Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
MỸ CẢM NỮ TÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỜI DU NỮ VÀ NĂM NGƯỜI ĐÀN BÀ SI TÌNH CỦA IHARA SAIKAKU


Đỗ Lê Thanh Thủy1

Tóm tắt: Dấn thân vào địa hạt văn xuôi sau nhiều năm chinh chiến trên thi đàn Haiku, Ihara Saikaku đã thổi vào những thiên truyện phù thế tâm thức và phức cảm nữ tính qua lăng kính của một người đàn ông cũng là một nhà văn thấu trải và hiểu đời. Trong Đời du nữ và Năm người đàn bà si tình, Ihara khai mở nhãn quan cho người đọc bằng quan niệm thẩm mỹ mới mẻ, táo bạo về vẻ đẹp của người phụ nữ đồng thời bộc bạch khát khao nhục cảm và con đường sắc đạo của các nữ nhân thời đại sắc dục và tiền tài. Thông qua các tác phẩm giàu chất hiện thực về xã hội đương thời, nhà văn đã cất lên tiếng nói nhân văn sâu sắc cho kiếp “hồng nhan bạc phận” ngắn ngủi, nổi trôi giữa chốn phù hoa, từ đó bày tỏ niềm bi cảm mãnh liệt trước cái đẹp mong manh trong cõi nhân thế hư vô.

Từ khóa: Ihara Saikaku, Đời du nữ, Năm người đàn bà si tình, mỹ cảm, nữ tính

1. Mở đầu

Khởi phát dòng văn chương nữ lưu Heian với các tác phẩm thấm đẫm bầu “không khí quý tộc nhàn nhã, đậm sắc nữ tính, yêu chuộng và đi tìm cái cao nhã” [2, tr. 83], tính nữ ngày càng được khẳng định như một đặc trưng chủ đạo của nền văn học Nhật Bản. Mặc dù cốt cách thanh cao, quý phái và nữ tính ấy sau bốn thế kỷ vì những đổi thay của thời đại phải chấp nhận nhường bước trước tinh thần võ sĩ đạo hiên ngang, lẫm liệt thời trung thế khiến ta tưởng rằng dòng văn học của phái nữ chỉ mãi là quá khứ vàng son và hậu thế phải mòn mỏi đợi chờ sự tái sinh của nó mãi tận thế kỉ XX với sự xuất hiện của cái tên Kawabata, vậy mà trước khi chờ đợi sự hồi sinh diệu kỳ từ nhà văn thiên tài ấy, ta đã có cơ hội thưởng thức những tác phẩm phảng phất mỹ cảm nữ tính nhưng không phải trong những thiên tình sử lãng mạn, ướt át thuở nào mà trong chính những tác phẩm được chưng cất trong lòng hiện thực đời sống thô phác và bộn bề của Ihara Saikaku. Những cảm thức về tính nữ trong sáng tác của Saikaku không nâng lên thành một nguyên lý thẩm mỹ cụ thể hay một phong cách nghệ thuật đặc trưng như cây bút hiện đại mà nó xuất phát từ những suy tư về thân phận và vai trò của người phụ nữ trong xã hội thị dân. Vì thế, so với Murasaki hay Kawabata, có thể Ihara Saikaku không phải là cái tên bảo chứng cho dòng văn học nữ tính của Nhật Bản, nhưng tâm thức và phức cảm về nữ giới của ông đã góp phần đem lại một quan niệm mỹ học mới mang đậm tinh thần thời đại phù thế.

2. Vẻ đẹp người phụ nữ qua hai tác phẩm Đời du nữ và Năm người đàn bà si tình của Ihara Saikaku

“Không bàn về phụ nữ, không ai có thể nói được lý thuyết về văn hóa hay thẩm mỹ Nhật Bản” (Yasuda Takeshi). Vốn là nền văn hóa mang đậm tinh thần nữ tính, quả là thiếu sót khi tìm hiểu về tác phẩm nghệ thuật của Nhật Bản mà bỏ qua hình tượng người phụ nữ. Không riêng gì dòng văn chương nữ lưu Heian vang danh một thời trong lịch sử dân tộc, đến thời Edo – thời đại của sắc dục và tiền tài, hình tượng ấy một lần nữa được trở lại và chiếm giữ một vị thế nhất định trong thế giới thi ca nhạc họa. Kufu Nagai – tiểu thuyết gia theo chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản thế kỷ XX khẳng định: “Những hình ảnh trưng bày về vẻ đẹp Nhật Bản nổi tiếng trên toàn thế giới đều xuất phát từ thị tứ Yoshiwara và hình ảnh của các cô gái làng chơi” [14, tr.11]. Thật vậy, cảm thức thẩm mỹ và đặc trưng văn hóa Edo được đại diện bởi người phụ nữ, hay nói đúng hơn, người phụ nữ chính là chiếc chìa khóa quan trọng để mở từng lớp cấu trúc thẩm mỹ đương thời.

Ra đời trong thời đại thị dân Nhật Bản trong những năm cuối thế kỉ XVII, các tác phẩm Đời du nữ và Năm người đàn bà si tình của Ihara Saikaku được xem như những bức tranh thu nhỏ về đời sống sắc dục và những sinh hoạt tinh thần mới mẻ của con người phố thị. Lấy cảm hứng từ những người phụ nữ thuộc các thành phần khác nhau trong xã hội, Ihara đã thực hiện cuộc du lãm khám phá vẻ đẹp của biết bao cô gái trong thế giới sắc tình, từ đó tác giả ngầm xác lập và khẳng định quan niệm táo bạo về cái đẹp đương thời.

