Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
PHỤ NỮ VÀ LUÂN LÝ TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

ThS. Nguyễn Anh Dân

Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Huế (Việt Nam)

NCS Tiến sĩ, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hoa Trung (Trung Quốc)

 

Tóm tắt: Trong các tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 có nội dung về cải cách ruộng đất, nhân vật nữ thường được miêu tả, một mặt, là nạn nhân của tấn công tình dục, đối xử bất công, ngược đãi hoặc thậm chí mất mạng; mặt khác cũng có người đồng lõa với cái ác, phạm vào cấm kị luân lý, phản bội đạo đức, luân thường; một số khác lợi dụng sự thay đổi của thân phận luân lý để trục lợi. Trong một hoàn cảnh luân lý đặc thù, phụ nữ nói riêng, người nông dân nói chung dễ bị rơi vào khốn cảnh luân lý, lưỡng nan luân lý, khiến cho nhân vật phải thực hiện những lựa chọn luân lý vô cùng khó khăn, đôi khi rơi vào bi kịch. Thời thế là một phần nguyên do, nhưng quan trọng hơn, nguồn cơn cho những lựa chọn của nhân vật đến từ sự thắng thế của nhân tố thú tính trong họ. Nghĩa là con người được thể hiện chân xác như một nhân tố Sphinx. Bài viết này vận dụng Phê bình Luân lý học Văn học (文学伦理学批评 - Ethical Literary Criticism) để làm sáng tỏ những vấn đề trên.

Từ khóa: cải cách ruộng đất, phụ nữ, luân lý, sai lầm, phê bình luân lý học văn học

Abstract: In Vietnamese novels after 1975, with the content of land reform, the female characters are often depicted as victims of sexual assault, unfair treatment, mistreatment or death, on the one hand; someone also accomplices with the evil, commits ethical taboos, betrays morality; others take advantage of transformation of ethical identities to seek personal gain, on the other hand. In a specific ethical context, women in particular, farmers in general are tendentious to the ethical plight, ethical dilemmas that characters have to make some extremely difficult ethical choices. Sometimes they fall into tragedy. The context is a part of the reason, but more importantly, the source of ladies’ choices comes from so-called animal factor inside their body. It means that human beings are expressed as a real Sphinx factor. This study applies Ethical Literary Criticism (文学伦理学批评)  to clarify these issues.

Keywords: land reform, women, ethical, mistakes, ethical literary criticism

 

1. Ngày 8 tháng 9 năm 2014, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam trưng bày chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946-1957” với khoảng 150 hiện vật, tư liệu, hình ảnh quý hiếm, có giá trị lịch sử đặc biệt, chính thức lần đầu tiên triển lãm trước công chúng. Chuyên đề nhằm “góp phần tuyên truyền cho công chúng, đặc biệt thế hệ trẻ, có thêm nhận thức đúng về cuộc cách mạng ruộng đất trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta những năm 1946-1957” [2]. Tuy vậy, sự kiện này cũng gợi lại một mảng ký ức buồn của những người không may trở thành “nạn nhân” của cải cách ruộng đất. Dù những hiện vật được trưng bày “chỉ như một nét chấm phá trên bức tranh lớn” [18], không thể lột tả hết cuộc cách mạng “long trời lở đất” từ cách đây hơn nửa thế kỉ, nhưng nói như Dương Trung Quốc, đây là “việc làm đáng ghi nhận” [18], là một cơ hội hiếm có để công chúng nhìn lại hoặc nhắc đến một sự kiện chứa đựng nhiều thành quả nhưng cũng có những sai lầm nhất định.

Từ năm 1945-1952, với chủ trương cải cách ruộng đất từng phần, giảm tô (25% địa tô) và thuế điền thổ (giảm 20%), chia lại ruộng đất công... Đảng và Chính phủ đã đảm bảo lợi ích cho cả “người có của” và “người có công” [14, tr. 2] nên cách mạng ruộng đất đã gặt hái nhiều kết quả to lớn. Theo số liệu thống kê của 3.035 xã ở miền Bắc, từ năm 1945 đến 1953, “ruộng đất đã tịch thu của thực dân Pháp chia cho nông dân là 26,8 ngàn ha; ruộng đất của địa chủ được đem chia cho nông dân là 156,6 ngàn ha; ruộng đất của nhà chung đem chia cho nông dân là 3,2 ngàn ha; ruộng đất công và nửa công được chia là 289,3 ngàn ha. So với tổng số ruộng đất chia cho nông dân đến khi hoàn thành cải cách ruộng đất kể cả sửa sai, thì số ruộng đất chia cho nông dân từ năm 1945 đến năm 1953 chiếm 58,8%” [14, tr. 5]. Trong hoàn cảnh vừa phải đấu tranh chống lại thực dân Pháp vừa phải kiến thiết đất nước thì chính sách cải cách ruộng đất từng phần của Đảng ta là một “đường lối cách mạng riêng biệt của Việt Nam”, hết sức đúng đắn, sáng tạo và độc đáo [14, tr. 6]. Cách làm ấy đã giúp “người cày có ruộng”, đảm bảo được chính sách đại đoàn kết dân tộc và huy động được sức mạnh toàn dân.

Năm 1953, cục diện cách mạng Việt Nam và thế giới có nhiều biến động, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV (1/1953) đã nhận định: “Việc giảm tô giảm tức dù có làm triệt để đi nữa cũng không thể bồi dưỡng nông dân đúng mức, không thoả mãn được yêu cầu của nông dân, làm cho nông dân quyết tâm hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến” [5, tr. 52], vì vậy, vấn đề cải cách ruộng đất cần phải tiến hành triệt để hơn. Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương khóa II và Hội nghị toàn quốc lần thứ I của Đảng họp từ ngày 14-23/11/1953 đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất. Tháng 12 cùng năm, Quốc hội chính thức thông qua Luật Cải cách ruộng đất, xác định mục đích của cải cách ruộng đất là:

 

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ.

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân.

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển.

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến.

Để đẩy mạnh kháng chiến hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc. [Luật Cải cách ruộng đất, dẫn theo tài liệu số 14, tr. 7-8]

 

Chính sách, đường lối thực hiện cải cách ruộng đất ở giai đoạn này khác với tính chất “từng phần” ở giai đoạn trước. Đảng chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất triệt để, xóa bỏ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến, chia hẳn ruộng đất cho dân cày bằng cách dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, phú nông... [14, tr. 8] Trên cơ sở đó, Đảng đã phát động 8 đợt giảm tô và 5 đợt cải cách ruộng đất trên 3.314 xã (sau chia nhỏ thành 3.653 xã) thuộc 22 tỉnh, thành phố từ năm 1953-1956. Nhiệm vụ “người cày có ruộng” được hoàn thành ở miền bắc với “810.000 ha ruộng đất của thực dân, địa chủ phong kiến, ruộng đất tôn giáo, ruộng đất công và nửa công nửa tư ở miền Bắc đã bị tịch thu, trưng thu, trưng mua và đã được chia cho hơn 8 triệu nhân khẩu tức 72,8% số nông hộ” [14, tr. 9].

Robert Callahan trong bài “Vietnamese Land Reform: the Dosmestic Impetus to Communist Compromises at Geneva” (tạm dịch: Cải cách ruộng đất ở Việt Nam: Sự thúc đẩy trong nước với thỏa hiệp của những người cộng sản tại Geneva) đã nhận định: “Với những người cộng sản Việt Nam thì cải cách ruộng đất là giải pháp ngắn hạn cho vấn đề không có đất đai và nghèo đói nghiêm trọng ở nông thôn” [3, p. 6]. Thực tế cho thấy, Đảng đã có những chính sách và chủ trương đúng đắn để có thể giải quyết “giặc đói” hay mục tiêu “người cày có ruộng”. Tuy nhiên, dù đã gặt hái được những “thắng lợi vô cùng to lớn” nhưng cuộc cách mạng “long trời lở đất, quyết liệt gay go” này “sai lầm cũng không ít” [13, tr. 194]. Trung ương Đảng và Chính phủ, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những lệch lạc của phong trào. Hội nghị Trung ương IX (2/1956) đã tuyên bố các sai lầm, ra lệnh đình chỉ cải cách ruộng đất. Hội nghị lần thứ X của Ban chấp hành Trung ương Đảng (họp từ tháng 9-11/1956) đã đánh giá đó là những “sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt” [6, tr. 539] và Đảng kiên quyết sửa sai (trước hết là thi hành kỷ luật đối với Ban lãnh đạo Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương). Dù chiến dịch sửa sai đã phục hồi danh dự, trả lại tài sản, giải quyết xung đột, mâu thuẫn, ổn định đời sống và sản xuất… nhưng có những mất mát không thể “sửa” được như trường hợp của bà Nguyễn Thị Năm.

