Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ VIẾT VÀ THỔI SINH MỆNH NỮ VÀO VĂN CHƯƠNG VIỆT

TS. Lê Thị Hường1

 

Tóm tắt: Thế kỉ XXI, thời đại kinh tế tri thức, tri thức nhân tạo, có thể đặt ra vấn đề giới trong sáng tác văn chương, lối viết nam hay lối viết nữ; phụ nữ viết về cái gì và nam giới viết cái gì? Tuy vậy, ở Việt Nam, khi định kiến vẫn còn trong quan niệm về nghề nghiệp; vẫn còn cái nhìn bề trên về giới nữ thì không thể không đặt ra vấn đề giới nữ viết văn. Văn xuôi nữ đương đại Việt Nam vẫn thể hiện rõ ý thức giới trên những trang văn - từ quan niệm về viết đến một lối viết nữ dẫu dấu chỉ của nó khó xác định. Khi đàn bà viết, vô thức hay hữu thức, họ đã thổi sinh mệnh nữ vào văn chương, làm đa dạng hóa đời sống văn học Việt Nam đang nhiều thay đổi trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

                        Từ khoá: Giới, nữ quyền hiện sinh, lối viết nữ, diễn ngôn thân thể, toàn cầu hoá.

 

Giới (gender) không chỉ để nói về phụ nữ; nhưng đôi lúc, người ta mặc định giới liên quan trực tiếp đến phụ nữ - một The Other. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, người sớm đề cập vấn đề giới trong văn chương Việt, đã nêu ra một ngộ nhận của loài người/đàn ông về giới nữ. Theo ông, sự ngộ nhận “rót vào nội tâm con người nhiều muối hơn cả là sự ngộ nhận giới tính”; “Phần lớn chúng ta chẳng hiểu gì về phụ nữ. Tôi chỉ mang máng hiểu rằng đây là một lực lượng tự nhiên kì lạ. Tất cả những điều chúng ta biết về họ và ra sức làm khổ họ đơn thuần chỉ vì chúng ta quá sợ hãi những ước lệ xã hội, những ước lệ phi nhân tính mà thôi”2.

 

1. Phải chăng nữ quyền là đối trọng với nam giới?

Thế kỉ XXI, thời đại kinh tế tri thức, tri thức nhân tạo, không phải là lúc đặt ra bức thiết vấn đề giới nữ trong sáng tác văn chương. Nhất là khi các phong trào nữ quyền ở phương Tây với những tên tuổi tiêu biểu đã lùi xa hơn nửa thế kỉ. Khi xu hướng toàn cầu hóa đã làm xuất hiện mẫu công dân toàn cầu, với kiểu nhà văn thuộc một thế giới phẳng, xuyên quốc gia thì văn chương cũng cuốn theo qui luật đó. Cảm thức/lối viết hậu hiện đại với nhiều giá trị trái chiều, phi trung tâm hóa, phi chuẩn... lấn tràn chi phối văn chương. Cũng đến lúc, chính các nhà nữ quyền lại cho rằng, liệu kêu gào, “lải nhải” nữ quyền có dẫn đến tình trạng khủng hoảng bản sắc nữ3. Và một khi tình hình kì thị giới, thậm chí đánh mất giới khiến nhiều nhà văn giễu cợt - “Thật ra cứ tỉ mỉ mà xét, thì cái câu “giới tính của đàn ông” không hẳn đã là một câu nhịu...Xã hội văn minh đương thời hiện đại càng ngày càng phát triển rực rỡ thì hình như đàn ông bỗng hoang mang trở nên lung tung rắc rối phức tạp”; “Lady and Gentleman, xin các quý ông quý bà cố gắng mong manh đoàn kết để giữ gìn lấy nó” (Tạp văn Nguyễn Việt Hà) - thì cũng là lúc vấn đề giới nữ được nhìn nhận không chỉ khác thời quá xa của Freud, mà kể cả những anti Freud, những nhà nữ quyền vang danh. Tất cả những điều đó cho thấy, trong lĩnh vực sáng tác, không cần và khó thể đặt ra vấn đề giới, lối viết nam hay lối viết nữ; phụ nữ viết về cái gì và nam giới viết cái gì?