Với những người phụ nữ của Saikaku, nhan sắc là yếu tố đầu tiên làm nên giá trị bản thân đồng thời là một thứ “vũ khí lợi hại” trong “cuộc săn đuổi nhục thể” với những người đàn ông trong cõi ái tình và xác thịt. Đã qua rồi cái thời “công dung ngôn hạnh” được tôn thờ như những chữ vàng khắc cốt ghi tâm, giờ đây, thứ mà người ta ưu ái hơn cả chính là vẻ đẹp gợi cảm, gợi tình tỏa ra từ xác thân của người phụ nữ. Việc “con gái mới mười một mười hai tuổi đã cho ăn mặc, trang điểm cầu kỳ” [4, tr.130] đã trở thành câu chuyện thường tình và hiển nhiên trong thời đại của Saikaku. Ihara cũng không ngần ngại chỉ ra những tiêu chuẩn về nhan sắc để được chọn làm phu nhân của lãnh chúa: “Khuôn mặt tròn, da phớt hồng màu hoa anh đào, mắt, mũi, miệng, tai hội đủ đặc điểm của vẻ đẹp hoàn hảo thời nay. Đôi mắt to tròn, lông mày rậm, khoảng cách giữa hai hàng lông mày rộng, sống mũi cao và thẳng, miệng nhỏ với hàm răng đều và sáng trắng lấp lánh, tai dài và mỏng. Trán để đẹp tự nhiên, cổ cao, tóc búi gọn, không một cọng tóc rơi rớt. Những ngón tay dài, thon và mềm mại, móng tay mỏng. Đôi chân nhỏ nhắn, ngón chân cái hơi chìa ra, bàn chân không bị to bè. Thân hình thanh thoát, cao hơn người thường, eo thon, mông nở. Vẻ bề ngoài duyên dáng, sang trọng”[4, tr. 43]. Đó là vẻ đẹp vừa mong manh, dịu dàng, nữ tính vừa toát lên khí chất thanh cao, tao nhã nhưng cũng không kém phần diễm lệ, xuân tình.

Có thể nói, dưới đôi mắt cảm nhận tinh tế của Ihara, những nàng du nữ như “những nụ anh đào mới vừa hé nở, chỉ cần một cơn mưa xuân đến sẽ phô diễn vẻ đẹp xuân thì khiến bất kỳ ai cũng có thể ngắm hoài không chán” [4, tr. 40]. Mặc dù miêu tả dung mạo của các cô gái làng chơi nhưng Ihara không vì thế mà phơi bày những vẻ đẹp thân xác khơi gợi cảm giác nhục thể phóng đãng mà nhà văn phát hiện nét trong sáng, thanh thoát nhưng không vì thế mà kém phần hấp dẫn và quyến rũ của họ. Không chỉ những cô gái “buôn hương bán phấn”, những thiếu nữ bình thường trong sáng tác của Saikaku cũng sở hữu “nhân dáng của một người tình tuyệt vời” [5, tr. 51] hay diện mạo “đẹp như hoa, dịu dàng như ánh trăng”[5, tr.26], “khuôn mặt như nụ hoa đào sắp nở, làn môi mượt mà như lá cây phong mùa thu”[5, tr.65] khiến những người người phụ nữ khác không khỏi hờn ghen hay biết bao chàng trai phải thèm khát. Ta không thể phủ nhận sự so sánh giữa vẻ đẹp của người phụ nữ với hình ảnh thiên nhiên tuyệt diệu của tác giả, nhưng điều ta nhận ra chính là cái đẹp của thời cận thế không nằm trong vẻ băng thanh tuyết ngọc, sơn thủy hữu tình của gió, mây, hoa, trăng mà nằm ngay trong chính mỗi con người như Nhật Chiêu đã từng nhận xét: “Ông thấy rõ thời đại của “hoa” đang nhường lại ngôi vị ưu tiên cho thời đại của “người” với tất cả cái đẹp và cái xấu của nó”[1, tr. 14]. Ở đây, chính sự đầy đặn, nõn nà, gợi tình của người thiếu nữ đã góp phần làm nên cái đẹp trong hình tướng vừa phong lưu, thế tục vừa hoa lệ, mĩ miều. Điều này cũng khiến ta liên tưởng đến những câu văn trong sáng tác Người đàn ông đa tình của chính Ihara được tác giả Nhật Chiêu trích dẫn trong lời tựa cho tác phẩm Đời du nữ: “Người ta đến rừng mơ ở Kitano hay viếng hoa tử đằng ở Otani nhưng không phải để ngắm hoa mà để vò xé nó. Người ta nhìn làn khói hùng vĩ tuôn trào từ đỉnh Toribe để chỉ thấy nó không khác nào khói ống điếu”[1, tr.14] .

Sở hữu dung mạo tuyệt vời, những người phụ nữ trong tác phẩm của Saikaku còn ý thức được việc gìn giữ và nâng cao giá trị bản thân bằng cách chưng diện những bộ trang phục lộng lẫy, cầu kỳ, hoa mỹ. Những “chiếc kimono đầy màu sắc”[4, tr.33] hay mái tóc theo các phong cách khác nhau luôn đem lại cho giới du nữ hình thức nổi bật, bắt mắt. Mặc dù kimono là kiểu trang phục khá kín đáo nhưng nàng du nữ vẫn có thể kheo khéo được vóc dáng bản thân bằng cách “không thắt chặt chiếc obi bản lớn mà nới lỏng nó thật gợi cảm trên ba lớp áp mặc chồng lên nhau” để “tạo vẻ đẫy đà cho phần mông” [4, tr.51]. Sự cầu kỳ và phức tạp trong cách trang phục của các cô du nữ khiến tác giả phải thốt lên rằng: “Quả là “nghề chơi” cũng lắm công phu”[4, tr. 68].

Có thể nói, thói chưng diện dường như đã trở thành xu hướng tất yếu của con người thời thị dân. Không riêng gì những nàng ca kĩ, ngay cả những người bình thường cũng học đòi theo phong cách thời trang tân kì và thời thượng nhất: “Ngày xưa chiếc đai lưng của phụ nữ chỉ dài khoảng chưa tới một thước. Những năm gần đây các phụ nữ trẻ thường yêu thích kiểu đai lưng dài như thế vì nhìn có vẻ tăng sự yểu điệu, thướt tha hơn. Hoa văn của những chiếc kimono tay ngắn kosode cũng đổi theo trào lưu hiện nay với những cánh hoa anh đào được thuê tỉ mỉ. Người ngoài nhìn vào sẽ tưởng như nhuộm nhưng thực chất là mẫu thuê từ hàng trăm sợi chỉ màu” [4, tr.131]. Chưa bàn đến giá trị vật chất của những tấm áo kia nhưng chỉ cần qua cách miêu tả của Ihara, ta cũng thấy được mức độ đầu tư về hình thức của thường dân phố thị. Trong cơn lốc phù thế của thời đại, với sự lên ngôi của chủ nghĩa hưởng lạc được thể hiện trong quan niệm, lối sống tự do, phóng khoáng, phù phiếm, những người phụ nữ không ngần ngại phô trương những gì đẹp đẽ nhất, nổi bật nhất của mình để không phải thua kém bất kì ai. Tuy nhiên, bỏ qua những phương diện tiêu cực của lối sống thị thành, không thể phủ nhận rằng, chưa bao giờ vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ lại được hiện lên một cách sinh động và cụ thể như thế này trong các tác phẩm văn học trước đây.