“Địa chủ cường hào ác bá” Nguyễn Thị Năm sau ba cuộc đấu tố đã bị xử bắn vào ngày 29 tháng 5 năm Quý Tỵ (tức ngày 9/7/1953) tại Thái Nguyên ở tuổi 47. Trước khi bị đấu tố và tử hình, bà Nguyễn Thị Năm có nhiều đóng góp cho đất nước. Người phụ nữ sinh năm 1906 ở làng Bưởi (ngoại thành Hà Nội) này có tinh thần dân tộc, cách mạng, yêu nước. Với việc thành công trong kinh doanh buôn bán, bà đã ủng hộ và giúp đỡ rất nhiều cho Việt Minh. Bà Năm đã ủng hộ Việt Minh 20.000 đồng tiền Đông Dương (giá trị bằng 700 lượng vàng). Tại “Tuần lễ vàng” ở Hải Phòng vào tháng 9 năm 1945, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, bà Nguyễn Thị Năm cũng đã ủng hộ 100 lạng vàng [4]. Các biệt thự của bà Năm ở Hà Nội, Hải Phòng, đồn điền Đồng Bẩm (Thái Nguyên) đều là địa điểm che giấu, liên lạc, nuôi cán bộ cách mạng. Khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, chính bà đã tự nguyện cho phá bỏ nhà cửa theo lệnh “tiêu thổ kháng chiến” của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hai người con trai của bà Năm là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát (gắn với Cát Hanh Long - tên một hiệu buôn của bà Năm ở Hải Phòng)[] đều theo Việt Minh. Trong bối cảnh hai triệu người chết đói năm Ất Dậu 1945, chính bà đã dùng tiền mua gạo, thực phầm, quần áo… cứu tế cho những người sống trong hoặc gần đồn điền của mình. Với khả năng nhạy bén của mình, “Bà cho tậu hàng đàn trâu, bò. Bà dựng từng dãy lán trại chứa người làm thuê. Bà tổ chức cấy lúa, trồng sắn, trồng mía. Rồi bà nhập thiết bị từ Pháp về làm đường kính” [11, tr. 10]. Đúng như Alex Thai D. Vo đã nhận định, “Theo mọi nghĩa, bà là một nhà tư bản thực thụ” [19, p. 16]. Sự giàu có này từng giúp Nguyễn Thị Năm trở thành “bà mẹ cách mạng” nhưng cũng chính nó lại trở thành nguyên do lấy đi mạng sống của bà. Sự thật là sự “long trời lở đất” của cách mạng ruộng đất đã bắt đầu từ việc hành quyết một người đàn bà - một cú đánh thực sự, không phải bằng hoa hồng, mà bằng súng đạn! Một nhân vật đúng ra phải có “kim bài miễn tử” như Nguyễn Thị Năm mà vẫn phải chịu số phận nghiệt ngã như vậy, thử hỏi những người phụ nữ khác trong mảng tối oan sai của cách mạng ruộng đất sẽ như thế nào? Trong khi đợi câu trả lời từ các nhà sử học thì độc giả có thể chiêm nghiệm những lý giải của các nhà tiểu thuyết như Tô Hoài với Ba người khác, Lê Lựu với Chuyện làng Cuội, Tạ Duy Anh với Lão Khổ Giã biệt bóng tối, Nguyễn Khắc Phê với Biết đâu địa ngục thiên đường hay Nguyễn Phan Hách với Cuồng phong.

2. Dù phải đợi gần 60 năm trôi qua công chúng mới được chứng kiến một phần của cải cách ruộng đất thông qua một triển lãm chính thức nhưng sự kiện này vẫn luôn tồn tại trong lịch sử và tâm thức cộng đồng. Đó là lý do một cuộc “triển lãm” khác đã xuất hiện trong tiểu thuyết, đặc biệt là những tiểu thuyết nông thôn sau 1975. Qua các trang viết, nhà văn Việt Nam dù ít dù nhiều đã đả động đến cải cách ruộng đất và thân phận những người nông dân - trong đó có phụ nữ. Số phận của phụ nữ và trẻ em thường được quan tâm hàng đầu trong nhiều trường hợp, với một sự kiện như cải cách ruộng đất thì mối quan tâm này không phải là ngoại lệ. Kaitlin Hansen nhận xét: “Vấn đề ruộng đất rất phức tạp và có phạm vi rộng, từ việc tiếp cận đất đai bất bình đẳng, đối xử bất công với các nhóm thiểu số và phụ nữ cho đến sự tàn phá đất công” [8, p. 12]. Sự “phức tạp” mà Hansen nhắc đến đều được miêu tả trong các tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất sau năm 1975.

Nếu như cách mạng ruộng đất diễn ra trong một hoàn cảnh luân lý đặc biệt thì văn học Việt Nam hậu chiến, nhất là từ 1986 trở đi, cũng vận động và phát triển trong một hoàn cảnh luân lý mới. Đây chính là một trong những yếu tố quyết định giúp các nhà tiểu thuyết lật lại vấn đề cải cách ruộng đất.

Theo Phê bình Luân lý học Văn học (文学伦理学批评 - Ethical Literary Criticism), để kiến giải chính xác tác phẩm thì nhà nghiên cứu - phê bình phải trở về hoàn cảnh luân lý (伦理环境 - ethical background) hay ngữ cảnh luân lý (伦理语境 - ethical context) của tác phẩm. Đây chính là yêu cầu phải có để đi vào lý giải văn học. “Văn học của những thời kì lịch sử khác nhau có hoàn cảnh luân lý và ngữ cảnh luân lý cố định thuộc về thời kì lịch sử nhất định của nó. Để lí giải thì buộc phải đưa văn học về hoàn cảnh luân lý và ngữ cảnh luân lý thuộc về nó. Đây chính là một tiền đề để lí giải văn học” [16, p. 14]. Sau ngày 30/04/1975, cùng với kỷ nguyên độc lập - thống nhất đất nước là khó khăn lẫn vận hội được đặt lên vai của một dân tộc bước ra từ vinh quang và bom đạn, máu và xác người: kinh tế bao cấp, chế độ tem phiếu, viện trợ sụt giảm, cấm vận kinh tế, khối XHCN Đông Âu tan rã... Đại hội Đảng VI diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 đã quyết định tiến hành Đổi Mới trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, văn học nghệ thuật... Tình hình mới đã giúp cho văn nghệ sĩ hồ hởi “cởi trói”, chủ động và sáng tạo trong sáng tác. Dưới ánh sáng của dân chủ và tự do, tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã vươn mình mạnh mẽ cả số lượng lẫn chất lượng. Trong hoàn cảnh luân lý mới, nhà văn có nhiều cơ hội để miêu tả, phân tích, nhìn nhận, đánh giá nhiều vấn đề thuộc về quá khứ, có vấn đề trước đây không/ít được đề cập mà cải cách ruộng đất là một ví dụ. Trong làn sóng “cởi trói”, “đổi mới” ấy, cũng có những nhà văn bị trục xuất (như Dương Thu Hương) hoặc tác phẩm bị cấm bản, đình bản (như trường hợp của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Đình Chính, Tô Hoài, Hoàng Minh Tường...) nhưng nhìn chung trong điều kiện luân lý mới các nhà tiểu thuyết đã hình thành cái nhìn mới đối với lịch sử, chiến tranh, văn hóa, xã hội... Đồng thời, họ cũng có điều kiện để soi chiếu, suy ngẫm nhiều vấn đề mà trước đó trong thời chiến chưa có điều kiện bàn đến như bi kịch của con người - nhất là phụ nữ - trong cải cách ruộng đất. Từ điểm nhìn của Phê bình Luân lý học Văn học thì các tiểu thuyết Việt Nam hậu chiến viết về cải cách ruộng đất đã thể hiện những khía cạnh khác nhau của thân phận luân lý, cấm kị luân lý, bi kịch luân lý, lưỡng nan luân lý, khốn cảnh luân lý... của người nông dân, để từ đó thực hiện chức năng giáo dục của văn học.

