistan và những trì trệ của quê hương. Ông cũng biết rõ người phương Tây và cả thế giới khao khát được biết về Afghanistan và khu vực Trung Đông không chỉ qua những sự kiện có tính chất thời sự mà còn ở bề sâu bản sắc dân tộc. Phản ánh một Afghanistan đa chiều, tiểu thuyết của Khaled Hosseini đã hòa nhập vào quỹ đạo vận hành chung thời toàn cầu hóa. Bằng các tiểu thuyết, Khaled Hosseini đã trình ra một Afghanistan đang đau đớn trở mình, một Afghanistan còn đầy những hủ tục, những quan niệm phản nhân văn, đặc biệt trong cái nhìn về giới đầy định kiến.

Phơi bày đến tận cùng những tăm tối, lạc hậu của quê hương, song tác phẩm của Khaled Hosseini không chỉ là lời trần tình, mà còn là lời kêu gọi thức tỉnh, thức tỉnh từ những đối thoại văn hóa. Trong sự thức tỉnh ấy, các vấn đề về phụ nữ và trẻ em đặc biệt được chú ý. Theo nhà văn, “câu chuyện về điều gì đã xảy ra với phụ nữ Afghanistan là một tác phẩm rất quan trọng, và là một mảnh đất màu mỡ cho tiểu thuyết. Tôi đã bắt đầu tiểu thuyết thứ hai về Afghanistan và cho đến nay mọi nhân vật chính đều là phụ nữ”[3]. Từng trải qua những năm tháng tuổi thơ ở Afghanistan, nhìn xứ sở Afghanistan từ cái nhìn của một nhà văn lưu vong thấu rõ những mảng đen tối của cố hương, qua các trang viết của mình, Khaled Hosseini mong muốn độc giả thế giới chia sẻ và cảm thông hơn với người dân Afghanistan, đặc biệt là những người phụ nữ. Có thể nói, “nuôi dưỡng sự khinh rẻ là một việc dễ dàng, nhưng thấu hiểu là một việc ít dễ dàng hơn”[4]. Bằng việc tái hiện chân xác một Afghanistan trong những năm tháng chiến tranh, trong những giai đoạn hoang tàn, tăm tối vì các tư tưởng tôn giáo cực đoan, các định kiến về sắc tộc, giới tính, Khaled Hosseini đã giúp thế giới, đặc biệt là người phương Tây biết và hiểu về Afghanistan từ cái nhìn của người trong cuộc.