Thâm nhập vào thế giới đàn bà trong hai tác phẩm, ta nhận ra những người phụ nữ xinh đẹp luôn ý thức việc tạo dựng cốt cách và phong thái chuyên nghiệp nhất. Ngay từ những điều nhỏ nhặt như cách đi đứng, họ cũng phải tuân thủ những quy tắc rất khắt khe: “Khi đi trên đường, chân không mang vớ và bước đi chậm rãi theo hình chữ bát. Nhưng khi về đến gần quán, gót chân trở nên nhanh nhẹn. Trong phòng khách, đi thật nhẹ nhàng để không gây tiếng động. Lên cầu thang thì bước chân nhanh nhẹn. Mang dép gọn gàng mà không cần nhìn xuống chân. Và không hề tránh người đi ngược lại”[4, tr.51]. Tuy nhiên, điều thực sự làm nên sức hấp dẫn hay cốt cách của người phụ nữ không chỉ có nhan sắc mê đắm lòng người; dáng đi kiêu sa hay những bộ trang phục xa hoa, quý phái mà chính là sự khéo léo, duyên dáng và điêu luyện trong giao tiếp; sự am tường, “vạn sự tinh thông” trong văn chương, nghệ thuật. Vượt qua khỏi danh xưng “gái làng chơi” đầy khinh bỉ, những nàng du nữ trong sáng tác của Ihara nói riêng và xã hội Nhật Bản thời cận thế nói chung đã phá tan định kiến về sự tầm thường, hèn mọn của những cô gái “bán thân”. Vì thế mà không phải ngẫu nhiên trong giới du nữ, người ta có sự phân biệt rõ ràng giữa các cô gái ở các cấp bậc từ cao đến thấp như một cách phân loại đẳng cấp để qua đó khẳng định rằng giá trị và vị trí của họ đến mức nào.

Phải nói rằng, để trở thành du nữ cao cấp trong chốn Bình khang, các cô gái không chỉ là người có sắc đẹp trời phú mà hơn hết, họ còn phải là người vô cùng khéo léo và tinh anh trong giao tiếp với đàn ông: “Khi mười bốn mười lăm tuổi, các cô biết cách để khách không dễ dàng ra về. Nhưng điều này không có nghĩa họ có thể chủ động ép buộc, lôi kéo khách. Thay vào đó, các cô sẽ tỏ ra ngoan ngoãn, cố gắng phục vụ theo ý khách. Đến thời điểm quan trọng, khi người khách tỏ vẻ thân mật hơn, nhân đó các cô khéo léo thầm thì, mời gọi khách”[4, tr.35]. Để quyến rũ những người đàn ông không quen biết trên đường, các cô du nữ không chỉ dùng “dùng ánh mắt đưa tình” mà còn biết “khen kiểu hoa văn trên áo, hay kiểu tóc, thậm chí cả chiếc quạt thời thượng của các chàng, lòng tự nhủ nhất định tìm cho ra chỗ khen để lấy lòng họ” [4, tr.52]. Không chỉ trong lời nói, ngay cả cử chỉ, hành động cũng phải thật tinh tế: “Khi tiếp khách tại một tiệc rượu, các du nữ cũng chỉ nên tỏ vẻ đáng yêu bằng cử chỉ, điệu bộ, tập trung tiếp khách, chứ không nên trò chuyện, đối đáp quá thông minh” để người khách không cảm thấy “bối rối, trở nên sợ hãi phụ nữ”[4, tr.53].

Đáng yêu mà quyến rũ trong từng lời ăn tiếng nói, dịu dàng mà táo bạo trong từng cử chỉ, hành động, thay vì ngoan ngoãn phục vụ những gã đàn ông như một kẻ nô tì, các nàng dường như đã làm chủ được cuộc chơi, dễ dàng xoay chuyển được mọi tình thế để có thể đem lại những phút giây thư giãn và tận hưởng tuyệt vời nhất cho vị khách của mình. Phải chăng vì thế mà không ít nàng du nữ Tayu trở thành “bà hoàng” trong lòng giới thương nhân và được hưởng tất cả những đặc ân tối thượng nhất dành cho một người phụ nữ quyền lực và cao quý.

Đặc biệt, nhà văn Ihara còn nhấn mạnh đến khả năng am hiểu và thành thục các loại hình nghệ thuật của các nàng: “Cốt cách phong lưu, trang nhã tạo nên sự quyến rũ như thế cho các cô gái còn thể hiện ở sự yêu thích “cầm, kỳ, hương, ca”” [4, tr.41]. Khác với những hình dung xưa nay của người đời về gái làng chơi, những nàng du nữ trong xã hội Nhật Bản thực sự là những con người vô cùng tài năng. Thế giới thanh lâu, kĩ viện đâu chỉ là nơi thể hiện khao khát gối chăn của con người mà đó còn là nơi trút bỏ muộn phiền để đắm mình trong từng điệu múa, lời ca, trao đổi với nhau đôi ba câu chuyện văn chương thế thái nhân tình. Vì thế, những nàng du nữ, hơn một đối tác trong các cuộc làm tình, họ có thể trở thành người bạn để các vị khách chia sẻ niềm vui nỗi buồn trong một phút giây nào đó trong cuộc đời hay giải tỏa những căng thẳng trong những không gian lãng mạn phảng phất hơi rượu và men say chếnh choáng.

Qua sự miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ đương thời của Ihara Saikaku, ta nhận ra sự thay đổi mạnh mẽ trong cảm thức về cái đẹp của con người trong những thời đại khác nhau. Nếu như “văn học thời Heian phản ánh những thú vui ở cung đình của giai cấp quý tộc trong xã hội duy mỹ và hưởng lạc, những mối tình say đắm, thú tiêu khiển tao nhã như cầm kỳ thi họa” [2, tr. 82] thì đến thời Edo, văn học “mất đi vẻ đẹp quý tộc” [2, tr. 87] để nhường chỗ cho chất hiện thực tràn đầy và phóng túng. Vì thế, những người phụ nữ của thời đại phù thế không phải là những nữ lưu quý phái, ưu nhã mà họ là những con người đời thường vừa trần tục vừa hào hoa khiến cho những trang văn của Ihara đều toát lên vẻ gợi tình và niềm vui thú của tác giả khi được miêu tả những vẻ đẹp trần thế hiện hữu trong nhân hình phái nữ.