Cải cách ruộng đất có vai trò và đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, đáng tiếc là cuộc cải cách ấy vẫn gây ra những hậu quả nhất định. Trong số nạn nhân của cải cách ruộng đất có những người phụ nữ. Sức khỏe, nhân phẩm, địa vị, tài sản, mạng sống... của họ bị đe dọa không nhỏ trong cơn ba đào lịch sử này. Đến như bà Nguyễn Thị Năm còn mất mạng thì những thân phận “thấp cổ bé họng” khác có thể tránh khỏi “tai họa” hay không? Cải cách ruộng đất diễn ra trong một thời gian dài (cả thời bình lẫn thời chiến), trên một không gian địa lý rộng lớn và phức tạp, với cả những tác động từ bên ngoài (Liên Xô, Trung Quốc) nên nó thực sự là một hoàn cảnh luân lý đặc thù. Trong hoàn cảnh đó con người vừa có thể là nạn nhân của thời cuộc nhưng chính họ cũng có thể trỗi dậy những mầm mống của cái xấu, cái ác. Hoàn cảnh luân lý ấy góp phần thể hiện chân xác con người. Vậy nên, trong các trang viết liên quan đến cải cách ruộng đất, Tô Hoài, Nguyễn Phan Hách, Nguyễn Khắc Phê, Lê Lựu, Tạ Duy Anh thường miêu tả các nhân vật nữ là nạn nhân của tấn công tình dục, đối xử bất công, ngược đãi, thậm chí là mất mạng. Ở một góc độ khác, họ cũng là những người sẵn sàng thay đổi thân phận luân lý, lợi dụng đặc điểm giới tính của bản thân để trục lợi hay hãm hại người khác. Đó chính là hai mặt của nhân tố Sphinx trong một cá thể để tạo thành bộ mặt thật của con người nói chung, của phụ nữ nói riêng trong một hoàn cảnh luân lý đặc thù. 

3. Phụ nữ, với đặc tính giới của mình, được miêu tả là đối tượng thường xuyên bị tấn công tình dục trong các tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất. Thủ phạm của các vụ tấn công này chủ yếu là thành viên nam của Đội cải cách ruộng đất (tức anh/ông Đội), các “cốt cán” nam giới lợi dụng bóng Đội hoặc thậm chí là chính người thân của nạn nhân.

Được thúc đẩy bởi dục vọng và hậu thuẫn bởi quyền lực, một số anh/ông “nhất Đội nhì trời” đã gieo rắc nỗi sợ hãi về bạo lực và tình dục cho nữ giới. Cũng bởi vậy, hình ảnh anh/ông Đội trong các tiểu thuyết đã nhắc đến trên đây hầu hết bị/được miêu tả một cách tiêu cực, chẳng hạn: “Bọn Đội môi thâm như dái ngựa, mắt trắng như mắt lợn luộc, súng lục súng liệc đeo lủng lẳng, đi đến đâu giun dế cũng ngoi lên vì sợ” [1, tr. 147]. Chính họ là những người thực hiện nhiều vụ tấn công tình dục nhằm vào phụ nữ với nhiều mức độ khác nhau: từ sàm sỡ đến cưỡng hiếp. Các anh Đội như Cự, Bối, Đính (Ba người khác, Tô Hoài) về làng “ba cùng”, “bắt rễ”, “xâu chuỗi” với các cá nhân, hộ gia đình nên họ có nhiều cơ hội để “xâu” các cô gái làng. Bối tha hồ diễn “trò chơi thân thể” với Đơm khi sống ở nhà này, ngủ với Duyên khi chuyển điểm “ba cùng” cũng như sờ soạng hàng loạt nữ dân quân trong làng. Bà Nghè Nguyên và con gái Lan Viên (Cuồng phong, Nguyễn Phan Hách) phải hứng chịu cảnh “cốt cán” sàm sỡ trước “ba quân thiên hạ” mà không dám chống cự. Trong không khí nghiêm túc của cuộc đấu tố, “Một “cốt cán” đến lần túi xem có vàng bạc gì không. Lợi dụng, cốt cán sờ soạng vú bà già, vú con gái, mà “kẻ thù giai cấp” phải đứng im, không dám kêu” [7, tr. 186-187]. Hai con người đáng thương bị sàm sỡ một cách hợp pháp, hành động lố lăng được che đậy bởi “sứ mệnh giai cấp” của kẻ sàm sỡ. Dẫu vậy, so với nhiều phụ nữ khác, họ vẫn còn may mắn vì ham muốn tình dục của nam giới không chỉ dừng lại ở chỗ sờ soạng, tội ác của họ còn diễn ra ở mức độ khủng khiếp hơn: cưỡng hiếp. Nguyễn Khắc Phê trong cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường đã để Dự gặp lại người tình cũ trong một tình huống bi hài. “Đại thể là vào lúc Dự đặt chân vào cửa nhà mụ Vinh thì trước cửa buồng đang có cuộc vật lộn “ác liệt” trên nền đất. Người nằm dưới đương nhiên là Hảo, đã bị lột trần; còn kẻ chồm hổm bên trên thì chắc là để dễ tháo chạy, hình như chỉ mới tụt quần một đoạn thôi. Dự không ngờ hắn chính là ông Đội hồi chiều vừa nhắc nhở Dự coi chừng mê mụ vì cái đạo đức giả của bọn địa chủ” [17, tr. 322-323]. Lý lẽ của một số anh Đội như trong trường hợp này có lẽ cũng chỉ để đi đến chỗ “lột trần”, “tụt quần” con nhà người ta mà thôi.

Trong các tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất thì mối quan hệ tình/tính dục giữa con người và con người thường xuyên được đề cập. Tác giả của Ba người khác gần như không vẽ ra một bức tranh tươi sáng về thành tích của cải cách ruộng đất, thay vào đó, Tô Hoài - với chất giọng tự truyện - trưng ra một cảnh tượng sặc mùi sex với các pha sờ soạng, sàm sỡ, ăn nằm, thông đồng, quan hệ xác thịt... Có thể nói, khi chính sách đúng đắn bị những người thi hành hiểu sai, làm sai, thậm chí bóp méo, thì tình cảnh ấy đã mở cũi xổ lồng cho dục vọng vượt rào đạo đức, luân lý. Nạn nhân của các vụ tấn công tình dục thường phản kháng yếu ớt, cam chịu, chấp nhận hoặc đồng lõa. Khủng khiếp hơn, có trường hợp, khi con quỷ dục vọng thắng thế, con người lợi dụng hoàn cảnh để gây ra những tội ác không thể dung thứ, phạm vào cấm kị luân lý (伦理禁忌 - ethical taboo)[]. Lão Phụng (Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh) - một kẻ nổi tiếng hay đặt điều hại người khác - khi đấu tố đã vu cáo chú ruột khiến ông này uất quá, hộc máu mồm chết tươi. Đáng sợ hơn, lão còn lôi cả con dâu của mình vào chuồng trâu để cưỡng hiếp. Thằng con trai biết, cầm dao về nhà hỏi chuyện, lão gào lên: “Theo đúng đạo làm con, tao bảo mày chết mày phải chết, vợ mày là cái gì, mà nếu tao có mượn mày một lần thì đã mòn đi được chắc. Mà đâu chỉ có tao, thiên hạ đầy người đã từng làm như vậy” [1, tr.187]. Thằng con bạc nhược hét lên một tiếng, chặt đứt chân một con nghé rồi bỏ đi, từ đó lão Phụng tha hồ chiếm dụng cô con dâu tội nghiệp, đến mức cô này sinh ra một đứa con dị dạng. Kết cục là cả cô gái và đứa con đều bị lão Phụng đuổi ra khỏi nhà. Lão Phụng là một kẻ vô đạo, không xứng đáng làm cha. Lão đã chà đạp lên nhân phẩm của người khác. Lão đã đánh đổ các giá trị luân lý, đạo đức của con người. Lão là kẻ lợi dụng hoàn cảnh để hợp thức hóa tội loạn luân của bản thân. Đó là hành động của kẻ vô luân, không thể chấp nhận.

Các nhà tiểu thuyết không chỉ xây dựng hình tượng nhân vật nữ như những nạn nhân, mà với cái nhìn toàn diện, họ đã miêu tả cả những con người bắt tay với cái ác, đồng lõa với cái xấu hoặc những người chuyển biến thân phận luân lý, từ chỗ là nạn nhân của tấn công tình dục trở thành tòng phạm với anh/ông Đội phản bội lại luân lý, đạo đức. Cô Xuyến “chấp hành xã, phụ trách phụ nữ thôn Cuội Thượng”, vợ tên Lưu Minh Hiếu “kẻ thù” của cách mạng được anh Đội Lăng “dìu dắt”, tạo điều kiện tiếp tục “công tác” sau khi đã tự nguyện từ bỏ bố mẹ, anh em, chồng con. Cô còn “bắt rễ” chặt chẽ với Đội Lăng trong chính căn nhà của mình, van xin Đội “cứ cho em chút nữa đi. Nữa đi. Nữa đi anh Đội. Trời ơi sướng quá. Em chết mất anh ơi” [12, tr. 228]. Đó chính là cách họ “phối hợp công tác” trong những ngày sục sôi cải cách. Những cuộc truy hoan của họ được bao bọc bởi danh xưng cán bộ, bởi lý tưởng đấu tranh giai cấp mà họ đang thực hiện. Cái tội lăng loàn ấy đủ sức đánh gục bất cứ ai trong “thời bình” nhưng lại khiến cho “nạn nhân hợp pháp” của nó phải nín bặt, câm miệng một cách đầy “thuyết phục” []. Từ chỗ là nạn nhân, dần dần Xuyến trở thành tòng phạm. Tội lỗi ấy diễn ra nhiều lần bên trong, bên ngoài căn nhà của cô. Dù biết mọi chuyện nhưng bà Đất - mẹ chồng cô - chỉ biết câm lặng vì sợ uy quyền của Đội. Từ chỗ bị tấn công thì giờ đây, từng bước một, Xuyến đã thành kẻ đồng lõa, cùng với anh Đội đạp đổ luân thường, đạo lý. Cao tay hơn Xuyến, cô chủ tịch xã tên Huệ trong Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách còn biết lợi dụng cách mạng ruộng đất để trục lợi cho bản thân. Nhân vật này vốn là một đứa con hoang, trước khi làm “quan” cải cách thì tên là Hẹ, sau đổi thành Huệ. Nhận thức được xuất thân, địa vị và quyền lực hiện tại của mình, Huệ đã nắm lấy cơ hội, biến một anh Đội thành “nạn nhân” của cô. Huệ không thể cưỡng lại thân hình và mùi đàn ông hấp dẫn của Vũ Hùng đang “ba cùng” trong nhà mình.