1.    Phụ nữ, trẻ em Afghanistan và bóng ma của chiến tranh, của những định kiến về giới

Afghanistan là đất nước liên miên trong chiến tranh. Chiến tranh trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với mọi người, đặc biệt là với phụ nữ và trẻ em, đối tượng ít có khả năng tự bảo vệ, và phải chịu những “bất hạnh kép” (bất hạnh trực tiếp bởi sự tàn phá của chiến tranh, và bất hạnh gián tiếp bởi những dư chấn chiến tranh lên cuộc đời, số phận). Ở Afghanistan, mâu thuẫn sắc tộc gây ra chiến tranh; xung đột tôn giáo dẫn đến chiến tranh. Trong tiểu thuyết Ngàn mặt trời rực rỡ, Khaled Hosseini cho thấy, ngay cả khi chiến tranh tạm ngưng, đất nước Afghanistan cũng rơi vào hoàn cảnh tồi tệ chả khác gì chiến tranh khi các chiến binh hồi giáo không còn kẻ thù chung lại quay ra coi nhau là kẻ thù, khi bạo loạn vẫn xảy ra khiến hàng chục ngàn người chết[5]. Chiến tranh khiến trẻ em trở thành trẻ mồ côi hoặc bị bỏ rơi ở trại mồ côi bởi bố mẹ không thể nuôi nổi hay bởi những người mẹ đơn thân không được phép ra ngoài kiếm sống. Trẻ em còn chết trong các trại tị nạn vì bạo hành, bệnh tật, đói khát khi theo bố mẹ chạy trốn khỏi quê hương vốn luôn chìm trong khói lửa của các cuộc đụng độ. Hầu hết trẻ em đã phải lớn lên trong tiếng bom đạn, trong sự hiềm nghi trái ngược với truyền thống trọng danh dự của đất nước Afghanistan thời quá khứ hòa bình. Trong những ngày tháng chiến tranh ấy “họ dạy trẻ con do thám cha mẹ mình, chú ý nghe những gì, kể lại với ai” (Người đua diều). Chiến tranh làm méo mó quá trình hình thành nhân cách của những đứa trẻ. Chiến tranh đã đẩy các đứa bé trai vào quân đội với ham muốn giết chóc, với niềm tin tôn giáo mù quáng, với tinh thần dân tộc cực đoan; trước khi chúng kịp hiểu bản chất và hậu quả của chiến tranh. Trong tiểu thuyết Và rồi núi vọng, vì chiến tranh, cậu bé Gholam đã mất tất cả đất đai, nhà cửa, ngay trên chính mảnh đất quê hương. Nơi ở của Gholam trở thành dinh thự, “lâu đài ma túy” của gia đình Adel, thứ duy nhất còn lại của ngôi làng cũ Shadbagh mà Gholam yêu quý hơn tất thảy. Trong dinh thự tráng lệ ấy Adel bị tách biệt với thế giới, cô đơn vì không được đến trường, vì thiếu bạn bè, luôn lo sợ bị bắt cóc hay bố mình có thể bị ám sát bất cứ lúc nào. Và cũng như nhiều đứa trẻ Afghanistan khác, cả Adel lẫn Gholam đều đã phải “nhảy cóc qua tuổi niên thiếu để trưởng thành” bởi bóng ma chiến tranh đã ám ảnh tuổi thơ của chúng bằng cách này hay cách khác. Đáng nói hơn, trẻ em Afghanistan còn mang những vết thương bởi các quan niệm, định kiến về giới của chính dân tộc mình. Trong một xã hội đầy kỳ thị về sắc tộc, tôn giáo; trong một xã hội vẫn có những giống người thuộc các đẳng cấp khác nhau, Hassan - một cậu bé người Hazara dòng Shi'a (vừa bị người Pashtun khinh miệt, vừa bị người Hồi giáo Sunni căm ghét) đã bị chính người bố, một người đàn ông Pashtun dòng Sunni điển hình chối bỏ ngay từ khi mới ra đời. Hassan đã sống cùng bố và người anh trai cùng cha khác mẹ trong thân phận của một người đầy tớ, bởi bố cậu vì danh dự dòng tộc đã không thể công khai nhận con. Và rồi, cho dù vẫn có tình yêu giấu diếm của bố, mặc cảm thân phận thấp hèn vẫn in đậm trong cách nghĩ, hành động của Hassan, khiến cậu chưa bao giờ biết phản kháng, kể cả khi chấp nhận bị xâm hại chỉ để bảo vệ ông chủ Amir, người bạn ấu thơ, và cũng là người anh cùng cha khác mẹ của mình (Và rồi núi vọng). Tiểu thuyết của Khaled Hosseini cho thấy, nỗi đau chiến tranh là nỗi đau không thể kháng cự của người dân Afghanistan, trong đó có phụ nữ và trẻ em. Đây cũng là bất hạnh chung của bất kì một quốc gia nào có chiến tranh, dù Á hay Âu, dù chống ngoại xâm hay chỉ vì những xung đột sắc tộc, tôn giáo.

Trong tác phẩm của Khaled Hosseini luôn có những người phụ nữ đè nén mình sau tấm áo choàng thân phận[6] vì “khuôn mặt người phụ nữ chỉ dành cho chồng của cô ta thôi”. Làm phụ nữ ở Afghanistan là một tội lỗi, không phải/không chỉ là tội tổ tông của loài người ngay từ khi sinh ra, mà là tội lỗi mặc nhiên của “giới tính thứ hai”. Ngay từ nhỏ, mẹ Mariam đã luôn dặn cô: “Hãy nhớ lấy điều này và nhớ cho kỹ, con gái ạ: Giống như chiếc kim la bàn luôn chỉ hướng Bắc, ngón tay buộc tội của người đàn ông luôn trỏ vào phụ nữ. Luôn luôn là như vậy”. Nana luôn tin rằng, chẳng có gì ngoài kia dành cho con gái Mariam của mình, “không gì hết ngoại trừ sự ruồng bỏ và sự đau đớn”; bởi Mariam không chỉ là một bé gái, mà còn là một harami, một đứa con hoang (Ngàn mặt trời rực rỡ). Tiểu thuyết Ngàn mặt trời rực rỡ xoay quanh cuộc đời của Mariam và Laila, hai thế hệ phụ nữ nối tiếp cùng chịu đựng bạo lực gia đình, cùng một tuổi thơ bất hạnh. Bên cạnh họ là bóng dáng của những phụ nữ Afganitan với những vấn đề xã hội nhức nhối ở một đất nước Trung Đông còn nhiều bất bình đẳng về giới, biết bao trẻ em, phụ nữ bị bạo hành; biết bao phụ nữ trở thành nạn nhân của chiến tranh. Những ám ảnh đeo đẳng tuổi thơ đen tối luôn đeo bám trong kí ức của những người phụ nữ suốt đời không thoát khỏi chiếc mạng che mặt. Trong hồi ức của mình, cô bé Mariam luôn bị ám ảnh bởi khoảnh khắc tình cờ nhìn thấy “dưới gốc cây: chiếc ghế có lưng tựa bị đổ lật ngược. Sợi dây thừng thõng xuống từ một cành cây cao. Mẹ Nana đang treo lủng lẳng ở đầu dây”. Chiến tranh khiến nhiều phụ nữ bị cưỡng hiếp hoặc tự sát vì bị cưỡng hiếp. Những người phụ nữ chẳng may bị binh lính làm nhục, nếu không tự sát, cũng có thể bị giết chết bởi chính những người chồng, người cha vốn đặt danh dự lên trên sinh mạng của nữ giới. Trớ trêu là dù phải chịu những bất hạnh kép như thế, phụ nữ Afghanistan cũng rất khó bỏ trốn nếu không có đàn ông đi cùng. Bởi ở Afghanistan, trong thời kì cai trị của nhà nước Hồi giáo, phụ nữ chạy trốn là tội lỗi, là vi phạm luật pháp -  một thứ luật pháp cho phép các chiến binh hồi giáo giết người, cướp của, tra tấn, ném bom…