Tuy vậy, ở Việt Nam, với chiều lịch đại, vượt qua khoảng cách về thời gian, về rào chắn tư tưởng, văn học hiện đại đã tiếp nhận ồ ạt tư tưởng nữ quyền phương Tây. Vấn đề về giới/giới nữ/nữ quyền trở thành một trong những vấn đề nóng trong đời sống văn học, là một trong những yếu tố khiến văn học Việt Nam hội nhập thế giới. Dẫu những quan niệm của Virginia Woolf, S. de Beauvoir... có thể đã trở nên cũ trong sự phát triển đa dạng, phong phú của văn học toàn cầu, nhưng vấn đề họ đề cập vẫn còn là “những câu hỏi ném ra phía trước”. Trong thực tế, tư duy nam quyền đâu đó vẫn còn chăng; một khi ngoài xã hội, bạo lực gia đình, quyền uy đàn ông vẫn khống chế, truy bức, hiếp đáp phụ nữ và trẻ em gái - những phụ- nữ-bất-hạnh-ở-tương-lai, trở thành cộm nổi, nhưng văn học chưa theo kịp hiện thực tàn nhẫn này. Cái gọi là văn hóa duy dương vật vẫn thống trị khi “...những cô gái giang hồ yêu cầu người đàn ông dùng bao cao su, chắc hẳn có thể bị chết đói, và những người vợ hành động như vậy có thể bị đánh đập hoặc bị đẩy ra ngoài đường phố”4. Khi định kiến vẫn còn trong quan niệm về nghề nghiệp –“Trong xã hội chỉ có mỗi một nghề khiến đàn bà phải đi lang thang... Có lẽ tôi cạn vốn rồi. Chẳng còn gì nữa để đeo đuổi cái nghề viết lách nhọc nhằn, thậm chí quá nhọc nhằn đối với một phụ nữ muốn giữ nếp sống bình lặng của gia đình...” (Võ Thị Xuân Hà); khi vẫn còn cái nhìn bề trên về giới nữ: “Đàn bà không có thơ đâu. Thơ phải là những tâm sự lớn. Đàn bà thì tâm sự gì...” (Nguyễn Huy Thiệp - Giọt máu) - thì không thể không đặt ra vấn đề giới nữ viết văn. “Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu. Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân mình”. Y Ban lên tiếng như một đối thoại về giới và là một trong những nhà văn nữ đã khơi dòng chảy nữ quyền trong văn chương Việt đương đại. Và khi hiểu rằng nữ quyền không dừng lại ở nam nữ bình quyền, phê phán sự bất bình đẳng về tình dục đối với nữ giới, hoặc đẩy đàn ông vào bếp núc... mà là vấn đề tạo chất lượng sống cho phụ nữ, tháo bỏ những định kiến ràng buộc vẫn tồn tại như một thứ vô thức tập thể trong bất kì thời đại nào, tộc người nào – dã man hay văn minh, thì vấn đề giới nữ chưa phải đã xanh rêu, vẫn tạo cảm hứng cho văn chương.

Nữ quyền không có nghĩa là đả phá nam giới. Phá vỡ văn hóa “im lặng”, phụ nữ lên tiếng. Với thế hệ Dạ Ngân, Y Ban... nhu cầu muốn đòi, muốn tranh biện vỡ ra thành những mã diễn ngôn trần trụi, thô nhám, dữ dội. Trong tác phẩm của họ xuất hiện phổ biến hình ảnh “người đàn ông bất toàn” nhằm kháng cự với quan niệm, với định kiến ngỡ đã lỗi thời nhưng còn đeo bám dai dẳng. Tuy vậy, thế hệ Y Ban thiếu “sự im lặng của văn chương”. Khi các nhà văn nữ cố ý bôi nhọ, kết án nam giới thì cũng là lúc họ phơi bày hạn chế của lối viết nữ. Chính vì vậy mà nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam giễu cợt, gây hấn - “Các nhân vật nữ, hay chính tác giả, dường như thống khoái với việc gào đến rách họng để thiên hạ biết mình là đàn bà thì phải? Đàn bà thì đã làm sao?”. Nhân danh nữ quyền có nguy cơ lệch hướng dẫn đến khủng hoảng giới, khiến kể cả giới nữ, cũng nhân danh nam giới đối thoại với việc kêu gọi trả phụ nữ về với “nữ tính dịu dàng”, để phụ nữ cứ là chính họ: “Sao đàn bà các cô cứ tìm cách li khai với đàn ông thế nhỉ? Tôi thật chán ba cái trò nữ quyền. Làm phụ nữ không đủ với các cô à?”; “Tôi tin đến một lúc thế giới này đủ tiến bộ, họ sẽ dạy phụ nữ chỉ mỗi một việc là cách tô son thôi” (Nguyễn Khắc Ngân Vy, Phúc âm cho một người). Thế hệ sau đã thoát khỏi cái bóng trở nên cũ của những S. de Beauvoir... Không vướng mắc vào những định kiến giới, không ồn ào, không tuyên ngôn lập thuyết, tuy vậy, dấu chỉ nữ quyền trong sáng tác của Phan Việt, Trang Hạ, Nguyễn Khắc Ngân Vy... vẫn tồn tại như một di truyền văn hóa.