 

Huệ đang là người đàn bà quyền lực bậc nhất ở cái làng này. Tất cả phải khúm núm trước Huệ. Huệ bảo đứa nào là địa chủ, đứa đó bay sạch gia sản. Huệ tha cho đứa nào đứa đó được yên ấm vợ con. Huệ bảo đứa nào án tử hình, đứa đó biến khỏi thế gian này. Bảo đứa nào “sống”, đứa đó được tồn tại. Phụ nữ đã được “giải phóng” triệt để, được trao quyền tối cao. Ta muốn gì, ta cứ làm. Ta là chúa tể. Ta thích yêu là ta yêu. [7, tr. 220]

 

Để thỏa mãn cơn thèm khát nhục dục của mình, cô chủ tịch xã phải học mới biết ký tên đã lao vào anh Đội như thể “hiếp dâm” đến nỗi có thai. Cái thai của chủ tịch xã kèm lời đe dọa: “Tổ chức cưới ngay không thì “dây thừng” dân quân nó đã chuẩn bị xong rồi đấy” [7, tr. 224] cũng như sợ tổ chức xử lý vì “chiến lược thâm độc” định đánh đổ biểu tượng uy quyền của giai cấp bần cố là Huệ đã khiến Vũ Hùng phải lấy Huệ. Nhân vật này của Nguyễn Phan Hách là một ví dụ cho quá trình thay đổi thân phận luân lý (伦理身份 - ethical identity)[] trong những bối cảnh luân lý nhất định.

4. Sự xuất hiện của các Đội cải cách ruộng đất phần nào đã làm xáo trộn đời sống nông thôn, thay đổi cuộc sống của người nông dân. Ở một góc độ nào đó, nó đã tạo điều kiện để “đánh thức” thói hư tật xấu của con người, thậm chí nhen mầm cho tội ác. Có thể nói, phụ nữ nói riêng và người nông dân nói chung, trong bối cảnh sai lầm của một số Đội cải cách, đã phải hứng chịu không ít bi kịch. Sai lầm của những người thi hành cuộc cách mạng đã đẩy nhiều người vào khốn cảnh luân lý (伦理困境 - ethical plight) hay lưỡng nan luân lý (伦理两难 - ethical dilemma)[] không thể nào thoát ra (đến nỗi nhiều người phải tự tử). Bối cảnh luân lý của cải cách ruộng đất khiến cho thân phận luân lý của con người thay đổi một cách nhanh chóng từ thái cực này sang thái cực khác (do xét/quy thành phần và sửa/hạ thành phần). Người nông dân có quyền được hưởng thành quả từ việc thay đổi thân phận luân lý nhưng cũng có thể phải trả giá vì xuất thân, vì lý lịch của mình. Xã hội nông thôn như quay cuồng trong “cuộc chơi” hoán đổi thân phận quy mô lớn. Trong một hoàn cảnh mà “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, “y như là có “âm binh” nổi lên chỉ huy”, “đầu xuống đất chân lên trời” [7, tr. 192-193] thì chuyện “lên voi xuống chó” không hiếm. Nhưng đáng buồn là, nhiều trường hợp, sau khi dừng cải cách ruộng đất mới nhận ra đã sai, đã oan, đã nhầm. Các nhà tiểu thuyết thông qua các trường hợp oan sai này đã thể hiện sự đối xử bất công giữa người với người trong cuộc cách mạng đặc biệt ấy. Nguồn cơn của nó phần nhiều xuất phát từ sự thay đổi thân phận luân lý của họ gây ra.

Cách mạng ruộng đất đã khiến vợ chồng Lan Viên - Vũ Hùng (Cuồng phong, Nguyễn Phan Hách) chia lìa đôi ngả, đẩy cô gái trẻ và người mẹ già vào một cuộc đấu tố bất công, để rồi hai người họ phải sống trong chuồng bò bỏ hoang trong một góc vườn hoang của Thạch Gia Trang. Không những phải chịu cảnh đói, rét, mò cua bắt ốc sống qua ngày, Lan Viên và bà Nghè còn phải chịu cảnh chèn ép, ngược đãi. Họ bị hắt hủi, xa lánh, bị ăn chặn, bị hành hung bởi đồng loại của chính mình. Các “ông bà bần cố” bỗng giác ngộ chân lý “hóa ra bọn địa chủ không phải là người” mà là con quỷ hút máu nông dân nên bây giờ “nông dân tha hồ giày xéo lên nó như giày xéo con giun” [7, tr. 237]. Họ không được đồng loại của mình xếp ngang hàng mà “Địa chủ tức là con vật nhai cỏ nhai rơm, muốn đánh muốn đập lúc nào cũng được” [7, tr. 235]. (Có lẽ Lan Viên còn may mắn, vì là con đại địa chủ nên không ai dám đụng vào cô - họ sợ bị liên lụy - nên cô gái trẻ không bị tấn công tình dục như những người phụ nữ khác). Nếu không may bị quy nhầm thành phần thì phần nhiều họ sẽ bị đối xử bất công, bị cộng đồng xúc phạm, chà đạp. Họ phải khúm núm, cúi đầu trước các “ông bà nông dân”, “ông bà bần cố”, thậm chí một “ông nông dân độ bốn năm tuổi tồng ngồng, cong người cầm “chim” cũng có quyền được xả nước vào mặt bà Đất (Chuyện làng Cuội, Lê Lựu) - người đàn bà mắc tội “giai cấp”: “Nước ràn xuống mồm mằn mặn, mụ không rõ chỉ là nước đái ông nông dân hay là nó trộn cả nước mắt của mụ. Mụ lầm lũi cúi mặt đi. Các ông du kích và bố mẹ “ông nông dân” đứng cách đấy chừng mười lăm bước cười ha hả, ha hả!” [12, tr. 214]. Sự xoay vần thân phận luân lý đã đẩy những người phụ nữ (cũng như người nông dân nói chung) vào tình huống bị ngược đãi. Không chỉ người lớn mà ngay cả con em của những nhà bị quy thành phần bóc lột, bị đấu tố cũng phải hứng chịu những hậu quả do người thân của chúng “gây ra”. Những đứa trẻ như Hải (Biết đâu địa ngục thiên đường, Nguyễn Khắc Phê) sớm phải nếm trải sự đối xử bất công của bạn bè cùng trang lứa. Hải đi bắt cua, bắt ốc kiếm ăn, lúc nào cũng bị một nhóm năm ba đứa xông vào vừa chửi vừa cướp. Đi bắt tép thì bị chúng đổ tép và rớ xuống ruộng. Đó sẽ là những vết hằn tâm lý cực kì đáng buồn đối với các “nạn nhân trẻ em”. Nguyễn Khắc Phê cũng đặt ra một vấn đề đáng lưu tâm: những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong cải cách ruộng đất bị tác động như thế nào? Tác giả đặt cho độc giả một câu hỏi cụ thể trong trường hợp của Linh - con gái Thanh. Cô bé sinh ra giữa cơn “bão Cải cách”, gia đình ông bà ngoại chưa biết sống chết ra sao, mẹ thì đang bị cơ quan nghi vấn về lý lịch, “chẳng mấy ai dám gần gũi, nhiều lúc Linh đói khóc khản cả tiếng, thậm chí ị ra không ai dọn rửa, vơ cứt nhét đầy mồm…” [17, tr. 428] Lớn lên, Linh sống xa ngoại, đi học nước ngoài, dần đánh mất mối liên hệ gia đình, ăn nói tự do, thiếu ý tứ, sống buông thả, dễ dãi... Liệu có mối liên hệ nào giữa một đứa trẻ sống qua cơn “bão Cải cách” với một cô thiếu nữ của xã hội kim tiền, coi thường các giá trị đạo đức? Rất khó để nhà tiểu thuyết và độc giả đưa ra câu trả lời triệt để nhưng những đứa trẻ bị ngược đãi, phân biệt đối xử có quyền đặt ra những câu hỏi về tình người, đạo đức, nhân luân hoặc buộc phải mang những chấn thương thể xác, tinh thần vào cuộc sống tương lai.