Phụ nữ là nạn nhân của hủ tục cũng là vấn đề nhức nhối trong tiểu thuyết Khaled Hosseini. Tảo hôn khiến nhiều cô gái sớm thành góa bụa hoặc là nạn nhân tình dục. Kết hôn sớm, bị gả bán, Nana từng bị hủy hôn do một tuần trước khi cưới đã bị jinn nhập vào (thực chất là bị động kinh) và từ đó về sau không còn ai cầu hôn nữa. Mariam bị gả bán cho một người đàn ông góa vợ “chắc không thể nhiều hơn… bốn mươi” ở tận Kabul vào tuổi mười lăm, khi mẹ mất và ông bố giàu có vì sĩ diện không thể nuôi cô (Ngàn mặt trời rực rỡ). Tư tưởng nam quyền thống trị khiến người phụ nữ trở thành nạn nhân. Mariam chỉ thực sự có được hạnh phúc ngắn ngủi khi cô mang thai, khi Rasheed chồng cô tin tưởng đó sẽ là con trai, thay thế đứa con trai đã chết của ông với người vợ trước. Nhưng rốt cuộc Mariam đã không giữ lại được bất kì đưa bé nào sau nhiều lần mang thai và phải sống trong sự miệt thị, nhạo báng, xúc phạm của chồng suốt cuộc đời còn lại. Không sinh được con trai, cô luôn bị buộc tội, hành hạ vì bất cứ lí do gì. Trong một xã hội coi thường, chà đạp lên quyền sống của giới nữ, phụ nữ Afghanistan đã bất hạnh ngay từ khi mang hình hài bé gái. Những định kiến giới tính thậm chí còn ăn sâu vào ý nghĩ của phụ nữ, cản trở họ tìm cách để bảo vệ chính mình.

2.    Kháng cự và tự giải thoát – đối thoại văn hóa để vươn đến các giá trị toàn cầu

Trong vòng nửa thế kỉ qua, những cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho giới nữ, xác lập quyền của trẻ em đã diễn ra khắp nơi trên thế giới và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Thế nhưng, liệu có phải mọi phụ nữ và trẻ em đều đã được tôn trọng, được bảo vệ, đối xử bình đẳng? Bằng các tác phẩm của mình, Khaled Hosseini đã gửi thêm một tiếng kêu cứu từ Afghanistan, đau xót nhìn sâu vào quê hương, ngõ hầu đem lại một sự thức tỉnh. Những va chạm văn hóa lúc này tỏ ra cần thiết để buộc Afghanistan phải thay đổi. Sự phản tư, đối thoại cũng là cơ hội để Afghanistan giúp thế giới hiểu về những giá trị bản sắc của mình. Bởi như Khaled Hosseini tâm sự: “Với nhiều người Tây phương, Afghanistan đồng nghĩa với chiến tranh và Taliban. Tôi muốn nhắc nhớ mọi người rằng người Afghanistan từng được sống trong nền hòa bình không công khai suốt nhiều thập kỷ, rằng phần lớn lịch sử của Afghanistan thế kỷ hai mươi là tình trạng hòa bình và hòa hợp”[7].