 

2. Ý thức giới trên những trang văn

Quan niệm về “cái viết”

Với nữ giới, viết là khấu trừ vào bí ẩn nữ tính, là giết chết Thiên thần chốn khuê phòng5. Viết trong quan niệm của nữ giới là hành trình khám phá bản thân đau đớn, là cuộc truy tìm đến tận cùng bản ngã. Nếu nhà nữ quyền Anh Virginia Woolf từng đấu tranh cho quyền viết văn của phụ nữ, thì các nhà văn nữ Việt Nam cũng đòi một quyền luận, vượt ra khỏi quan niệm truyền thống về giới, nhất là những định kiến về giới nữ cầm bút. Trong một truyện ngắn, Võ Thị Xuân Hà tự bạch về hoàn cảnh, tâm trạng của người đàn bà viết: “Từng đêm, ta ngồi khổ sở bên ngọn đèn, vắt kiệt trí não viết ra những trang bản thảo chẳng nơi nào nhận in. Hay là ta quay về với cuộc sống đời thường?... Ừ ta sẽ về. Sẽ ném hết vào lửa những đêm khuya vật vã, những ước vọng phù phiếm… Tôi ném chúng vào lửa, không sót một trang nào… tôi viết, để có thể ngày mai lại đốt…” (Những trang bản thảo).

Với phụ nữ cuộc tìm kiếm bản thể đồng nhất với việc viết. Viết là đối diện với bản sao của mình. Cái tôi nữ giới khơi tìm vào bên trong, đối bóng, đối ảnh - kiểu “tôi nhìn tôi trên vách”, “người đàn bà đứng trước gương” để nhìn thấu ảnh tượng đằng sau. “Nhân vật trong tiểu thuyết của tôi là những khả hữu vô thức của chính tôi” (Kundera, Đời nhẹ khôn kham). Trong văn xuôi nữ, cái khả hữu vô thức đó ám ảnh nhọc nhằn tôi. Phan Việt “mang đời mình ra viết sách” (Một mình ở châu Âu, Xuyên Mỹ, Tiếng người). Nhân vật/những “khả hữu vô thức” của Đoàn Minh Phượng loay hoay xác tín nhân vị: “Tôi phải đi tìm tôi, ghi chép mình ra giấy. Tôi phải nhìn thấy mình, đọc được mình. Tôi phải có thật để cái chết của tôi có thật”; “Chúng tôi đã viết chữ, có lẽ bằng máu và bằng nỗi chơi vơi vô tận của mỗi người” (Và khi tro bụi); “...Đời tôi viết xuống giấy chỉ được nửa trang giấy”; “Tôi còn lại gì để viết về mình? ...tôi có thể viết lên giấy, biến thành chữ được để qua đó nhìn thấy tôi?” (Mưa ở kiếp sau). Đừng xem phụ nữ viết chỉ là một hành vi “giải trung tâm nam giới” hoặc là “sự ganh tị dương vật”. Từ nữ quyền hiện sinh, viết là một hành vi lựa chọn để được tự do, được là chính mình. Viết là tự giết mình, nhưng không bằng cái chết (M. Duras). Linda Lê là một trong những nhà văn luôn thể hiện quan niệm về viết văn, về sáng tác hầu như trong toàn bộ tác phẩm của mình (Sóng ngầm, Vượt sóng). Nhân vật nào của Linda Lê cũng tìm đến viết, viết để hiện tồn. Viết như là một sự lựa chọn sinh mệnh - “Trọn thân xác tôi hóa thành từ ngữ. Càng ngày tôi viết càng khó khăn, vì mỗi lần tôi đặt một từ trên giấy, nó chiếm hữu tôi và tôi trở thành nó” (Lại chơi với lửa); “Sách vở đã cứu chúng tôi, con bé với tôi. Không có sách vở, tôi dám chắc nó không sống được” (Vu khống).

Các nhà văn nữ gặp nhau ở quan niệm, viết để tôi “không phải là cái khác”, viết để khẳng định cá biệt nữ. “Con đường gập ghềnh của văn chương đem đến cho tôi một thế giới. Trong thế giới đó, tôi là chính tôi” (Võ Thị Xuân Hà); “Viết là đang vẽ chân dung giới mình Y Ban); “...ruồng rẫy giọng điệu nữ tính là chối bỏ một thứ thuộc về bản chất của mình” (Nguyễn Ngọc Tư). Không thể xem phát ngôn của nhà văn là chân lí, bởi giữa quan niệm và sáng tác

thường có độ vênh lệch lớn. Khi R. Barthes tuyên bố “cái chết của tác giả” là lúc văn bản chiếm vị trí trung tâm, tính đa thanh của văn bản được nhấn mạnh; quyền uy của tác giả không còn thống trị. Từ đó, ngành văn bản học không “ăn theo” phát ngôn của tác giả mà căn cứ vào văn bản. Nhưng từ cái gọi là “thiên chức”, “thiên tính nữ”, có lẽ, không người đàn bà viết nào muốn quyền uy trong quá trình vật vã tự giết/tự ăn mình. Khi đàn bà viết, vô thức hay hữu thức,

họ đã thổi sinh mệnh nữ vào những trang văn.

Lối viết nữ - có hay không?

Không còn là lúc bàn về việc phụ nữ viết gì, đi vào vụn vặt đời thường hay xông/chạm vào những vấn đề gai góc; thể loại nào phù hợp với phụ nữ v.v... mà từ góc nhìn giới, vấn đề đặt ra là liệu có một lối viết nữ thật sự. Dẫu viết về vấn đề gì, trung tâm hay ngoại biên, thì “nhiệm vụ của các cây bút nữ không phải chỉ là chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác định một thứ mỹ học riêng của nữ giới”6.