Trong “trò chơi” thân phận thời Cải cách, cũng có những nhân vật nữ hưởng lợi từ sự thay đổi thân phận luân lý của mình và người khác. Mẹ con bà Gái Nhỡ và Huệ trong tiểu thuyết Cuồng phong là một trường hợp như vậy. Nhờ/vì cách mạng ruộng đất, bà Gái Nhỡ bỗng dưng từ một người gánh phân thuê trở thành mẹ của nữ chủ tịch xã. Bà trở thành “pho sử sống”, là cái phao bấu víu của Đội để hoàn thành mục tiêu. Thân phận luân lý của bà hoàn toàn thay đổi: từ người nông dân mạt hạng thành “cốt cán”, thành giai cấp làm chủ, thành mẹ của một người phụ nữ quyền lực. Thân phận này cho phép bà “phán quyết” số phận của những kẻ khác thông qua “hồi ức” và “cảm xúc” của mình trong các cuộc “tỉ tê” với Đội. Không những bà Gái Nhỡ mà cả Huệ - với chức chủ tịch xã trong tay - cũng trở thành “hung thần” của những người vô tội. Huệ rất lanh trí, thức thời, “đếch sợ Cách mạng vì biết “thóp” Cách mạng nuông chiều người nghèo” [7, tr. 216]. Nữ chủ tịch xã hiện tại là kết quả của một cuộc hoan lạc vụng trộm trong một lần bà Gái Nhỡ đi dọn phân cho nhà Phó Cối. Trớ trêu là, Cải cách đến, chính Hẹ/Huệ trở thành thẩm phán điều hành đấu tố Phó Cối. Huệ đập tay quát, trấn áp, truy hỏi, phán quyết người cha hờ của mình. Bên cạnh đó, cô chủ tịch còn nhờ vào cái uy cách mạng để thỏa mãn nhục dục của bản thân, đưa Vũ Hùng vào tròng và nghiễm nhiên có chồng. Lí lịch của bà Gái Nhỡ hay Huệ sẽ “vô hại” nếu như nó không được “nuông chiều”, nếu người nông dân không lợi dụng nó. Vậy nhưng trong cơn xoay vần của thân phận, họ bỗng dưng “đắc lợi”, mà nguy hiểm hơn, cái “lợi” của họ nhiều khi lại có được từ cái “hại” của người khác.

Thân phận luân lý thay đổi có xu hướng đẩy nhân vật vào các trạng huống lưỡng nan luân lý. Trong một số trường hợp, con người phải chấp nhận từ bỏ thân phận luân lý hiện thời của mình để thể hiện “tinh thần giác ngộ”, “thành khẩn”, “tính giai cấp”... Cự tuyệt quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình là một trong những lựa chọn luân lý (伦理选择 - ethical choice) phạm vào cấm kị luân lý mà nhân vật phải thực hiện. Bà Đất trong Chuyện làng Cuội của Lê Lựu chịu cảnh con dâu (Xuyến) và con trai (Hiếu) từ mẹ vì bà là “giai cấp bóc lột”, vì “Hai giai cấp phải đấu tranh một mất một còn không thể có mẹ con tình nghĩa gì vào đấy” [12, tr. 212]. Từ bỏ mẹ đẻ là một cấm kị luân lý, nhưng để bảo vệ mạng sống của mình, họ phải chấp nhận lựa chọn như vậy. Một mặt, họ có thể giữ được an toàn cho bản thân, nhưng mặt khác họ phạm vào tội bất hiếu. Dù nhận thức rõ khốn cảnh luân lý ấy nhưng họ không thể thoát ra. Bà Nghè Nguyên trong Cuồng phong cũng chịu số phận tương tự. Khi Cải cách nổ ra, bà bị quy là đại địa chủ, bị đem ra đấu tố, bị tịch thu tài sản, quản chế, “Từ nay thị là kẻ thù không đội trời chung của nông dân” [7, tr. 172]. Con trai Đức Hàm (có nhiều công lao với cách mạng và ngoại giao nước nhà) và con rể Vũ Hùng (hiện đang giữ chức Tỉnh Đội trưởng Thanh Đô) dù rất muốn nhưng không thể cứu được người thân. Họ rơi vào khốn cảnh luân lý không thể thoát ra: họ nhận thức được rằng dù gia đình mình có truyền thống, có nhiều công lao với cách mạng, nhưng họ đành bất lực trước cơn “cuồng phong” này. Cải cách ruộng đất, nói như Nguyễn Phan Hách, là một cuộc cách mạng triệt để, không trừ một ai. Với sức tàn phá khủng khiếp của nó, không ai muốn liên lụy, do vậy, chuyện người một nhà thấy chết không cứu là thường. Vì có muốn cũng không cứu được. Đức Hàm và Vũ Hùng cứu mình còn chưa nổi huống nữa cứu được ai? Đức Hàm phải tham gia chỉnh huấn, viết kiểm thảo, phải bịa ra những tội mình không có một cách như thật và cuối cùng phải từ bỏ quan hệ mẹ con với người đã dứt ruột đẻ ra mình: “Tôi Nguyễn Đức Hàm từ nay cắt đứt với đại địa chủ Vũ Thị Ngần… Không còn quan hệ mẹ con… Không liên quan gì” [7, tr. 198]. Vũ Hùng cũng rơi vào khốn cảnh luân lý tương tự: chỉnh huấn, tra khảo, kết tội. “Cái tòa án cải cách vớ vẩn toàn mõ với quét chợ ngồi ghế chánh án thẩm phán chả ngượng ngùng gì “trình độ văn hóa” kém của mình mà không ra phán quyết tử hình Hùng vì hai tội tầy trời: phản bội giai cấp và làm gián điệp” [7, tr. 207]. Đây hẳn là một kết cục không thể tưởng tượng nổi của một người từng được xưng là “Hùm xám tướng quân”, chọc trời khuấy nước, cầm đầu quân khởi nghĩa, chém Tây như ngả rạ... Vậy mà để giữ mạng, được/bị thôi chức Tỉnh đội trưởng, làm cán bộ Cải cách, Hùng phải thực hiện một lựa chọn luân lý đầy bất nhân khác - một cấm kị luân lý khác: viết giấy ly hôn với Lan Viên - người vợ anh yêu hết mực. Từ mẹ, từ vợ là lưỡng nan luân lý đối với Đức Hàm, Vũ Hùng. Nếu không từ bỏ quan hệ huyết thống, hôn nhân, họ có thể mất mạng. Nếu từ bỏ những người ruột thịt ấy, họ trở thành kẻ bất hiếu, vô đạo, phạm vào cấm kị luân lý. Cuối cùng, lựa chọn luân lý của họ vẫn là bảo toàn mạng sống cá nhân. Câu chuyện của Đức Hàm và Vũ Hùng cho thấy trong cải cách ruộng đất thì mục tiêu ưu tiên của con người là sống, phải sống trước đã. Họ không thể cứu mình nên không thể cứu người, có muốn cứu cũng lực bất tòng tâm. Vậy nên, Đức Hàm phải từ mẹ, Vũ Hùng phải từ vợ. Thanh (Biết đâu địa ngục thiên đường, Nguyễn Khắc Phê) cũng phải lờ đi tình cảnh khốn khổ, đói ăn, bị ngược đãi của mẹ (bà cụ Huy) và em gái út (Hải) khi cô về làng. Vì sợ liên lụy, sợ ảnh hưởng đến con đường phấn đấu của bản thân nên Thanh phải làm ngơ. Quay lưng lại với người thân trong hoàn cảnh khó khăn là đi ngược lại luân lý, đạo đức nhưng Hàm, Hùng, Thanh đã phải thực hiện những lựa chọn luân lý vô cùng khó khăn như vậy.