Là một đất nước thường xuyên bị nô dịch, tinh thần nô dịch đã ăn sâu vào quan niệm của hầu hết người dân Afghanistan. Ý thức phản kháng trước những tập quán, quan niệm phản nhân văn từ lâu đời dường như khá yếu ớt với người Afghanistan, đặc biệt là ở phụ nữ, trẻ em, những đối tượng dễ tổn thương của xã hội. Như nhiều đứa bé gái mang thân phận thấp hèn, Mariam không được học hành. Song sự thất học của cô không phải chỉ từ sự từ chối của xã hội mà từ chính mẹ cô, với quan niệm đầy mặc cảm giới tính đã ăn sâu vào máu. Bà từng nói với Mariam rằng “chỉ có một điều duy nhất, một điều duy nhất mà những người đàn bà như tao và mày cần có trong cuộc sống thì họ lại không dạy điều đó ở trường”. Nhà trường chẳng có giá trị gì. Bởi cái mà một người phụ nữ Afghanistan cần chính là tahamul - kĩ năng chịu đựng (Ngàn mặt trời rực rỡ). Chịu đựng và chịu đựng đã khiến Hassan cả đời bị đối xử như những thân phận ngoài rìa của xã hội, cho đến lúc chết vẫn không biết mình mang một nửa dòng máu thuộc đẳng cấp cao theo sự phân định của người Afghanistan. Chịu đựng và cam phận cũng đã khiến hàng loạt bé trai, trong đó có con trai của Hassan, bị xâm hại bởi những những kẻ quyền thế của lực lượng Taliban (Người đua diều). Chấp nhận để em gái Pari bị bán đi, Abdullah chỉ biết đau đớn ước mong được uống thuốc lú để quên tất cả. Bởi với chính với bố của em, để con gái được sung sướng và rồi ông mãi mãi không được gặp lại cũng không hề là một sự lựa chọn dễ dàng (Và rồi núi vọng). Song, liệu những đối tượng yếu đuối, dễ tổn thương ấy có thể làm gì đây khi các thiết chế tôn giáo, văn hóa, xã hội không hề đứng về phía họ. Naghma, một cô gái Afghanistan không chấp nhận lấy chồng hơn mình ba mươi tuổi do bố sắp đặt, đã bỏ trốn theo người con trai cô yêu, con trai một vị giáo sĩ. Và chỉ vừa ra khỏi địa phận Kabul, khi bị bắt lại, chàng trai đã đổ lỗi cho cô quyến rũ hắn, do không thể chịu nổi việc bị đánh đập dã man. Naghma bị kết án năm năm tù giam, còn người tình của cô thì được thả. Oái ăm là Naghma chấp nhận ngồi tù một cách dễ dàng, bởi bố cô đã thề rằng khi nào cô được thả, ông sẽ cầm dao cắt cổ cô (Ngàn mặt trời rực rỡ).

Ở Afghaninstan, sự phản kháng dễ bị dè bẹp ngay từ trứng nước bởi những hủ tục, những định kiến về địa vị, giới tính hay những quan niệm đạo đức phản nhân văn. Naghma có thể không chấp nhận một cuộc hôn nhân sắp đặt, song không thể giữ được một tình yêu cách biệt về đẳng cấp. Phụ nữ Afghanistan đáng thương hơn nhiều phụ nữ khác cùng cảnh ngộ bởi những người đàn ông ruột rà thân thiết (người yêu, chồng, cha, anh em trai) không những không đứng về phía họ mà còn đẩy họ đến những bất công, những đau khổ cùng cực, thậm chí đẩy họ đến cái chết. Nói như nhà phê bình Hoài Nam, ngay cả khi họ vùng lên phản kháng thì “đó không phải hành vi phản kháng để thay đổi thân phận, mà là phản kháng để xác nhận thân phận”[8]. Hassan từng phản kháng khi dùng súng cao su uy hiếp Assef, một cậu bé người Pashtun dòng Sunni thuộc về đẳng cấp cao nhất, đối lập hoàn toàn với đẳng cấp của mình, nhưng là để bảo vệ bảo vệ ông chủ trong thân phận của một người đầy tớ. Đó không còn là hành vi phản kháng đúng nghĩa mà trở thành sự phục tùng, hi sinh mang đậm bổn phận “mặc định” của giai cấp. Bằng cách cắt nghĩa lại hành vi phản kháng, Khaled Hosseini đã chất vấn về ý thức thay đổi thân phận của người dân Afghanistan. Sự tự trói buộc vào một thân phận có sẵn cùng tinh thần, kĩ năng chịu đựng chính là trở ngại để người dân Afghanistan, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em tự giải phóng, làm chủ cuộc đời mình.

Xã hội Afghanistan, nhất là dưới thời Taliban, đã đặt ra rất nhiều quy định hà khắc dành cho giới nữ. Phụ nữ Afghanistan luôn phải ở trong nhà và nếu ra ngoài phải đi cùng đàn ông có quan hệ họ hàng. Họ không được lộ mặt, không được ăn mặc diêm dúa hay đeo nữ trang. Phụ nữ còn tuyệt đối không được cười nơi công cộng, không được nhìn vào mắt đàn ông nếu không muốn bị đánh đòn. Phụ nữ ngoại tình sẽ bị ném đá cho đến chết. Cơ cấu tổ chức xã hội cũng bộc lộ rõ sự kì thị khi bệnh viện từ chối người bệnh nữ và trường học dành cho con gái thì bị đóng cửa. Đây là lí do khiến không nhiều phụ nữ dám phản kháng hay có ý thức phản kháng. Các giá trị văn minh phương Tây và nhân loại cũng hiếm có cơ hội để đến với phụ nữ và trẻ em Afghanistan, giúp họ biết đến nhân quyền, quyền của trẻ em và quyền bình đẳng giới.