3. Khát khao nhục cảm và con đường sắc đạo của người phụ nữ

Sinh ra trong xã hội kim tiền và sắc dục, những người đàn bà trong sáng tác của Saikaku luôn mang trong mình thói hiếu sắc vốn là bản chất chung của con người thị dân Edo. Những người đàn ông đam mê dục tình đã đành nhưng ở đây, ngay cả những người phụ nữ, khát khao nhục cảm trong họ cũng không hề thua kém. Khắc họa cuộc đời của nàng du nữ phóng đãng, những cô thiếu nữ mơ mộng hay phu nhân đa tình, Ihara đã kể cho ta những câu chuyện thân xác và ái tình – nơi con người chưa bao giờ ngừng yêu, ngừng mơ tưởng và ngừng dấn thân, dâng hiến cho cõi dục vọng như một lẽ sống tất yếu. Nhìn lại lịch sử tình trường mấy mươi năm của nàng “háo sắc nhất đại nữ”, Nhật Chiêu đã thẳng thắn thừa nhận: “Có một số yếu tố khách quan từ hoàn cảnh gia đình và xã hội những vẫn không mạnh bằng bản chất “Koshoku” (hiếu sắc) ở nàng. Nàng không hề là một nhân vật lãng mạn. Nàng đến với đàn ông bằng thân xác chứ không bằng tình yêu và giấc mơ”[1, tr.17].

Phải nói rằng, sắc dục không phải là nghĩa vụ mà trở thành niềm đam mê và kiêu hãnh của nàng. Không ít lần Saikaku để cho nhân vật được bày tỏ sự thèm khát hoan lạc đến tột độ: “Tôi muốn có một người đàn ông! Tôi muốn một người đàn ông”[4, tr. 104-105] hay cảm giác thất vọng, chán chường khi ái ân không thỏa mãn: “Đối với người phụ nữ, không gì đáng buồn hơn sự bất lực bẩm sinh của người đàn ông” [4, tr.48]. Dẫu không ít lần nàng tự mình an ủi rằng “tôi chỉ biết mong chờ một tình yêu đích thực sẽ đến một ngày nào đó”[4, tr.47] nhưng điều nàng thực sự muốn chỉ là cảm giác lạc thú, đắm chìm trong khoảnh khắc thăng hoa của dục tình hơn là một tình yêu xuất phát từ sự rung động của con tim. Nói cách khác, những người đàn ông lần lượt đi qua cuộc đời nàng dù vô tình hay hữu ý chẳng qua cũng chỉ là những kẻ thế chân tạm bợ để khỏa lấp đi dục vọng chưa bao giờ vơi cạn trong nàng. Có thể nói, cuộc đời của nàng du nữ là cuộc đời thừa hoan lạc, ái ân nhưng lại thiếu đi thứ chân ái đích thực và tình yêu chân thành– điều mà năm người đàn bà đa tình lại có nhiều hơn ai hết. Nhìn lại hành trình từ một cô bé mười ba chập chững bước vào làng du nữ đến khi trở thành một bà lão ẩn cư ở Am háo sắc, ta không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng cuộc đời nàng nghiêng hẳn về phía chữ “dục” hơn là chữ “tình”, do đó thứ nàng có được chỉ là cảm giác nhục thể hơn là cảm xúc yêu đương nồng cháy của lứa đôi. Nếu ai đã từng đọc các sáng tác trước đây của Ihara thì dễ dàng nhận ra rằng nàng chính là phiên bản nữ của chàng trai Yonosuke – nhân vật được ví như một “Genji – thị dân hóa” [6, tr. 44] hay “Don Juan Nhật Bản” [6, tr.47] trong thiên tiểu thuyết làm nên tên tuổi của Saikaku - Người đàn ông đa tình. Không riêng gì nàng du nữ, những người đàn bà si tình trong sáng tác của Saikaku cũng trở thành chủ thể trong các cuộc chơi ái tình, có quyền tự do, chủ động lựa chọn và định đoạt con đường sắc dục. Với một cô gái làng chơi, những chuyện ái ân và hoan lạc là điều không thể tránh khỏi và ngầm được chấp nhận như một “cái nghề” chuyên nghiệp trong xã hội nhưng đối với những nàng tiểu thư vốn đoan trang, tiết hạnh và nền nã thì đam mê nhục thể dường như trở thành một điều quá xa lạ với họ. Ấy vậy mà, trong sáng tác của Saikaku, họ lại chính là những con người thèm yêu khát sống hơn bất kì ai. Trong Năm người đàn bà si tình, Ihara tập trung khắc họa những cung bậc nhớ thương, nguyện cầu, hạnh phúc và cả đau đớn, đắng cay nhưng không vì thế mà nhà văn quên đi những khoảnh khắc dục tình đầy đam mê giúp thăng hoa cảm xúc trong tình yêu. Mặc cho những sự săn đón của các vương tôn, công tử, nàng Oman vẫn bất chấp mọi khó khăn, băng rừng lội suối chỉ để gặp được chàng Gengobei ở thảo am Núi Tình xa xôi, hẻo lánh. Ở đây, nàng hoàn toàn chủ động tìm kiếm, chủ động gặp gỡ và chủ động trao thân gửi phận cho người yêu. Bằng sự khao khát yêu đương và dấn thân trọn vẹn, Oman đã đưa Gengobei vào lưới tình nồng cháy và tìm được cảm giác giao hoan diệu kỳ như trước đây chàng đã làm với những người đàn ông: “Chàng cẩn thận nhìn và nhận thấy khuôn mặt dịu dàng của người yêu mình là khuôn mặt phụ nữ. Khám phá này làm cho chàng tê cứng người... Thế ra, yêu một người đàn ông hay một người đàn bà có khác gì đâu” [5, tr.123].