Cái chết trở thành nỗi sợ hãi lớn nhất của những người nông dân lúc bấy giờ. Những kẻ đáng chết, những kẻ phải đền tội không phải là đối tượng được miêu tả của các nhà tiểu thuyết Việt Nam hậu chiến, ngược lại, họ nói đến những cái chết oan khiến độc giả đau lòng. Hai cuốn tiểu thuyết Cuồng phongBiết đâu địa ngục thiên đường đã nhắc lại chi tiết bà Nguyễn Thị Năm bị lôi ra tử hình vì cần “lấy điển hình”, “làm gương động viên phong trào” [7, tr. 176]. Bà Nghè Nguyên của Nguyễn Phan Hách vẫn còn giữ được mạng sống của mình nhưng cũng có những người phụ nữ kém may mắn hơn đã phải bỏ mạng trong cải cách ruộng đất. Đó là o Tú Châu bị hành hạ đến chết. Cậu con trai tên Hùng chỉ huy đánh trận ở Điện Biên không kịp về cứu mẹ, chỉ biết khóc nấc lên: “Mẹ ơi! Vì thằng Tây, con không kịp về cứu mẹ rồi mẹ ơi! Mẹ tha tội cho con…” [17, tr. 136-137] Đó là bà Khang: “Bà là chị ruột của ông Hà Huy Giáp (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa) và là mẹ của anh hùng Lý Chính Thắng, một trong những chiến sĩ biệt động đầu tiên đã hi sinh ở Sài Gòn từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp” [17, tr. 498]. Bà Khang chết vì “bị ngâm ở ao đến cổ, để đỉa bám đầy mình, rồi ban ngày bị cột vào bừa kéo trên các thửa ruộng đất cày lổn nhổn giữa nắng hè gay gắt. Hai ba ngày sau, bà tắt thở…” [17, tr. 498-499] Có những cái chết thật (như bà Nguyễn Thị Năm), có những cái chết “tiểu thuyết”, nhưng dù là lịch sử hay tiểu thuyết thì nó cũng góp phần giúp độc giả thấy được một phần đằng sau vinh quang của Cải cách. Sau cuộc biến thiên của xã hội, ngoài những thành tích đã được nêu ra, vẫn còn đó những sai lầm đã được công nhận, có cả những cái sai dù sửa cũng không thể trả về nguyên trạng - như mạng sống con người. Bên cạnh đó, nhà tiểu thuyết và độc giả của họ cũng đặt con người lên bàn cân luân lý để mổ xẻ bản chất của con người, để thấy cuộc chiến giữa thiện - ác, giữa con - người. Vì đâu nên nỗi? Do thời thế hay do chính con người? Vì sao họ dám từ bỏ người thân, bán rẻ nhân phẩm, đạo đức? Vì sao con người lại có thể đơm điều hại đồng loại? Vì sao con người có thể đồng lõa với kẻ đã cưỡng hiếp mình? Họ mất gì và được gì?

5. Qua các tiểu thuyết có đề cập đến cải cách ruộng đất có thể thấy được cách ứng/hành xử của các nhân vật nữ với anh/ông Đội và những người xung quanh có bốn nguyên nhân chủ yếu:  (1) nỗi sợ hãi của họ đối với quyền lực (cụ thể là thành viên Đội cải cách), (2) nhu cầu bảo vệ hay bảo toàn mạng sống của bản thân, (3) lòng tham kiếm chác “quả thực”, (4) libido của chính họ. Vì sợ các anh/ông Đội và để bảo vệ mình, họ có thể nói dối về người khác trong các cuộc đấu tố. Một số phụ nữ nhận ra và lợi dụng quyền hành của anh/ông Đội để trục lợi. Họ sẵn sàng đánh đổi thân xác, nhưng chính là phẩm giá luân lý của bản thân, để thỏa mãn libido, để nhận thêm phần “quả thực”. Duyên trong Ba người khác dù đã sắp lấy chồng nhưng vẫn sẵn sàng ngủ với Cự - đội trưởng Đội cải cách - lẫn hai lính của Cự là Bối và Đình. Duyên còn mặc chiếc áo của Bối lên người cốt để khoe với mọi người trong làng mối quan hệ thân thiết của mình với Đội. Duyên không hề quan tâm đến vị hôn phu cũng như phẩm giá của bản thân. Điều mà cô hướng đến là những phần ruộng tốt sẽ được chia cho mình theo lời hứa của các anh Đội. Duyên đã thực hiện một cuộc đổi chác “lỗ vốn” khi mà cô đã trao cho các anh Đội gần như tất cả, bao gồm cả trinh tiết, nhưng cô nhận được gì ngoài những cuộc chơi thể xác?

Xuyến cũng là một trong những người “ưu” trong cuộc tố thử bố chồng của mình - cuộc tập dợt để đấu thật cho thành thạo. Cô này sẵn sàng bịa đặt bố chồng đã hiếp dâm mình ở đống cây ngô, làm cho cô “mất trinh tuyết”, rồi lại bắt cô phải lấy anh Hiếu là con riêng của vợ để “phi tang, trốn tránh tội ác” [12, tr. 239]. Nhờ tập dợt và những “bài học thuộc lòng” đầy khí thế ấy mà các phiên tòa đấu tố đã bắn gục được nhiều tên “địa chủ”, “cường hào ác bá” mà “tên Kiêm đầu sỏ” (bố chồng của Xuyến) là một nạn nhân như thế. Viên đạn cuối cùng từ Đội Lăng bắn vào đầu Kiêm diễn ra trước khi có lệnh đình án. Nạn nhân đã chết oan. Vậy còn những người tố điêu như Xuyến có phải đền tội hay không? Hiếu - chồng cô - mãi không quên được những gì cô vợ dâm đãng của mình đã làm, căm thù cô vì đã lăng loàn với Đội Lăng trong cải cách ruộng đất nên đã trả thù Xuyến bằng cách ly dị, lại còn tòm tem với cô Nho hàng nước. Có những người như mụ Vinh (Biết đâu địa ngục thiên đường, Nguyễn Khắc Phê) vì ham “quả thực” đã tố điêu cụ Huy nhân đức. Nực cười là trước đó cụ Huy đã giúp đỡ mẹ con mụ ta hết lòng. Nhà nho khoa bảng danh tiếng trong vùng từng cứu đói, bốc thuốc chữa bệnh, giúp đỡ nhiều người nhưng cuối cùng ngã xuống trong cải cách ruộng đất. Phần “quả thực” của mụ Vinh được chia chính là căn nhà khách của nạn nhân. Nhưng cũng chính tại nơi được chia phần ấy, trong một đêm đông lạnh cóng, mụ đã chết cháy. “Mụ Vinh co quắt chẳng còn ra hình người!” [17, tr. 142]. Người làng quê họ tin vào “Trời” - một thế lực siêu nhiên, vô hình, chuyên chở ước mơ về công lý của họ, nên họ cho rằng mụ Vinh bị “quả báo” và “đáng đời” mụ ta. “Người vô ơn như thế, tránh sao khỏi Trời phạt hả cậu?” [17, tr. 143] Không chỉ mình mụ Vinh bị quả báo, mà chính vì hành động thất đức của mình, mụ Vinh đã khiến cho con gái mụ - o Hảo - không thể đến được với Dự (người ở trong nhà cụ Huy) - dù họ đã từng có con với nhau. Cụ Chắt Hòe (cha Dự) không thể chấp nhận bà mẹ vợ tương lai của con mình như vậy.