May mắn được bố, từng là một giáo viên trung học, khuyến khích học hành, bởi ông tin rằng khi chiến tranh kết thúc, Afghanistan sẽ cần những người phụ nữ có học như những người đàn ông, thậm chí có thể còn hơn, Laila là một trong số ít phụ nữ vượt ra khỏi tầm nhìn hạn hẹp đầy mặc cảm của giới tính. Cho dẫu có những giai đoạn phải khuất phục hoàn cảnh, ý thức phản kháng, vượt qua số phận chưa khi nào lụi tắt trong cô. Không kịp bỏ trốn khỏi Afghanistan trước khi chế độ Taliban được thiết lập, Laila đành chấp nhận sống một cuộc đời trì trệ như những người phụ nữ Afghanistan khác. Cô chấp nhận lừa gạt Raseed, sống cam chịu, hèn hạ để bảo vệ đứa con trong bụng, ấp ủ thời cơ bỏ trốn. Cô bảo vệ Mariam, người vì cô mà bị biến thành một ambagh (người phụ nữ chung chồng với người khác), khơi dậy ở Mariam khát vọng làm mẹ và tình yêu trẻ thơ, khiến Mariam cảm thấy được yêu thương và biết yêu thương trở lại. Cô khích lệ Mariam cùng bỏ trốn. Và vì mẹ con Laila, Mariam đã bỏ qua kiêu hãnh và sự hận thù với bố để tìm sự giúp đỡ từ ông. Đỉnh điểm của sự vùng dậy, phản kháng Mariam là bà đã giết chết Rasheed vì Laila, nhưng cũng là vì chính bà. Mariam đã tự thú và bị xử tử. Tuy vậy, bà đã không hề sợ hãi và hối hận, bởi đã làm được điều cần làm, và quan trọng hơn, đã lần đầu tiên tự quyết định cho chính cuộc đời của bà. Trước giờ phút bị hành quyết, dù còn nhiều khao khát, Mariam đã không hề nuối tiếc, chỉ thấy bình yên và thanh thản. Mariam nghĩ rằng “dù sao bà cũng đang rời bỏ thế giới này như một người đàn bà đã yêu và đã được yêu. Bà vĩnh biệt cuộc sống với tư cách một người bạn, người đồng hành, người bảo vệ. Một người mẹ. Một người quan trọng”. Chết theo cách ấy với Mariam cũng không quá tệ, bởi “Đây là kết thúc chính đáng của một cuộc sống được bắt đầu bằng những điều không chính đáng” (Ngàn mặt trời rực rỡ). Khá chua xót, song bằng cách đặt lại vấn đề về ý nghĩa của cái chết, Khaled Hosseini đã chiêu tuyết cho nhân vật, cho những người phụ nữ đã dám phản kháng, dẫu phải trả bằng một cái giá đắt.

Mang tư tưởng tiến bộ, Laila đã vô cùng đau đớn khi chế độ Taliban ở Afghanistan đã hủy diệt bảo tàng Kabul; đập nát các bức tượng thời tiền Hồi giáo, đóng cửa trường Đại học, rạp chiếu phim, hiệu sách, thiêu đốt sách vở (trừ kinh Koran), xử phạt người chểnh mảng cầu nguyện, hay tra tấn, giam cầm các nhạc công… Cô phản đối chính sách Taliban áp dụng cho Kabul về chuyện “bắt một nửa dân số ăn không ngồi rồi”, cấm phụ nữ đi làm ngay cả ở Kabul, nơi phụ nữ từng hành nghề luật, nghề y, từng nắm các vị trí trong chính phủ. Vì vậy, dù đã có cuộc sống ổn định ở Murree (Pakistan), khi người Mĩ truy tìm Binladen và đẩy lùi Taliban qua biên giới Pakistan và những ngôi trường bắt đầu được mở lại; Laila đã quyết định về Kabul để “được ở đó, khi người dân Afghanistan được tự do”, để được làm một điều gì đó, để được cống hiến. Không để sự oán giận làm cho tê liệt, Laila quyết định tiến lên phía trước, vì chính bản thân cô, và vì những người cô yêu thương. Cô quay về Herat để tìm lại kí ức của Mariam. Cô trở lại trại trẻ mồ côi nơi con gái cô Aziza từng sống năm nào để sửa sang và dạy học cho bọn trẻ (Ngàn mặt trời rực rỡ). Khát vọng đem đến sự hồi sinh cho Afghanistan, đưa văn minh thế giới đến với quê hương ở Laila cũng chính là điều Amir, công dân Mỹ và là tiểu thuyết gia đang được chào đón trên văn đàn (Người đua diều) hay Markos, một bác sĩ giỏi ở Athens (rồi núi vọng) tâm nguyện khi bất chấp chiến tranh, bạo lực để trở về trở về cố quốc. Đã có một thế hệ những người trẻ tuổi trốn chạy khỏi Afghanistan, không phải để từ bỏ mà để tìm cách làm cho quê hương thay đổi. Đối thoại nảy sinh từ những không gian, thời gian văn hóa khác biệt ấy.