Lối viết nữ (women’s writing style) là khái niệm luôn được đề cập trong phê bình nữ quyền. Hélène Cixous là một trong những người đầu tiên gọi tên thuật ngữ và bày tỏ quan niệm chủ quan của mình. Bằng biểu tượng giới tính, bà phân biệt dương vật/ngòi bút (nam giới) và bầu vú/dòng sữa/mực trắng (nữ giới). Từ khi định danh, lối viết nữ trở thành khái niệm trung tâm của nữ quyền luận và cũng gây ra những ý kiến khác nhau. Nhiều quan niệm khẳng định có một lối viết nữ - khu biệt với nam giới ở thể loại, đề tài, ở diễn ngôn (Béatrice Didier, Luce Irigaray...). Bên cạnh đó, nhiều ý kiến không đồng thuận - kể cả những nhà nữ quyền. Với tiểu luận Căn phòng riêng, Virgina Woolf vẫn còn “lấn cấn” trong quan niệm về lối viết nữ. Một mặt, bà cho rằng không có lối viết nữ7; mặt khác, theo Woolf, một trong những giá trị riêng của phụ nữ là phải tạo ra văn chương của họ. Điểm tên của một số gương mặt nữ tiêu biểu đương thời, Woolf phần nào xác lập một cách hiểu về lối viết nữ. Theo bà, Jane Austen viết như “nhập thân vào từng con chữ”, Emily Bronte “thay vì viết trong minh triết bà viết

trong điên rồ. Thay vì viết về các nhân vật của mình, bà viết về chính bà”8.

Thực sự có một lối viết nữ hay không? “Mỗi người phải tạo ra lối viết của riêng mình và lối viết ấy sẽ được đánh giá sau” (J. P.Sartre). Lối viết là sản phẩm của thời đại. Trong thời đại phụ nữ không chỉ được viết mà còn ý thức về cái viết - đã hình thành lối viết nữ, dẫu dấu chỉ của lối viết nữ khó xác định và ý kiến về nó cũng chưa thống nhất. Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng, điều làm nên nét riêng của lối viết nữ là cái tôi trực cảm. Thật ra, cái tôi trực cảm không chỉ dành cho nữ giới, nhất là khi người ta nhận ra rằng bản chất của tiểu thuyết là “đi tìm vùng ẩn mật của cái tôi” (Kundera). Khi triết/mĩ học hiện sinh lấn tràn, xâm nhập vào nếp nghĩ, nếp sống, lối viết, thì cuộc truy tìm nhân vị ráo riết không loại trừ giới nào. Nhưng “một tiếng nói nữ bao giờ cũng đồng thời là một phát ngôn thân phận” (Atwood). Khi phụ nữ viết về đồng tính thì cái “lệch pha” này mới được đi đến tận cùng cảm giác; cảm giác đắm say gần gũi nhưng thảng thốt vì “đã từng ấm nóng da thịt mình” mà vẫn “chưa thuộc hết nhau” (Nguyễn Ngọc Tư- Sông). Cảm giác pederasty được viết bởi nữ giới không đơn thuần là sự

đụng chạm - “Gã áp cơ thể phía trước của gã vào phần sau cơ thể ông, thăm dò, nghe ngóng, chờ đợi. Ông trân người. Gã trai trẻ đã nắm thóp ông, đang mỉa mai ông bằng trò chơi tiếp xúc câm nín” (Phan Hồn Nhiên- Ngựa thép); không trần trụi thao tác giường chiếu, không mượn

hình thức ngụy trang giới tính, chỉ là cảm giác, cái cảm giác Lesbian lẫn Bisexual thật say đắm và cô đơn (Đàn bà hư ảo – Nguyễn Khắc Ngân Vy). Nhìn từ cảm thức hiện sinh, khi cô đơn được xem là bản chất người thì chẳng nên đo đếm tôi-cô-đơn-hơn-anh (hay ngược lại). Nhưng với nữ giới; và có lẽ chỉ có nữ giới (?) mới thể hiện day dứt đến vậy, thăm thẳm đến thế nỗi cô đơn nhục thể. Nguyễn Khắc Ngân Vy thiên về lối viết cảm giác (về những cảm xúc đồng tính mơ hồ, những khoảnh khắc đắm chìm trong một mê cung ảo ảnh, những mù mờ không thấu hiểu, hoặc lang thang lạc lối; về hoảng loạn tuổi thơ, về sự cô đơn của một người phụ nữ giữa đám đông nhưng luôn thấy mình trong bóng tối với linh cảm những người thân thuộc lần lượt rời bỏ mình). Mọi thứ chung quanh An chật chội mà luễnh loãng, hư ảo. Một hình hài đang tồn tại bỗng nhiên hóa thừa. Một sự tràn-ứ-trống-rỗng về thân xác lẫn tâm hồn, về dục tính. Chỉ còn cô-đơn-tôi là rất thật.