Quả thật, với tất cả sự liều lĩnh, táo bạo và điên cuồng, không ít người đàn bà trong thế giới nghệ thuật của Saikaku chỉ vì ái tình và dục vọng mà phá vỡ khuôn phép khắt khe của lễ giáo phong kiến và Nho gia; thách thức cả thánh thần và giáo lý nhà Phật để chiếm lĩnh và tôn thờ tình yêu như chính sinh mạng bản thân. Đặt bối cảnh thể kỷ XVII ở Nhật Bản, việc người phụ nữ ngoại tình và bỏ chồng vẫn còn là những điều nằm ngoài sức tưởng tượng. Ấy vậy mà nàng Osan của Ihara vẫn hiên ngang chạy theo tiếng gọi của tình yêu, dẫu đó là tình yêu lầm lỗi, thậm chí nàng còn dám cãi lời khuyên bảo của đức Mạn Thù: “Xin Ngài đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra cho chúng con. Chúng con sung sướng trả giá bằng mạng sống cho mối tình của mình. Đức Mạn Thù có thể hiểu được tình yêu giữa người với người, nhưng Ngài chẳng biết gì về tình yêu của phụ nữ” [5, tr.81]. Không riêng gì nàng Osan, ngay cả nàng Oman cũng là ví dụ điển hình cho kiểu phụ nữ quyết liệt trong tình yêu khi dám theo đuổi và quyến rũ một chàng trai đã quy y cửa Phật. Có lẽ câu nói của chàng Gengobei: “Khó mà vượt qua nổi tình yêu, ngay cả đối với kẻ xuất gia đi nữa” [5, tr.121] đã đủ chứng minh được khát khao ái ân và sức hấp dẫn của Oman mãnh liệt đến nỗi khiến chàng phải từ bỏ con đường đắc đạo để trở về cõi phàm trần.

Hơn bất cứ điều gì, sắc dục đã trở thành một phần số kiếp và sinh mệnh của những người đàn bà trong tác phẩm của Saikaku. Ta không phủ nhận rằng sắc dục là bản năng nhưng hơn bất kỳ một thứ bản năng thông thường nào, sắc dục còn là “ý niệm về sự sinh tồn”, “là mệnh lệnh tối thượng của vũ trụ” [6, tr.135], vì thế nó ẩn tiềm sức mạnh định đoạt số phận con người. Dẫu biết rằng ái tình đem lại niềm vui thì ít, đắng cay thì nhiều, dẫu biết rằng sau những cuộc tình ấy là cái kết đắng mà đôi lúc con người phải quyên sinh nhưng họ không thể nào vượt thoát ra được, thậm chí họ còn cảm thấy thỏa mãn với sự lựa chọn của mình. Không có ái tình, sắc dục, họ không thể tồn tại. Ngay trong chính tình yêu tưởng chừng lầm lỗi, mù quáng và khờ khạo đó, những người đàn bà lại tìm được ý nghĩa của cuộc đời, niềm vui sống nên bất chấp tất cả những nghiệt ngã của người đời, họ vẫn dâng hiến hết mình không chút ân hận và nuối tiếc.

Những người phụ nữ, không tiếng nói, không địa vị, không danh phận, vốn liếng duy nhất của họ chính là nhan sắc và nghệ thuật quyến rũ đàn ông nên không ít cô gái biến sắc dục trở thành con đường kiếm kế sinh nhai, thậm chí xem đó là ngõ hầu để bước vào thế giới thượng lưu. Không phải đến thời đại này, sắc dục mới trở thành món nghề mới của người phụ nữ, làm nên con đường sắc đạo trong bức tranh đời sống thị dân mà nó đã tồn tại từ ngàn xưa. Tuy nhiên, với sự bành trướng ngày càng mạnh mẽ tiềm lực kinh tế và địa vị xã hội của tầng lớp thương nhân, kéo theo đó là sự bùng nổ của dòng văn hóa đại chúng, nhu cầu của con người cá nhân đến lúc này được giải phóng tối đa từ đời thực đến văn chương. Nhờ đó, những góc khuất của đời sống tầng lớp bình dân có cơ hội được phơi bày một cách tường tận và những người vốn thấp cổ bé họng giờ đây được nói lên tiếng nói của chính mình. Có thể thấy, những con người như nàng du nữ hay năm người đàn bà si tình ấy không phải là những cá nhân riêng lẻ hay trường hợp cá biệt trong xã hội mà chính là con người điển hình cho thời đại phù sinh đang hiện diện trước mắt. Lấy sự ái dục và hưởng lạc làm thước đo giá trị căn bản của đời sống, họ đã nâng thói hiếu sắc và những trò lạc thú lên thành “đạo”, xây dựng cho nó một thế giới riêng với những quy tắc khắt khe dành cho bất cứ ai tham gia vào trò chơi tình ái này. Vì thế, không có gì quá bất ngờ khi những khu phố du nữ lừng danh một thời như Yoshiwara hay Shimabara trở thành nơi mà cánh đàn ông lúc bấy giờ thèm khát được đặt chân đến một lần trong đời bởi sự hấp dẫn, đê mê mà thiên đường chốn trần gian mang lại.

Không ai phủ nhận rằng cái đẹp dù đã “đượm nhục dục phóng đãng” và con người “vướng lụy đậm sâu hơn nữa trong ái tình dục vọng” [2, tr.142] nhưng xét cho cùng, nó vẫn xuất phát cội nguồn mỹ học truyền thống, chỉ là nó chỉ xuất hiện trong hình thái khác lạ khiến ta bàng hoàng và choáng ngợp. Bởi lẽ,“suốt chiều dài văn hóa Nhật, cái cũ chưa hẳn là cũ, cái mới chưa chắc là mới, tìm một hồi có khi thấy dấu vết cái mới đã ẩn trong cái cũ từ lâu. Chẳng qua là cái cũ cái mới cứ nhập nhằng vì những đổi thay chóng mặt của miền đất Nhật Bản cả trong lịch sử” [10]. Có thể thấy, cái đẹp trong văn chương Saikaku luôn thấm đẫm tinh thần nhục cảm xuất phát từ chính khát khao nhục thể và chủ nghĩa khoái lạc phù phiếm, phóng túng len lỏi trong cách sống, cách nghĩ của con người thị dân. Khác với “người tình vĩ đại quyến rũ, tài hoa và khả ái” – Genji [3, tr.197] được ví như một “hiện thân của cái đẹp” [2, tr.133] khó có thể tìm thấy được ở chốn trần thế hay những cô gái trong thế giới nghệ thuật của Kawabata vượt lên trên cõi xác phàm để đi tìm cái đẹp huyền diệu, siêu thực và hư ảo, nàng du nữ và những người đàn bà si tình của Saikaku chỉ là những con người rất đỗi bình thường với khát khao yêu đương nồng cháy và đam mê sắc dục điên cuồng.