Chối bỏ thân phận, vượt qua số phận với trẻ em và phụ nữ Afghanistan thường thấm đẫm cả máu và nước mắt. Trong tiểu thuyết rồi núi vọng, hai chị em sinh đôi Masooma và Parwaman đã kháng cự số phận của mình một cách quyết liệt để được chết/được hồi sinh. Masooma từng là cô gái xinh đẹp tuyệt trần, sắp được cưới hỏi cho đến khi bị liệt toàn thân sau một cú ngã từ trên cây xuống đất (có phần vì em gái Parwaman) khiến cuộc đời cô đã thay đổi. Parwaman đối nghịch hoàn toàn với chị (dù cũng thầm yêu người đàn ông của chị) lặng lẽ đi qua tuổi xuân cùng người chị cần được phục vụ, chăm sóc. Cuộc sống của cả hai chị em cứ thế trôi đi trong buồn tẻ vô vọng, cho đến một ngày Masoona khẩn nài em gái bỏ mặc mình giữa những dải cát và những dãy núi hoang vu bất tận, như một hình thức để giải thoát cho chính mình và cho cả em gái. Sau nhiều giằng co đau đớn, Parwaman đã bỏ chị trong đêm tối, một mình đi về phía bình minh, xem đó là cơ hội cho mình và chấp nhận sống cùng với bí mật này cũng như bao nhiêu bí mật khác. Bởi “ánh sáng, về bản chất của mình, có yếu ớt thế nào, cũng là cái duy nhất trên thế gian hầu như chẳng mất đi sức mạnh trước sự vô cùng tận” [9]. Ánh sáng bình minh dẫu còn chưa ló dạng ấy còn là ánh sáng tinh thần của cuộc đời Parwaman. Oái ăm là, sự đổi thay số phận của Parwaman, một phụ nữ nông thôn Afghanistan điển hình, đã được đánh đổi bằng cái chết của người chị, cũng là một người phụ nữ Afghanistan khác.

“Giới tuyến can dự tới nỗi bất an và can dự tới nhu cầu an toàn… Giới tuyến xác lập một thực tại, tạo ra một vòng đai và những nét đặc trưng, kiến tạo ra cái cá biệt: cá thể và tập thể, sinh tồn và văn hóa”[10]. Afghanistan từng có một cuộc sống thanh bình, phồn thịnh với những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp trong những ngày tháng “không chiến tranh”, không có những đụng độ vì sắc tộc và tôn giáo. Tuy vậy, sống trong những đường biên ngăn cách với thế giới và còn tự mình vạch ra những giới tuyến, quá trình vùng vẫy để được là chính mình thường diễn ra vô cùng khó khăn đối với những bé gái, những phụ nữ Afghanistan. Trong tiểu thuyết Và rồi núi vọng, cả cuộc đời của cô bé và sau này là nhà thơ Nila là một chuỗi những vượt thoát và bế tắc. Vào lúc ấu thơ, Nila sống với bố sau khi bố mẹ li hôn, và mẹ chết vì viêm phổi. Rồi cô yêu, thường là trong tuyệt vọng vì nhầm người, đúng như nỗi tuyệt vọng của bố cô. Nila và bố cô “đối nghịch từ trong bản chất”. Cô luôn bị cho là đang “nhảy nhót”, “múa may”, bị giam nhốt hàng ngày trời với lời than của bố ngoài cánh cửa: “Con làm ta hổ thẹn. Tại sao con làm ta hổ thẹn đến thế?”. Bố Nila, như hầu hết đàn ông Afghanistan không quen bị cãi lại, nhất là phụ nữ. Thế nhưng, bất chấp những trận cãi vã và sự khô khan, hà khắc mỗi ngày một tăng của bố, Nila không thôi viết những bài thơ dài, gây sốc, thấm đẫm niềm đam mê tuổi trẻ, về những con chim bị nhốt trong lồng và những người tình bị xiềng xích -  những bài thơ với “ngôn từ lan man của một ả gái điếm” (lời của bố Nila), phản bội và bôi tro trát trấu vào gia đình đến mức không thể cứu vãn. Để sống đúng như mong muốn, Nila “thách thức trực tiếp” với tất cả những gì bố cô biết và trân quý và với cả xã hội. Nila đã tranh cãi, bằng cả cuộc đời và thơ, “vì những ranh giới mới cho phụ nữ, vì phụ nữ phải có tiếng nói trong vị thế của riêng mình, để chạm đến lòng vị kỉ chính đáng”, để tiến hành “một cuộc cách mạng một - phụ - nữ nho nhỏ”. Nila viết nhiều về tình dục, và có những bài thơ “đọc lên cứ như thể chúng được sáng tác với mục đích duy nhất là gây sốc và khiến người ta chướng tai gai mắt”, những bài thơ tạo cảm giác “khiêu khích”, “những lời buộc tội giận dữ về vai trò và giới tính của người Afghanistan”. Nila tức giận với quan điểm người phụ nữ phải được bảo vệ khỏi tình dục, phải được bảo vệ khỏi cơ thể của chính họ, vì họ là phụ nữ (vốn bị coi là chưa đạt độ chín về cảm xúc, phẩm hạnh hay trí tuệ, thiếu kiểm soát, dễ bị sự cám dỗ thể xác đánh gục). Bà cũng cổ vũ cho việc phụ nữ có thể xuất hiện với khuôn mặt để trần trước công chúng. Bà kêu gọi chấm dứt chế độ đa thê, để không một người đàn ông nào có thể cưỡng ép phụ nữ kết hôn, không còn tục lệ hồi môn, hay hình thức tảo hôn và muốn tất cả trẻ em sẽ được đi học. Nhưng cuộc chiến Hồi giáo khiến Afghanistan không đạt được những điều tốt đẹp ấy. Nila đã bỏ lại ông chồng (là người đồng tính) đang bị tai biến để đến Paris cùng với đứa con gái nuôi, nơi bà có thể tự do quyết định số phận của chính mình, nơi đứa bé sẽ “không trở thành kiểu phụ nữ u buồn, chịu thương chịu khó, cả đời gò lưng âm thầm hầu hạ người khác, mãi mãi sống trong nỗi sợ hãi nhỡ mình thể hiện, nói hoặc làm điều gì sai”. Trong tính chất hai mặt của những đường biên, “giới tuyến là cầu hoặc rào cản; giới tuyến khuyến khích hoặc bóp nghẹt sự đối thoại[11]. Mạnh mẽ vượt qua các đường biên hữu hình và vô hình của quốc gia, dân tộc, giới tính, Nila đã biết từ bỏ một phần tâm thức, tính cách Afghanistan. Bà không hẳn coi mình là người Afghanistan và quyết liệt “li hôn” với một nửa của bản thân. Bởi từ góc nhìn giới, từ thân phận một người đàn bà, Nila biết rõ đằng sau cái vẻ hạnh phúc mà phụ nữ Afghnistan thường tỏ ra, còn là sự bất lực, tuyệt vọng cùng những khao khát bị dập tắt, những giấc mơ bị từ bỏ được giấu kín… Chân dung tự bộc lộ của Nila cũng là chân dung của những người phụ nữ Afghanistan hiện đại dám chối bỏ cả quê hương để thật sự được giải phóng, cho dù phải trả bằng một tuổi già cô độc, bằng chứng nghiện rượu và bằng cả cái chết.