Trong bối cảnh Cải cách, những anh/ông Đội có quyền sinh quyền sát thực sự. Một bộ phận Đội đã tạo ra những công cụ “vu oan” một cách hợp pháp từ chính cộng đồng nông thôn còn nhiều trì trệ, bảo thủ, nông nổi, tham lam, dễ bị kích động. Nhưng đáng quý thay, vẫn còn có những người mẹ, người vợ, những người phụ nữ giữ vững được phẩm chất đạo đức của mình. Có người tố điêu như Xuyến (Chuyện làng Cuội), mụ Vinh (Biết đâu địa ngục thiên đường) nhưng cũng có người tham gia đấu tố với thái độ miễn cưỡng, bị ép buộc. Khi phiên tòa đấu tố lão Khổ (Lão Khổ, Tạ Duy Anh) diễn ra, cô em gái nuôi của lão là người đầu tiên được/bị đứng ra tố anh mình. Cô gái tội nghiệp - được mẹ lão vớ được khi nó sắp chết rét, lôi về nuôi - vừa tố vừa lén nhìn ông Đội, trong một tình trạng bị ép làm chứ chẳng hào hứng gì. Ngay trước hôm lão Khổ bị bắt đi, nó còn khóc lóc chạy theo dúi vào tay lão củ khoai luộc trước khi bị ông Đội đạp cho ngã dúi dụi. Trong những tháng ngày sôi sục, tranh tối tranh sáng ấy, bà cụ Huy vẫn giữ vững được đức độ, khí tiết, nghĩa là giữ trọn những phẩm hạnh phù hợp với thân phận luân lý của mình: vợ cụ Huy - nhà khoa bảng danh giá của vùng, Hoàng Giáp của triều Nguyễn. Bà bình tĩnh, không mắc mưu khiêu khích của những kẻ vu oan cho dù chúng bẻ song, trộm mấy lọ thuốc nam, cắt đứt dây và chặt nát vành xe kéo sợi… Bà không nói dối, không công nhận cụ Huy là phản quốc hại dân. Sức mạnh để bà có thể vượt qua những tháng ngày ấy chính là phẩm chất thiên lương sẵn có và một niềm tin mãnh liệt vào lãnh tụ, vào tình yêu thương với cụ Huy, niềm khát khao được minh oan cho Tâm (con trai cả)… Niềm tin vào công lý, vào Hồ Chủ tịch, vào sự đúng đắn của Đảng đã giúp họ nuôi hy vọng sống, vượt qua được bể khổ trần gian ấy. Niềm tin này lại xuất hiện ở Thanh - cô con gái lớn của bà. Vì sợ liên lụy nên Thanh không đoái hoài gì mẹ và em trong những ngày khốn khó vì Cải cách. Dù vậy, chị cũng không thoát khỏi sự truy bức của tổ chức, đồng chí, đồng đội. Thời điểm ấy dù đang mang thai bé Linh nhưng mấy đêm liền chị muốn nhảy xuống giếng tự tử. Muốn chết là một lựa chọn luân lý thể hiện được lập trường của Thanh. Chị sẵn sàng đấu tố cha tội làm quan, mẹ thu tô của nông dân, sẵn sàng bắn người anh (Tâm) theo đạo (nếu đúng Tâm làm chỉ điểm cho Tây), “nhưng buộc chị “ăn không nói có” như phải tố cáo bố mẹ đánh đập nông dân tàn ác, buộc chị thú nhận đã nhiều lần chứng kiến bố họp hành, liên lạc với bọn phản động “Liên tôn chống Cộng”… thì thà chết, chị cũng không chịu” [17, tr. 607-608]. Thanh đã không chết vì trong những đêm trường ấy có một thứ ánh sáng đã dẫn lối cho chị, đó là niềm tin và hy vọng “sớm muộn cụ Hồ và Đảng anh minh sẽ soi sáng minh oan cho chị” [17, tr. 608]. Chị đã được toại nguyện, được minh oan, được khôi phục Đảng tịch, trở thành một cán bộ được tin cậy… Tương tự, mẹ con bà Nghè Nguyên - Lan Viên trong Cuồng phong cũng mang một niềm tin như thế. Bởi là những người có học nên Lan Viên và bà Nghè thấu hiểu cảnh “nhố nhăng” thời thế. Họ thông cảm cho nỗi khó xử của Đức Hàm và Vũ Hùng nên khi tờ giấy tuyên bố từ mẹ của Hàm và lời tuyên bố ly dị của Hùng về đến “chuồng bò” thì cả hai mẹ con thấy “cũng là bình thường”, “không thấy đau khổ gì lắm” [7, tr. 231]. Quan trọng hơn, dù bị đối xử bất công và ngược đãi nhưng họ vẫn có niềm tin vào ngày mai tươi sáng: “Con tin là đến một lúc nào đó tình hình sẽ khác. Chả lẽ cứ bắn, giết, tù đầy mãi thế này à...” [7, tr. 231] Niềm tin của Lan Viên được ủng hộ bởi niềm tin của những người như Thuần Phong: “Chúng ta đã bắt chước “cải cách ruộng đất” của nước ngoài đem về áp dụng nguyên xi, thậm chí chúng ta còn bị nước ngoài ép buộc phải làm. Anh tin vào sự sáng suốt của lãnh đạo tối cao... Nhất định sẽ có sự điều chỉnh” [7, tr. 239]. Những người đặt niềm tin vào sự đúng đắn của Đảng, của lãnh tụ đã được đền đáp. Lịch sử đã chứng minh những người như bà cụ Huy, bà Nghè, như Lan Viên, Thanh hay Thuần Phong là chính xác. Cải cách ruộng đất bị đình chỉ. Lệnh sửa sai được ban ra.

Bên cạnh đó, niềm tin vào con người cũng là thứ ánh sáng nhân luân tốt đẹp để “nạn nhân” của cải cách ruộng đất bước qua “bóng tối”. Những giá trị thiên lương của đạo đức, luân lý, của tình người và tính người là liều thuốc hữu hiệu cổ vũ con người. Nói như Biền trong Bến không chồng (Dương Hướng) thì: “Theo mình nghĩ bản năng con người nói chung là muốn làm điều tốt, điều thiện. Nếu con người có xấu đi, độc ác, tàn bạo là do thời thế. Thời thế nó cũng tạo nên anh hùng và thời thế cũng làm hỏng con người ta mau lắm” [10, tr. 234]. Con người vẫn tin vào cái gọi là “nhân tri sơ, tính bản thiện” nhưng nếu con người trở nên ác thì cũng không thể đổ tất cả lỗi cho “thời thế”. Con người là sự kết hợp của nhân/lý tính và thú tính hay nhân tố Sphinx (斯芬克斯因子 - Sphinx factor)[]. Nhiếp Trân Chiêu quan niệm: “Con người với tư cách một tồn tại cá thể đồng đẳng với một nhân tố Sphinx hoàn chỉnh, vì vậy trong cơ thể cũng đồng thời hiện hữu nhân tố nhân tính và nhân tố thú tính. Hai loại nhân tố này kết hợp với nhau mới có thể tạo thành nhân cách hoàn chỉnh” [15, p. 10]. Khi nhân tố nhân tính (人性因子 - human factor) làm chủ, cơ thể đó sẽ hành xử như một con người thực sự, tức có khả năng phân biệt thiện - ác. Ngược lại, khi nhân tố thú tính (兽性因子 - animal factor) làm chủ, con người sẽ phản bội luân lý. Từ góc độ của Phê bình Luân lý học Văn học, có thể thấy rằng nhân vật tiểu thuyết đổi tính, trở nên dối trá, hung hãn, bị/chủ động hãm hại người khác chính là hậu quả của việc bị nhân tố thú tính kiểm soát. Nghĩa là bất cứ cá thể người nào cũng có sẵn nhân tố thú tính và sở hữu khả năng phản bội luân lý trong mình (khả năng này chỉ bộc lộ ở những người mất ý chí lý tính, để cho ý chí thú tính vùng lên). Cuộc chiến giữa nhân tố nhân tính và nhân tố thú tính bị ảnh hưởng bởi hoàn/ngữ cảnh luân lý. Trong trường hợp các nhân vật nữ đã phân tích ở trên, hoàn cảnh này rất đặc biệt, khi mà: “Con người như con kiến bò trong chảo gang, cuống cuồng, tuyệt vọng, điên loạn. Ai cũng sợ xanh mắt, sợ đến mất trí. Tất cả răm rắp theo tiếng ho của Đội, của bần cố cốt cán” [7, tr. 240]. Hoàn cảnh luân lý đặc thù của thời kì cải cách ruộng đất chính là chất xúc tác khiến cho một số người đã phản bội đạo đức, luân lý của cộng đồng.

6. Trong hoàn cảnh luân lý mới của thời hậu chiến, nhất là từ Đổi Mới, văn học Việt Nam đã có thời gian và không gian để phân tích nhiều sự kiện của lịch sử, chiến tranh, quá khứ, trong đó có vấn đề cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất có thể là đề tài chính hoặc một vài chương đoạn trong tác phẩm, nhưng với một vấn đề “nhạy cảm” như vậy, những tác phẩm đã ra đời cũng phần nào thể hiện được sự quan tâm của các nhà tiểu thuyết đối với vấn đề này. Ngoại trừ một số tác phẩm “có vấn đề”[] thì điểm chung của các tác giả như Tô Hoài, Lê Lựu, Tạ Duy Anh, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Phan Hách là thẳng thắn nhìn vào lịch sử, nhắc nhớ độc giả về một phần của quá khứ, để tránh những lỗi lầm, hướng đến những điều tốt đẹp. Các nhà tiểu thuyết cũng nỗ lực phân tích số phận của đạo đức, bi kịch luân lý của con người nói chung, phụ nữ nói riêng. Về mặt lịch sử, năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. “Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở” [9]. Thừa nhận lỗi, xin lỗi quốc dân đồng bào, tiến hành sửa sai là hành động dũng cảm của lãnh tụ và những người cầm quyền. Với các nhà tiểu thuyết, đưa cải cách ruộng đất vào tác phẩm cũng là một cách để thể hiện trách nhiệm, bổn phận của người cầm bút với quá khứ, với lịch sử. Trên cơ sở giải phẫu con người trong một hoàn cảnh luân lý cụ thể của lịch sử, xã hội, nhà văn đã phóng chiếu những “tấm gương” luân lý, đạo đức, giúp con người soi mình, sửa mình, để trở thành một con người chân chính.

 

Tài liệu tham khảo

 

[1] Tạ Duy Anh (2009). Giã biệt bóng tối - Tác phẩm và lời bình (tái bản), Nxb Hội nhà văn, Công ty Sách Bách Việt, Hà Nội.