Tác giả Hiền Trang trong bài viết Bi cảm và nhục cảm trong văn học Nhật đã cho rằng: “Đâu phải ngẫu nhiên Saikaku Ihara gọi thứ văn học của mình là ukiyozoshi – phù thế thảo tử, quy hồi chủ nghĩa khoái lạc phù phiếm của thời đại về cội nguồn mỹ học của sự vô thường” [10]. Quả thật, dù viết về những câu chuyện xuân tình phóng dật với những con người quay cuồng trong vật dục để truy cầu niềm khoái cảm bản năng nhưng ẩn sau những cuộc phong lưu, lạc thú, đảo điên đó, nhà văn vẫn mang cảm thức về sự phù du, chớp nhoáng và phiêu bạc của cuộc đời. Với tác giả, cuộc đời cũng như sắc dục, luôn tiềm ẩn những điều phù du, chông chênh, vô thường, “chẳng có gì là đáng giá, chỉ có sự giác ngộ, chỉ có cuộc đời sau là thực mà thôi” [5, tr.27]. Chính vì điều đó, con người đến với cuộc đời như bước vào một giấc mơ vô tận, tận hưởng những lạc thú như một đặc ân, để rồi khi tỉnh giấc, con người thể ngộ được chân lý thường tại mà trong cơn mơ ấy không thể nào nhận ra. Sinh ra trong thời đại phù thế, họ chấp nhận tất cả những sự mong manh, vô định của số kiếp như một định luật bất biến, để rồi họ sống vội, sống gấp, sống hết mình để dấn thân, để tận hưởng đắm say của cuộc đời.

4. Cái nhìn nhân văn của Ihara Saikaku trong cảm thức thẩm mỹ về người phụ nữ

Thời Heian, với sự lên ngôi của chế độ mẫu hệ, người phụ nữ, đặc biệt là những tiểu thư xuất thân quý tộc cao sang được tiếp thu nền Hán học Trung Hoa trở thành con người vô cùng tinh thông, uyên bác và có địa vị đáng kể trong gia đình và xã hội, từ đó tạo nên “dòng văn chương nữ lưu đa cảm và diễm tình” [3, tr.169]. Có thể thấy, “sự nở rộ của các thiên tài nữ giới khiến không ít người phải cho rằng văn hóa Heian là văn hóa của cái Đẹp, văn hóa của nữ phái” [2, tr.82].

Sau hàng thế kỷ biến thiên của lịch sử, đến thời Edo, cái thời vàng son, huy hoàng của nữ giới dường như đã lùi vào quá khứ, thay vào đó, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trong các tác phẩm văn học mang bóng dáng của con người tầng lớp thị dân trong một hiện thực ô hợp, phàm trần. Thế giới thanh cao, diễm lệ chốn lầu son gác tía của các tiểu thư lá ngọc càng vàng đã bị thay thế bằng chốn sắc dục tham ái ở các nhà hát, lữ quán và thanh lâu. Giờ đây, dưới ánh mắt dò xét của luân lý đạo đức Nho gia vốn tồn tại trong lòng xã hội, người phụ nữ, đặc biệt là cô gái làng chơi, luôn bị gắn mác là thứ “công dân hạng hai”, thậm chí họ chỉ có giá trị như một công cụ mua vui cho đàn ông. Nói cách khác, vai trò xã hội của người phụ nữ chưa bao giờ được xác định rõ ràng nhưng có một điều ai cũng nhận ra đó chính là thái độ phân biệt đối xử hay định kiến giới của con người thời Edo. Những người phụ nữ xinh đẹp thì trở thành đối tượng thỏa mãn tình dục cho đàn ông hay đau đớn hơn, trở thành món hàng hóa trao đổi hay nạn nhân của các cuộc buôn bán do người thân sắp đặt. Điều đó được thể hiện rõ nét trong câu nói của cổ nhân được Ihara trích dẫn trong những trang đầu tác phẩm Đời du nữ: “Người đàn bà đẹp như lưỡi rìu đốn ngã cuộc đời những người đàn ông” [4, tr.24]. Phải chăng trong con mắt của người đời, những người phụ nữ với nhan sắc quyến rũ, đắm say cũng là một kẻ tội đồ khiến cho người đàn ông sa ngã và hủ bại?

Tuy nhiên, dưới góc nhìn của người đàn ông và tấm lòng của một nhà văn chân chính, Ihara Saikaku đã dành cho các nhân vật nữ của mình cái nhìn nhân văn, lịch sự, tiến bộ để thấu hiểu, cảm thông và dành cho người phụ nữ những đặc ân cao cả. Bước vào thế giới nghệ thuật của Saikaku, người phụ nữ hoàn toàn sở hữu sức mạnh và quyền năng vô hình để chiếm lĩnh những người đàn ông và làm chủ trong địa hạt của ái tình và sắc dục. Dù họ chỉ là nàng du nữ suốt một đời lăn lội chốn tình trường hay cô thiếu nữ còn rất đỗi ngây thơ, trong sáng trong lần đầu biết yêu hay người phu nhân vừa day dứt vừa rạo rực với mối tình vụng trộm trái với đạo đức luân lý, nhà văn vẫn trân trọng vẻ đẹp mong manh, yếu đuối của trong mỗi người phụ nữ, đồng thời “cấp” cho họ cái quyền tự do yêu đương, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền thỏa mãn nhu cầu bản năng của một con người đúng nghĩa. Giải phóng khát khao yêu đương và dục tình của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội Nhật Bản còn mang nặng tư tưởng phong kiến và định kiến khắt khe dành cho người phụ nữ, Ihara không cổ xúy cho tư tưởng vô đạo, phản văn hóa hay ý nghĩ tà dâm như một nhà văn nổi loạn mà sau cùng, điều tác giả muốn gửi gắm chính là những bài học thức nhận về mối quan hệ giữa sắc dục và cái đẹp phù thế.

Khám phá vẻ đẹp của những người phụ nữ, Ihara không chỉ có dành những lời khen có cánh cho dung mạo, cốt cách, phong thái và tài năng của người phụ nữ mà nhà văn còn có những phát hiện tế vi về thế giới tâm hồn của họ. Bỏ qua những toan tính đen tối của nàng du nữ hay những hành vi điên rồ của những người đàn bà si tình, sau tất cả, họ vẫn là những con người rất đỗi bình thường mang tâm hồn lãng mạn, đa sầu đa cảm. Khi lánh xa cõi sắc dục, tìm đến đời sống “thường lạc ngã tịnh”, nàng du nữ bỗng hóa một phụ nữ vô tư, trong sáng khi “tìm thấy niềm vui khi vừa làm việc vừa có thể tận hưởng vẻ đẹp của ánh nắng chiếu vào từ cửa sổ, hoặc thích thú đưa mắt ngắm vẻ đẹp của những đóa hoa diên vĩ đang nở” [4, tr.136].