***

Sẽ có những ngỡ ngàng khi đối sánh các khác biệt văn hóa. Sẽ có những phẫn nộ khi con đường đi đến các giá trị chung của nhân loại vẫn còn nhiều chông gai ở chính đất nước và con người Afghanistan. Một thái độ khoan dung, một cái nhìn bình đẳng văn hóa là cần thiết để thế giới thấu hiểu về Afghanistan, từ đó trân trọng, yêu thương con người nơi đây, từ chính những lạc hậu, phản nhân văn trong các quan niệm về giá trị, chẳng hạn như về quyền trẻ em, quyền bình đẳng giới. Ngoài ra, xét đến cùng, “sự thiếu vắng hạnh phúc tạo nên một trong những căn bệnh của nhân loại, chẳng khác gì bệnh tật là một trong những bất hạnh của con người”[12]. Từ các trang văn của Khaled Hosseini, có thể hình dung rằng vẫn còn có quá nhiều phụ nữ và trẻ em Afghanistan mắc bệnh thiếu vắng hạnh phúc và cần được chữa chạy, một sự chữa chạy từ những trợ giúp bên ngoài và từ chính bản thân họ. Tiểu thuyết của Khaled Hosseini không chỉ là một lời kêu cứu cho phụ nữ, trẻ em Afghanistan, những đối tượng đặc biệt chịu nhiều thương tổn bởi chính hoàn cảnh lịch sử xã hội của quê hương họ. Tác phẩm của Khaled Hosseini còn là hồi chuông thức tỉnh ý thức phản kháng, thay đổi của đất nước, con người Afghanistan. Hai cái nhìn, từ bên ngoài và ngay từ trong lòng Afghanistan đã khiến bộ ba tiểu thuyết Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ, Và rồi núi vọng không bi ai ngay cả khi phải đề cập đến những bất công, những bất hạnh cùng cực nhất của thân phận con người, thân phận giới tính. Lấp lánh đằng sau các giọng tự sự trong tiểu thuyết Khaled Hosseini là niềm tin vào sự thay đổi của số phận con người Afghanistan khi vươn ra thế giới, khi mở cửa để thế giới đến được với họ.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ngô Xuân Bình, Lê Thị Hằng Nga (2018), Afghanistan ngày nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2] Bernard Lewis (2008), Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây (Nguyễn Thọ Nhân dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.

[3] Tiểu Linh (2007), Khaled Hosseini: 'Afghanistan trong mắt tôi...', https://vnexpress.net/giai-tri/khaled-hosseini-afghanistan-trong-mat-toi-2140043.html.

[4] Maurice Maeterlinck (2015), Thông thái và số phận (Nguyễn Trí Dũng dịch) Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr 166.

[5] Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh, Nxb. Hội nhà văn& Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

[6] Hoài Nam (2019), Hình ảnh từ một viễn xứ, http://antgct.cand.com.vn/Nhan-dam/Hinh-anh-tu-mot-vien-xu-311911/?fbclid=IwAR1_y-nAeFEpVmFE5IYbssZN91XKh0AUE5qrcFjzt_RmcpbkLpavCyvKpZM.