[2] Ngô Vương Anh (08/09/2014). “Trưng bày chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946-1957”, Nhân Dân Điện tử. Truy cập từ: https://www.nhandan.com.vn/vanhoa/dong-chay/item/24252402-trung-bay-chuyen-de-%E2%80%9Ccai-cach-ruong-dat-1946-1957%E2%80%9D.html

[3] Callahan ’04, Robert (2004). “Vietnamese Land Reform: the Dosmestic Impetus to Communist Compromises at Geneva”, Honors Projects. Paper 17. Retrieved from: http://digitalcommons.iwu.edu/history_honproj/17
[4] Phong Châu (18/09/2017). “Vụ án nhà tư sản Nguyễn Thị Năm: Còn đợi đến bao giờ?”, Luật sư Việt Nam Online. Truy cập từ: http://lsvn.vn/ho-so-tu-lieu/ho-so-tu-lieu/vu-an-nha-tu-san-nguyen-thi-nam-con-doi-den-bao-gio-24720.html

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[7] Nguyễn Phan Hách (2008). Cuồng phong, Nxb Hội nhà văn, Công ty Sách Bách Việt, Hà Nội.

[8] Hansen, Kaitlin (2013). “Land Law, Land Rights, and Land Reform in Vietnam: A Deeper Look into “Land Grabbing” for Public and Private Development. Independent Study Project (ISP) Collection. 1722. Retrieved from: https://digitalcollections.sit.edu/isp_collection/1722

[9] Dương Hương (18/05/2010). “Bác Hồ với công khai khuyết điểm”, Báo điện tử VTV News. Truy cập từ: https://vtv.vn/trong-nuoc/bac-ho-voi-cong-khai-khuyet-diem-40433.htm

[10] Dương Hướng (1991), Bến không chồng (tái bản), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[11] Hoàng Nhật Linh (1993). Nghề buôn: Mồ hôi, nước mắt, nụ cười, Trung tâm Thông tin KHKTHC, Hà Nội.

[12] Lê Lựu (1993). Chuyện làng Cuội, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[13] Hồ Chí Minh (2009), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8 (1955-1957), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[14] Lê Quỳnh Nga, “Quan điểm tiến hành cải cách ruộng đất ở Việt Nam trong những năm 1945-1956 qua các Nghị quyết Trung ương Đảng” (mã số: VNH3.TB9.115), Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập từ: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=ab315600-73a5-4c2b-b062-f7966e824087&groupId=13025

[15] 聂珍钊(2011).“文学伦理学批评:伦理选择与斯芬克斯因子,《外国文学研究》, 6:1-13.

[16] 聂珍钊(2014).《文学伦理学批评导论》, 北京:北京大学出版社.

[17] Nguyễn Khắc Phê (2010). Biết đâu địa ngục thiên đường, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

[18] Hoàng Phương (11/09/2014). “Khoảng lặng bên trong triển lãm Cải cách ruộng đất”, Vnexpress. Truy cập từ: https://vnexpress.net/thoi-su/khoang-lang-ben-trong-trien-lam-cai-cach-ruong-dat-3077720.html

[19] Vo, Alex-Thai (2015). “Nguyễn Thị Năm and the Land Reform in North Vietnam, 1953”, Journal of Vietnamese Studies, 10(1): 1-62. DOI: 10.1525/vs.2015.10.1.1



[] Theo Alex Thai D. Vo trong bài Nguyễn Thị Năm and the Land Reform in North Vietnam, 1953 (Nguyễn Thị Năm và Cải cách ruộng đất ở miền bắc Việt Nam năm 1953) thì bà Nguyễn Thị Năm kết hôn rất sớm. Chồng bà là con trai duy nhất của một chủ buôn nước mắm giàu có ở thành phố cảng Hải Phòng. Vì ăn chơi trác táng nên ông chồng chẳng mấy chốc nướng hết cơ nghiệp bố mình để lại vào thuốc phiện và đàn bà. Do vậy, Nguyễn Thị Năm phải tìm cách nuôi hai đứa con, chồng và mẹ chồng. Bà mở một quán ăn nhỏ bán bún rối và thịt chó. Sau khi thực dân Pháp xây dựng Nhà máy Cement Hải Phòng, bà Năm bắt đầu bán sắt phế liệu và nhanh chóng trở thành “Bà chúa sắt” chuyên mua bán sắt thép nhập khẩu từ Pháp. Sau này, vì ông chồng mê đắm một cô đầu trẻ, bà Năm đã đưa hai con lên mạn trung du, đầu tư canh tác đồn điền ở Thái Nguyên. Năm 1943, bà mua lại đồn điền Reyllon ở Đồng Hỷ rồi đổi tên thành đồn điền Cát Hanh Long. Với diện tích 1.283 mẫu thì đây là đồn điền lớn nhất Thái Nguyên lúc bấy giờ. [19, p. 15]

[] Cấm kị luân lý (伦理禁忌 - ethical taboo) là những quy định, nguyên tắc, luật lệ luân lý không được phép xâm phạm, vượt qua - phổ biến nhất là loạn luân, giết người, bất hiếu - nhằm đảm bảo trật tự luân lý (伦理秩序 - ethical order) của cộng đồng. Một khi con người phạm vào cấm kị luân lý thì trật tự luân lý bị phá vỡ, tạo ra tình trạng hỗn loạn luân lý (伦理混乱 - ethical chaos) khiến con người phải đối mặt với khốn cảnh luân lý (伦理困境 - ethical plight) hay lưỡng nan luân lý (伦理两难 - ethical dilemma) và rơi vào bi kịch. Oedipus đã phạm vào cấm kị luân lý khi giết cha ngủ với mẹ. Đó là một bi kịch luân lý điển hình trong văn học.

[] Dù đã phát hiện ra nhưng Hiếu - chồng Xuyến - “Phải chạy thật nhanh, thật xa, phải không để lại dấu vết gì chứng tỏ là anh đã về đến đây, đã như một con chó bò lồm cồm ở trước nhà mình” [12, tr. 229] Để bảo vệ bản thân và gia đình, những “nạn nhân” như Hiếu buộc phải đồng lõa với cái ác, cái xấu của vợ mình. Nghĩa là họ đồng lõa với phi luân, vô đạo. Họ lâm vào tình cảnh mà Nhiếp Trân Chiêu đã gọi là khốn cảnh luân lý, lưỡng nan luân lý. Nếu họ đứng dậy tố cáo, thậm chí chém, giết anh Đội thì có thể sức mọn của họ sẽ bị đè bẹp nhanh chóng trước “sức nặng” của những anh Đội. Nếu họ chấp nhận chạy trốn (như Hiếu) thì hiển nhiên họ phải cắn răng chịu đựng nỗi ô nhục về đạo đức, luân lý mà đối phương cũng như chính họ đã gây/tạo ra.

[] Tồn tại người là tồn tại luân lý, do đó, con người sở hữu một/nhiều thân phận luân lý (伦理身份 - ethical identity). Thân phận luân lý có thể bị thay đổi và sự thay đổi này ảnh hưởng, tác động hoặc quyết định đến những thành tố luân lý khác của con người, trong đó, quan trọng nhất là lựa chọn luân lý (伦理选择 - ethical choice).

[] Khốn cảnh luân lý (伦理困境 - ethical plight) hay lưỡng nan luân lý (伦理两难 - ethical dilemma) là trạng thái khó xử, khó khăn, nước đôi, nan giải do các yếu tố luân lý, đạo đức chế định, khiến cho con người bối rối trong việc đưa ra lựa chọn luân lý của mình. Nếu không báo thù cho cha, Hamlet sẽ trở thành đứa con bất hiếu, nhưng nếu giết Claudius - người bây giờ đã là chồng của mẹ, nghĩa là cha dượng của Hamlet - thì chàng lại rơi vào cấm kị luân lý. Đây chính là khốn cảnh luân lý hay lưỡng nan luân lý của Hamlet.

[] Trong thần thoại Hy Lạp, Sphinx được miêu tả như một con quái vật có đầu của một người phụ nữ, thân của con sư tử cái, đôi cánh của đại bàng và đuôi rắn. Sphinx trấn giữ đường vào thành Thebes bằng cách đưa ra một câu đố dành cho người qua đường, nếu trả lời sai họ sẽ bị giết chết. Câu đố nổi tiếng của Sphinx thực chất là cách thức để nó tìm ra thân phận luân lý của mình: là người hay vật? Sphinx là hình tượng thể hiện tính người và tính vật trong cùng một cơ thể. Đây là cơ sở để Phê bình Luân lý học Văn học xây dựng khái niệm nhân tố Sphinx.

[] Số phận các tiểu thuyết viết về cải cách ruộng đất cũng khác nhau. Có cuốn bị thu hồi ngay sau khi phát hành như Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường. Ba người khác của Tô Hoài xuất hiện lần đầu vào năm 1993 với tên “Chuyện ba người” nhưng cũng bị thu hồi và đình bản, mãi đến hơn 20 năm sau, năm 2006, Tô Hoài đổi tên tác phẩm của mình thành “Ba người khác” và tái xuất bản...


------------

Bài viết đã được in trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn học và Giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế,  tháng 10/2019.


Bài khác