Vẫn có nhiều tác phẩm của nam giới viết về quyền năng vô hạn của đàn ông đối với tự nhiên/động vật/phụ nữ/trẻ em...; quyền cưỡng bức phụ nữ từ sức mạnh của nam giới, chiếm đoạt tính dục, nô lệ tính dục, bạo hành thân xác. Ám ảnh tuổi thơ, bạo lực gia đình đã được Nguyễn Minh Châu sớm đề cập (Chiếc thuyền ngoài xa). Tác phẩm được cho là có ý nghĩa nhân đạo ở việc ca ngợi nữ tính truyền thống, sự hi sinh cam chịu của người đàn bà hàng chài, nhưng vấn đề không dừng ở đó. Từ góc nhìn giới, vô tình hay hữu ý, nhà văn đã chạm đến vấn đề văn hóa phụ quyền. Níu giữ ràng rịt ngòi bút trong cái gọi là thiên tính nữ, Nguyễn Minh Châu dẫu là “người mở đường tài năng và tinh anh” vẫn chưa thoát dấu vết nam quyền. Qua bạo hành gia đình, nhà văn để cho nhân vật nữ mặc cảm về thiên tính của giới - “cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”, “giá tôi đẻ ít đi”. Nhà văn để cho phụ nữ tự thấy mình là thứ yếu - “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”; “Trên thuyền phải có một người đàn ông... dù hắn man rợ, tàn bạo?”. Quan niệm đàn ông là trung tâm, là chỗ dựa an toàn của nữ giới đã trở thành vô thức tập thể chi phối cái nhìn nghệ thuật của nhà văn. Hay nói cách khác, văn hóa duy dương vật vẫn tồn tại dai dẳng trong văn chương của một tác giả tiên phong trong việc thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người. Lồng luận đề nghệ thuật vào bi kịch gia đình, Nguyễn Minh Châu muốn “ai điếu” một lối viết; luận bàn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, nhưng tính luận đề - một trong những đặc điểm nổi bật của Nguyễn Minh Châu, trong trường hợp này đã vô tình làm giảm tính đa diện thẩm mỹ của tác phẩm.

Hình ảnh người cha quyền lực vẫn có trong sáng tác nữ, nhưng đã khác trước. Bên cạnh người đàn ông bất toàn/bất lực/khiếm khuyết không còn là người đàn bà dằn mình trước số phận, hoặc “tôi cần một người đàn ông”. Đàn bà hư ảo là vô thức tập thể về thân phận phụ nữ qua lối viết dòng ý thức ghép mảnh hậu hiện đại, tính dục lưỡng tính và lệch pha. Bóng dáng người mẹ cam chịu, bạo lực gia đình, quyền lực người cha, tuổi thơ bất hạnh... hằn sâu trong kí ức của An, ám ảnh dai dẳng thành những cơn khủng hoảng tâm thần dẫn đến những cơn đau thể xác. Truyện chẳng có tình huống gì thuộc về thân phận (An đi du lịch, spa, cô chú ý đến chu kì kinh nguyệt, cô làm tóc màu xanh...) - chỉ là hành trình nhọc nhằn xua đuổi hình ảnh đứa bé đầy hận thù ra khỏi kí ức nhưng lại là cuộc truy đuổi quá khứ đầy mâu thuẫn. Rượt đuổi, kiếm tìm, níu giữ, tra vấn - đó cũng là hành trình truy tìm bản thể, để nhận ra khi đứa trẻ thơ dại trong mình không còn nữa thì cũng là lúc hiện tại trống rỗng, còn hơn cái chết. Qua một kiểu diễn ngôn dưới-hội thoại, qua dòng ý thức rối bời, qua những lời thoại ngắn, rời rạc giữa bác sĩ tâm lí và người bệnh là tự bạch, tự tra khảo mình. Đối thoại với người khác (bác sĩ tâm lí) thực ra chỉ là khơi chảy dòng kí ức ngổn ngang luôn bị kìm nén. Có vẻ như An khó nhọc, dè xẻn mở chiếc hộp kí ức và “đổ tràn nỗi thống khổ của phụ nữ ra khắp thế gian”.