[7] Nguyễn Hưng Quốc (2010), Văn học Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, Nxb. Văn Mới, USA, 2010.

[8] Edward Wadie Said (2015), Văn hoá và bá quyền (Phạm Anh Tuấn, An Khánh dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.

 

 

 

 

PGS. TS. Thái Phan Vàng Anh

Khoa Ngữ Văn- trường Đại học Sư phạm Huế

Điện thoại: 0905 348 181

Email: tpvanh@hueuni.edu.vn



[1] Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh, Nxb. Hội nhà văn& Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr.255.

[2] Xem Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, Nxb. Văn Mới, USA, 2010, tr.36.

[3] Chia sẻ của Khaled Hosseini khi bắt đầu viết tiểu thuyết Ngàn mặt trời rực rỡ, sau thành công của tiểu thuyết  Người đua diều. Xem thêm Tiểu Linh (2007), Khaled Hosseini: 'Afghanistan trong mắt tôi...', https://vnexpress.net/giai-tri/khaled-hosseini-afghanistan-trong-mat-toi-2140043.html

[4] Maurice Maeterlinck (2015), Thông thái và số phận (Nguyễn Trí Dũng dịch) Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr 166.

[5] Sau nửa thế kỉ độc lập kể từ năm 1919, Afghanistan lại rơi vào những cuộc nội chiến liên miên, với sự can thiệp của nhiều quốc gia bên ngoài, kéo dài từ 1978 đến 2014. Dưới sự can thiệp/hỗ trợ của Liên Xô, năm 1979, Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo chủ nghĩa cộng sản tiến hành một cuộc đảo chính gọi là Cuộc cách mạng Saur vĩ đại và chiếm giữ quyền bính. Cuộc chiến này kéo dài đến năm 1992, cho đến khi chính phủ thân cộng sản không thể giữ được ưu thế và dần mất lãnh thổ vào tay các lực lượng du kích. Từ năm 2001 đến 2014, Afghanistan lại rơi vào chiến tranh hỗn loạn với sự hiện diện của quân đội của Mỹ và NATO nhằm tiêu diệt lực lượng Talliban và giúp Afghanistan tái thiết đất nước. Giữa hai cuộc chiến này là một giai đoạn tranh giành quyền lãnh đạo giữa các phe phái, từ 1992 cho đến 1996, gắn với chính phủ của những người kháng chiến,  cho đến khi Taliban giành được chính quyền và nắm quyền cai trị Afghanistan đến năm 2000, trước khi Mĩ và Nato xuất hiện cùng một cuộc nội chiến mới. Vì vậy, tuy không phải là thời chiến, giai đoạn hậu Xô Viết từ 1992 đến 1996 vẫn là thời kì đẫm máu với hơn 10.000 người bị giết hại tại Kabul. Tình trạng hỗn loạn lúc này là nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của Taliban để rồi người dân Afghanistan lại rơi vào một thời kì đen tối khác.

Một số giai đoạn nhà nước Afghanistan: Nền Cộng hòa Afghanistan (1990-1992); Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (1992-2001); Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan (1996-2001); Chính quyền lâm thời Afghanitstan (2001-2002 và 2002-2004); Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan (2004 đến nay).

Xem thêm https://vi.wikipedia.org/wiki/Afghanistan; Trần Viết Ðại Hưng (2013), Lịch sử vùng đất Afghanistan, https://nghiencuulichsu.com/2013/05/13/lich-su-vung-dat-afghanistan/Ngô Xuân Bình, Lê Thị Hằng Nga (2018), Afghanistan ngày nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

 

 

[6] Ở Afghanistan, burqa (còn được gọi là chadri), một loại áo dài, có phần vải để trùm lên đầu với một tấm lưới dày che toàn bộ khuôn mặt của người phụ nữ, xuất hiện dưới triều đại vua Habibullah (1901-1919), dành cho các cung nữ. Ban đầu burqa được coi là đặc quyền của người giàu có, nhưng về sau vì tính bất tiện, người Afghanistan đã từ bỏ khiến nó chỉ còn là biểu tượng về những ràng buộc, phụ thuộc của người nghèo khó. Khi lực lượng Taliban cai trị, họ đã bắt phụ nữ phải mặc lại burqa khi ra đường, xem đây là một trong những luật lệ hà khắc dành cho người dân Afghanistan, và đặc biệt là phụ nữ, xuất phát từ những định kiến về giới tính, sắc tộc và tôn giáo.

 

[7] Tiểu Linh (2007), Khaled Hosseini: 'Afghanistan trong mắt tôi...', https://vnexpress.net/giai-tri/khaled-hosseini-afghanistan-trong-mat-toi-2140043.html

 

[9] Xem Maurice Maeterlinck (2015), Thông thái và số phận (Nguyễn Trí Dũng dịch) Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 22.

[10] Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh, Nxb. Hội nhà văn& Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr 265.

 

[11] 12 Claudio Magris (2006), Không tưởng và thức tỉnh, Nxb. Hội nhà văn& Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr 254.

 

 



***

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Văn học và Giới – Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế

 

 

 


Bài khác