Tuy nhiên điều đó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc nào đó trong cuộc đời nàng, còn thứ đọng lại trong tâm trí người đọc về nhân vật này không chỉ là thói hiếu sắc tận độ mà chính là tiếng nói của lương tri, của lòng tự trọng – thứ mà người ta tưởng rằng nàng đã đánh mất ngay từ những ngày đầu tiên đặt chân vào nghề du nữ. Hơn ai hết, nàng luôn ý thức được sự bạc bẽo và ô nhục của nghề này: “Bao nhiêu năm trôi qua cứ phải xoay vần trong tửu sắc, chẳng biết rồi thân phận mình sẽ đi đâu về đâu” [4, tr.163] và tỉnh táo nhận ra: “Dù có bao biện là kiếm sống đi chăng nữa, gần tuổi này mà còn làm nghề ấy thì đúng là đáng sợ” [4, tr.205]. Thậm chí, thật là khó tin khi biết rằng đây chính là dòng tâm sự của một cô gái bán hoa: “Những người đã làm bao việc xấu xa trong quá khứ như tôi, nghĩ lại càng thấy xấu hổ thật sự. Với một quá khứ đầy tội lỗi, đáng xấu hổ thì tôi cần làm một điều gì đó để chuộc lỗi và cầu nguyện cho mình được giải thoát khi sang thế giới bên kia và có thể được tái sinh ở kiếp sau” [4, tr.209] hay “Cho dù tôi đã sống cả đời trong thế giới này với thân phận du nữ, nhưng không vì thế mà tôi kết thúc đời mình với trái tim vẩn đục” [4, tr.214]. Có thể nói, sóng gió và bão táp của cõi phù sinh đã khiến nhan sắc nàng tàn phai theo năm tháng, thân xác nàng chồng chất những dấu tích của những người đàn ông đã đi qua cuộc đời nhưng hơn bất cứ thứ gì, nàng vẫn giữ cho mình lòng tự trọng tối thiểu của một con người để giờ đây, nàng biết xấu hổ, biết tủi nhục và biết quy phục: “Hãy vứt bỏ vong niệm sai lầm lâu nay, quay về chánh niệm, giữ bản tâm và bước theo con đường mà Phật đã dạy” [4, tr.214]. Có lẽ đó chính là điều đẹp nhất, đáng trân trọng nhất trong con người nàng và cái đẹp thực sự có ý nghĩa khi nó gắn với cái chân, cái thiện.

Nhìn lại tất cả những nhân vật nữ trong tác phẩm của Saikaku, ta nhận ra họ chính là hiện thân cho những vẻ đẹp bất toàn như chính tác giả đã từng thừa nhận: “Không sắc đẹp nào mà không có tì vết” [5, tr. 48]. Nàng du nữ hay năm người đàn bà si tình, tất cả họ đều là những con người sở hữu sắc đẹp khó ai bì kịp nhưng trong tâm hồn họ vẫn những khiếm khuyết xuất phát từ mặc cảm thân phận hay lỗi lầm trong quá khứ. Ẩn sâu trong thế giới nội tâm của mỗi nhân vật, ta vẫn lắng nghe tiếng lòng đớn đau, giằng xé khi con người đối mặt với những sự lựa chọn trước cám dỗ của cuộc đời, những hệ lụy và cả những sự trả giá. Ở đây, Saikaku không hướng đến không phải là cái đẹp lý tưởng chỉ có trong thế giới mộng ảo mà chính là cái đẹp không trọn vẹn, không hoàn hảo trong mỗi con người, trong chính hiện thực đời sống vốn ngổn ngang và ô hợp.

Trong quan niệm mỹ học truyền thống của Nhật Bản, cái đẹp luôn hiện lên trong tinh thần u hoài, niềm bi cảm, tiếc nuối hay trong sự tàn lụi, phôi phai trước sự biến vi của cuộc đời. Có lẽ, bởi “nỗi buồn triết học Nhật Bản là suối nguồn và trung tâm của mọi quỹ đạo mỹ học Nhật Bản mang tên aware, khái niệm mà vào thời Heian được hiểu như sự nhạy cảm, buồn bã, từ đó mà sinh ra “mono no aware”, yếu tính của người Nhật, với hàm ý “nhạy cảm trước vạn vật”” [10] nên cái đẹp từ trong tâm thức con người bước vào văn chương nghệ thuật cũng đượm sắc buồn man mác. Mang trong mình mạch ngầm mỹ học truyền thống, Ihara Saikaku dù táo bạo và cách tân đến đâu thì cũng ý thức về cái đẹp mang dự cảm về số kiếp “hồng nhan bạc phận” hay gắn liền sự cô đơn, u sầu và cái chết trong các sáng tác phù thế thảo tử: “Chỉ về sau người ra mới hiểu ra rằng biết bao tai ương ẩn giấu dưới sắc đẹp yêu kiều ấy” [5, tr.69]. Cuộc đời thăng trầm lặn ngụp trong bể dục vọng của nàng du nữ sắc nước hương trời, số kiếp ngắn ngủi của những đàn bà táo bạo như những con thiêu thân lao vào lửa tình điên dại, hóa chăng đó đều là cái kết điêu linh của những người phụ nữ hay một cách chối bỏ thế gian phù phiếm để tìm về cội nguồn của cái đẹp đích thực? Có lẽ xuất phát từ quan niệm cái đẹp không tồn nguyên vĩnh cửu trong cuộc đời nên nhà văn đã lựa chọn sự ra đi mãi mãi của các nhân vật như một điểm kết thúc cho cái đẹp phù du, chớp bóng trong đời sống thực để mở ra và lưu giữ cái đẹp trường tồn trong kí ức. Và dù mang ý nghĩa nào đi chăng nữa, ta vẫn thấy rằng cảm thức về cái đẹp của Ihara cũng gắn liền với cái bi, cái chết hay niềm bi cảm sâu sắc xuất phát từ chính sự ngắn ngủi, hữu hạn và vô thường của cuộc đời phù thế. Dẫu biết rằng cái chết của những người phụ nữ gợi cho ta xúc cảm nuối tiếc, xót xa; song, ở một phương diện nào đó, nó cũng đem đến cho người đọc dư ba sâu sắc về hình ảnh mỹ lệ của cái chết khi “linh hồn tan vào không trung cùng với tiếng chuông đèn ngân vang” hay “giọt sương rơi xuống từ ngọn cỏ” [5, tr.69]. Phải chăng đó chính là “mỹ học của cái chết” – điều làm nên nét độc đáo và riêng biệt cho nền văn học Nhật Bản?