Hélène Cixous khẳng định rằng suốt nhiều thế kỷ qua, người phụ nữ hoàn toàn vắng bóng trong hoạt động diễn ngôn. Mặc dù lí thuyết nữ quyền phương Tây đã trở nên cũ, nhưng khi rào chắn của quan niệm phương Đông vẫn tồn tại như một thứ vô thức tập thể, các nhà văn nữ Việt Nam vẫn thể hiện nhu cầu được lên tiếng. Rõ nhất là khi phụ nữ viết về lịch sử. Lần ngược quá khứ, không có nhà văn nữ viết về lịch sử, dẫu trong những bi kịch lẫn vinh hiển vương triều phụ nữ dự phần không ít. Trong khi nam giới “đổ xô” tìm về lịch sử và không ít nhà văn thành công thì cho đến nay chỉ có vài bộ tiểu thuyết lịch sử của Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai... - những nhà văn sớm đề cập quyền ngôn luận của nữ nhân vật lịch sử, dù quyền lực vương triều làm họ tả tơi. Viết về lịch sử, cá biệt nữ thể hiện đậm rõ ở quan niệm để cho người phụ nữ lên tiếng, cổ xúy cho quyền được nói và viết của phụ nữ ở những giai đoạn họ không được nghe. Một trong những góc khuất vương triều là triệt tiêu quyền được nói/viết của phụ nữ trí thức. Qua bi kịch hồng nhan, các nhà văn nữ nêu một cách sâu sắc bi kịch “khi lên tiếng” của phụ nữ trong chốn vương triều (Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai).

Lịch sử có những vùng khuất mà nam giới dẫu có giải mờ giải thiêng cũng không nói hết tiếng lòng của phụ nữ. Khi phụ nữ viết về lịch sử, họ không phán xét từ bên ngoài, từ những sự kiện chính sử. Cùng viết về Huyền Trân công chúa (Đức Thánh Trần - Trần Thanh Cảnh) nhưng bằng sự phân thân và cái nhìn thấu cảm, bi kịch mỹ nhân lịch sử bội phần đau (Sóng vỗ mạn thuyền - Trần Thị Trường). Thời gian không gian lênh đênh gần gũi giữa Huyền Trân và Trần Khắc Chung trên muôn trùng sóng biển theo chính sử vẫn còn là nghi vấn; là “tư thông”, là “xằng bậy”; chỉ có trái tim phụ nữ mới lên tiếng cho giới mình: “Cha ơi. Cha, con sắp lên giàn thiêu cha ạ, cho trọn đạo vợ chồng. Mà... thực ra... con mới mười tám tuổi. Con chưa được sống...Con đã được gì. Ít quá cha ơi. Lẽ nào con sinh ra để chết hả cha?” (Sóng vỗ mạn thuyền). Từ cái nhìn nữ giới, bi kịch hồng nhan không gắn liền với motif “đèn lồng đỏ treo cao” cổ điển, những phi tần mỹ nữ không bị biến thành “sinh vật tình dục” đế vương mà là tiếng nói khao khát và quyến rũ nữ tính. Viết về Nguyễn Ánh và Ngọc Bình, nếu Sương Nguyệt Minh thiên về quyền uy tính dục nam giới (Dị hương) thì Trần Thùy Mai lại thiên về bi kịch đắng lòng của mỹ nhân thời loạn (Từ Dụ thái hậu). Theo Trần Thùy Mai, có một người đàn bà là chiến lợi phẩm, phải làm vợ và sinh con cho một người đàn ông đã xé xác chồng mình. Ngọc Bình là nạn nhân của ván cờ quyền lực. Bằng trực giác nhạy bén của phụ nữ viết văn cùng với tư duy nữ quyền sắc sảo, Trần Thùy Mai để cho lời thoại của những người đàn bà nhỏ bé vang vọng giữa chốn quyền uy sơn son thếp vàng: “Tam phi chỉ là một tù binh đáng thương, hoàng thượng thích đến với bà ấy có lẽ chỉ để tận hưởng cái cảm giác của người chiến thắng... Mồ mả của Tây Sơn chỉ có thể khai quật một lần. Còn Ngọc Bình, hoàng hậu Tây Sơn, chính là một ngôi mộ sống, hết ngày này sang ngày khác liên tục bị khai quật cày xới!...”. Khi Gia Long hả hê thể hiện quyền lực đế vương: “Nếu ta muốn thì nàng cũng có thể bị xéo nát dưới chân voi”, thì Tam phi Ngọc Bình bật lên phản kháng: “...Bị voi giày chỉ đau đớn có một lần. Còn sống để chịu giày xéo mỗi ngày mới thật là đau đớn vạn lần”. Cái chết của Tam phi không giống với chính sử. Hằng số lịch sử khúc xạ qua hư cấu tiểu thuyết và tư duy đối thoại “cho phép” nhà văn để nhân vật lên tiếng dẫu bằng cái chết: “Ta đã từng thấy máu, thấy đầu lâu, thấy phản trắc. Ta đã từng nuốt nước mắt, nuốt nhục, nuốt đắng cay. Bây giờ ta còn biết thêm thế nào là ruồng bỏ, thế nào là chà đạp. Ta còn sợ cái gì trên đời này nữa” (Từ Dụ thái hậu).

Diễn ngôn thân thể - “ẩn ngữ của cám dỗ”

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn sớm luận bàn về thân thể đàn bà. Cái nhìn giễu-cợt-thiện- cảm của nhà văn thiên về giới nữ qua việc phê phán nam quyền và xót xa cho thân thể đàn bà: “Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng! Vị gia trưởng cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn!”; “Bởi giống cái bao giờ cũng dễ phân tâm...Với giống cái thì thân thể mình là quan trọng nhất. Điều ấy thật giản dị và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa...” (Muối của rừng). Diễn ngôn thân thể (body language) là “ý thức sâu sắc về những gì tiềm ẩn trong vẻ đẹp thân thể của con người tạo nên cảm xúc thẩm mĩ”9. Từ cảm xúc thẩm mĩ về thân thể phụ nữ, những vần thơ “điên” của Bùi Giáng trùng phức những trần truồng thân xác - “Bỏ xiêm trút áo đầu cành/Thiên nhiên kết tập nguyên hình cong cong” (Bây giờ), “Tha hồ tắm suốt sơn khê/ Tự do tuyệt đối tê mê ở truồng” (Lời gái núi); “Ngủ yên tơ liễu trong tòa/ Khép hang hố thẳm sau tà hồng xiêm” (Ngủ yên bên lá). Bùi Giáng là nhà thơ viết nhiều và luôn ca ngợi cái đẹp hoang sơ của đàn bà qua những vần thơ nửa trong suốt nửa mờ đục tài hoa. Cũng vậy, nhưng cái cách nữ giới viết về nude tràn trề tự hào nữ tính với những nồng nàn lơi lả trễ nãi tuyệt mỹ: “Tôi ngủ trên cỏ, trần truồng, thích thú... Những giọt nước trời đem cái ẩm ướt quyến rũ mê hoặc sự yếu đuối. Cái ẩm ướt đồng lõa với sự trần tục” (Trong nước giá lạnh - Võ Thị Xuân Hà). Hình ảnh bà ngoại điên “đẹp tuyệt trần đứng cởi quần áo hiện ra trong nắng. Động tác nào của bà cũng tự nhiên duyên dáng” (Cái nhìn vĩnh cửu); “Hàng dâm bụt đầy hoa như lồng đèn ngày cưới nàng... Một bầy con nít cả trai lẫn gái. Chúng cởi quần thi đái. Nàng cũng đái. Hồn nhiên, trắng nõn, sáng rực. Chỉ có cõi hoang sơ mới có vẻ đẹp ấy. Khi nàng ngước lên... Trời ơi nàng chạy... nàng chạy” (Khúc chiều tà - Quế Hương).

Luce Irigaray xem “sự kích động, tiếng cười và đặc biệt là cơ thể phụ nữ như là nơi chốn của một sự trải nghiệm nữ tính chuyên biệt10. Với nữ giới, diễn ngôn thân thể là một cách vượt lên, chế ngự, khước từ “sự thụ động trống rỗng tươi tắn” (chữ dùng của Betty). Bằng “ẩn ngữ của cám dỗ”, các nhà văn nữ đã phản biện cái nhìn phân tách rạch ròi, qua đó, hình ảnh người phụ nữ bị xẻ làm đôi, thuần khiết tốt đẹp trên bệ thờ và con điếm đầy khát khao xác thịt11. Cái nhìn nhị nguyên dẫn đến một chuẩn mực lệch pha. Ngôn ngữ thân xác đã xóa bỏ tư duy phân tách này. Trong văn xuôi nữ, diễn ngôn thân thể chính là hiện sinh xác thịt (Jacques Colette), là niềm tự hào giới với khát vọng tận hiến tận mĩ. Nhưng khi Đoàn Minh Phượng viết Và khi tro bụi, nhà văn để cho mặc cảm thân xác (tội lỗi vô thức) luôn đeo bám An My - “13 tuổi. Tôi có tội vì có một thân thể... Tôi bắt cha tôi yêu tôi. Cha tôi không cưỡng lại được, nên ông hoá điên và tự bắn chết”; “Mẹ tôi nói tôi làm cho cha nuôi tôi ham muốn tôi, hai chữ đó sẽ còn làm cho tôi hoang mang gần hết cuộc đời”. Mặc cảm thân thể và khủng hoảng tuổi tác được phân tích đến tận cùng trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Ngân Vy. Để cho hai thân xác “già cỗi” cận kề nhau, Ngân Vy biểu đạt nỗi thống khoái đầy mặc cảm của người phụ nữ ngoại tình, bởi bà là con chiên của Chúa và ở ngưỡng tuổi xế chiều. Nhà văn đi đến tận cùng cảm giác khi miêu tả chi tiết, tỉ mỉ cuộc xâm chiếm thân xác phụ nữ đầy tính chất nam quyền - “...nó hẳn là một cuộc xâm chiếm vì bà lờ mờ nhận ra cơ thể bà sắp sửa không thuộc về bà nữa” và “chẳng có bất kì một lời ve vãn nào từ cơ thể ông” (Phúc âm cho một người). Ông bác sĩ dịu dàng, nương nhẹ từng lời nói, bỗng “khuôn mặt ánh lên một vẻ độc địa” trong khoảnh khắc thăng hoa thân xác đàn ông. Còn người phụ nữ ngũ tuần, trong niềm khoái cảm xen lẫn mặc cảm là những “ê ẩm”, “ê chề”, là cảm giác về sự già cỗi từ thân thể -“cái bụng nhão nhoét đã đẻ ra hai đứa con”, “cái bụng nhăn nhúm bì bạch”, “những thớ cơ đã sắp tan vào mỡ và thịt”, là “đầu gối thâm đen toàn da và da”... Đan xen với have sex (không phải là make love) là những ám ảnh về bục giải tội trong nhà thờ, mười điều răn Đức Chúa trời, về linh mục... Cũng là mải mê thân xác nhưng trên những run rẩy dục tính là vết hằn thân phận. Bởi chỉ có những khoái cảm tinh thần mới biến thân thể thành ngôn ngữ. Bởi “...tình dục là bản năng, phi lí trí và tự phát... Suy nghĩ trong khi làm tình là vi phạm luật cơ bản của việc giao hợp”12.