5. Kết luận

Là những sáng tác ra đời trong lòng xã hội thị dân Nhật Bản thế kỷ XVII, Đời du nữ và Năm người đàn bà đa tình không chỉ là những bức họa sống động miêu tả“thế gian đa tình” [1, tr. 7] với những chân dung nữ nhân được ví như “là hoa, là trăng của thời đại mới” [1, tr.12] mà còn gửi gắm phức cảm thẩm mỹ tế vi về phái nữ của nhà văn hiện thực từng trải trong chốn sắc dục phàm trần và phóng túng. Bằng quan sát tinh tường và cảm nhận sâu sắc, Ihara đã có cái nhìn đánh giá chân thực mà táo bạo về vẻ đẹp, phong thái và cốt cách của người phụ nữ đương thời, từ đó phát lộ thị hiếu thẩm mỹ của con người Edo. Được khai thác từ vẻ đẹp thiên tính tiềm ẩn trong thể xác, tâm hồn và dục vọng bản năng của người phụ nữ, những quan niệm về sắc dục của Ihara Saikaku đã thoát ra khỏi lăng kính của sự nhục dục để thể hiện cái nhìn phóng khoáng, thức thời về mỹ học tính dục nữ trong nền văn chương Nhật Bản. Bước vào các sáng tác của Saikaku, sắc dục của giới nữ được nhìn nhận như một cái đẹp chân chính, một niềm đam mê bất tận, một thứ quyền lực vô hình trong thế giới vốn bị thống trị bởi cánh đàn ông.

Với tinh thần nhân văn cao cả và thái độ làm việc nghiêm túc, lịch sự, tao nhã, Ihara Saikaku đã nhìn sâu vào thế giới của những người phụ nữ bằng cái nhìn cảm thông, thấu hiểu cho những nhu cầu, khát vọng đời thường thầm kín của họ. Hơn ai hết, nhà văn còn khám phá được vẻ đẹp mong manh trong tâm hồn, ánh sáng le lói của lòng tự trọng, của lương tri ngay trong những tâm hồn tưởng chừng như đã vẩn đục bởi thói đời nhiễu nhương; trân quý những giá trị thực sự của người phụ nữ. Chính điều đó tạo nên sự thanh tao, nhã nhặn như một thứ tinh chất ẩn sâu trong khối hiện thực thô ráp, trần tục và phù phiếm trong tác phẩm của Saikaku.

Tài liệu tham khảo

[1]  Nhật Chiêu, Saikaku và thế gian đa tình, trong tác phẩm Đời du nữ (Đào Thị Hồ Phương dịch), Nxb. Hội Nhà văn.

[2]  Nguyễn Phương Khánh (2018), Nhật Bản từ mỹ học đến văn chương, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[3]  Mai Liên (tuyển chọn, giới thiệu và dịch) (2010), Hợp tuyển văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến giữa thế kỷ XIX, Nxb. Lao động, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

[4]  Ihara Saikaku (2018), Đời du nữ (Đào Thị Hồ Phương dịch), Nxb. Hội Nhà văn.

[5]  Ihara Saikaku (2017), Năm người đàn bà si tình (Phạm Thị Nguyệt dịch), Nxb. Văn học.

[6]  Khuất Thị Phượng (2009), Ihara Saikaku, cây bút tiêu biểu của văn chương phù thế Nhật Bản. Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[7]  Nguyễn Nam Trân (2011), Ba trăm năm tiểu thuyết Edo, in trong công trình Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, quyển thượng: từ thượng cổ đến cận đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

[8]  Nhật Chiêu (2003), Nhật Bản trong chiếc gương soi, https://sachvui.com/ebook/nhat-ban-trong-chiec- guong-soi-nhat-chieu.906.html (truy cập ngày 26 tháng 9 2019)

[9]  Uyên Lâm (2016), Nhã và tục trong văn học Edo, http://uyenlam.blogspot.com/2016/05/nha-va-tuc- trong-van-hoc-nhat-ban-thoi.html (truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2019)

[10]  Hiền Trang (2019), Bi cảm và nhục cảm trong văn học Nhật, http://www.tiasang.com.vn/-van-hoa/Bi- cam-va-nhuc-cam-trong-van-hoc-Nhat-15301 (truy cập ngày 7 tháng 7, ngày 8 và 18 tháng 8 năm 2019)

[11]  Damian Flanagan (2016), The shifting sexual norms in Japan's literary history, https://www.japantimes.co.jp/culture/2016/11/19/books/shifting-sexual-norms-japans-literary-history/ (truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019)

[12]  Karl F. Friday (2012), Japan Emerging: Premodern History to 1850, https://books.google.com.vn/books?id=iUtWDwAAQBAJ&pg=PT297&lpg=PT297&dq=female+sexuality+in+ihara+saikaku&source=bl&ots=h3pyy19eX8&sig=ACfU3U3knGTJq2BYUDzYc88IBDzXEMlUg&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwj2j6XXgp_iAhUgxosBHQm_DcQQ6AEwCHoECAkQAQ#v=onepage&q=female%20sexuality%20in%20ihara%20saikaku&f=false (truy cập ngày 6 và 18 tháng 8 năm 2019)

[13]  Lawence E. Marceau (1994), Women in Saikaku: Good, Bad, or Victims of Circumstance?, https://www.academia.edu/2132589/Women_in_Saikaku_Good_Bad_or_Victims_of_Circumst ance (truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019)

[14]  Nahoko Fukushima (2011), Sharebon and the Courtesans: A Phase of Edo Aesthetics as the Dispersal of Ideology, Doctor of Philosophy (Comparative Literature) in The University of Michigan, https://core.ac.uk/download/pdf/3147848.pdf (truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019)

[15]  Ihara Saikaku ‘s “Life of a sensuous woman” and the rise of feminism, https://freeessays.club/novels/ihara-saikakus-life-of-a-sensuous-woman/ (truy cập ngày 17, ngày 18 và ngày 23 tháng 8 năm 2019)

[16]  The Sensual World of Ihara Saikaku (1996), http://www.denbushi.net/blog/archives/000049.html (truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019)

Chú thích

1 Học viên thạc sĩ, Đại học Việt Nhật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Email: dolethanhthuy1996@gmail.com

 

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Văn học và Giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/ 2019.

 


Bài khác