3. Kết luận

Trong văn xuôi Việt Nam đương đại, nếu các nhà văn nữ thuộc thế hệ trước quan tâm đến bình đẳng giới, thì thế hệ thuộc hai thập niên đầu thế kỉ XXI khước từ “bí ẩn nữ tính”, lơi là với những bình ổn vật chất, thèm đi, để trải nghiệm, để khám phá những khía cạnh khác của con người mình. Dẫu sự lựa chọn mảng sống có khác nhau, phong cách không giống nhau, nhưng khi người phụ nữ viết văn, ý thức lẫn vô thức tập thể về giới vẫn để lại vết hằn trên những trang văn. Bằng lối viết nữ, những người đàn bà viết đã thổi sinh mệnh nữ vào văn chương, làm đa dạng hóa đời sống văn học Việt Nam đang nhiều thay đổi trong xu thế toàn cầu hóa.

 

 

Tài liệu tham khảo

[1]  Alain de Botton (2015), Luận về yêu, Nhã Nam, Nxb Lao động.

[2]  Sigmund Freud (2015), Cái Tôi và cái Nó, Thân Thị Mận dịch, Nxb Tri thức.

[3]  Betty Friedan (2015), Bí ẩn nữ tính, Người dịch Nguyễn Vân Hà, Đại học Hoa Sen, Nxb Hồng Đức.

[4]  Thụy Khuê (2018), Phê bình văn học thế kỉ XX, Nxb Hội Nhà văn.

[5]  Vladimir Soloviev (2005), Siêu lý tình yêu, Nxb Văn hóa thông tin.

[6]  Đỗ Lai Thúy (2009), Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[7]  Virginia Woolf (2016), Căn phòng riêng, Trịnh Y Thư dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

 

 

 

Chú thích

 

1 TS. Email: lethihuongsph@gmail.com

2 Nguyễn Huy Thiệp, Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội Nhà văn, 2005, tr.16.

3 Xem Betty Friedan, Bí ẩn nữ tính, người dịch Nguyễn Vân Hà, Đại học Hoa Sen, Nxb Hồng Đức, 2015. 

4 Xem Bí ẩn nữ tính, Sđd

5Tên một tác phẩm của Virginia Woolf - The Angel in the House. Theo Woolf, giết chết thiên thần chốn khuê phòng là một phần công việc của nữ nhà văn, “còn lại trong phòng ngủ một người phụ nữ và một lọ mực” để trở thành chính mình.

6 Theo Nguyễn Hưng Quốc, Các lí thuyết phê bình văn học (8) Nữ quyền luận - “Tất cả những cái gọi là chủ thể tính, bản ngã và bản sắc, bao gồm cả bản sắc của nữ giới - thường được gọi là nữ tính - không phải là những gì tất định và bất biến. Nhiệm vụ của các cây bút nữ không phải chỉ là chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác định một thứ mỹ học riêng của nữ giới, từ đó, thiết lập nên những điển phạm riêng, và cuối cùng, xây dựng những tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học”.

Nguồn: http://www.tienve.org/home/

 

7 Virgina Woolf có lúc phủ nhận lối viết nữ khi cho rằng "bất cứ ai cầm bút mà còn nghĩ đến giới tính của mình thì kẻ đó sẽ vấp phải sai lầm vô cùng tai hại", bởi vì "bất cứ thứ gì viết ra với sự thiên lệch có chủ ý đều sẽ chết ngúm"; phải có sự hợp tác nào đó trong trí tưởng tượng của đàn ông và đàn bà trước khi sự sáng tạo nghệ thuật có thể hoàn thành" (Căn phòng riêng, tr.166-167).

8 Virginia Woolf (2016), Căn phòng riêng, Trịnh Y Thư dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

9 Đỗ Lai Thúy, Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2009. tr. 88.
10 Chuyển dẫn từ Đỗ Lai Thúy, Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2009, tr. 439. 11 Xem Betty Friedan, Bí ẩn nữ tính, Đại học Hoa Sen, Nxb Hồng Đức, 2015.

12 Alain de Botton, Luận về yêu, Nhã Nam, Nxb Lao động, 2015, tr 45.

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Văn học và giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 10/2019.

 

page101image29741568

 


Bài khác