Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
XÚC CẢM GIỚI TÍNH TRONG VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM


Nguyễn Thanh Tâm1

Tóm tắt: Văn học thiếu nhi Việt Nam không chỉ là hình thức biểu đạt của giới. Từ trước năm 1945 đến nay, vấn đề xúc cảm giới tính của trẻ đã đi vào những sáng tác dành cho thiếu nhi. Có thể thấy rõ sự vênh lệch giữa khoa học Tâm lí và Văn học trong việc tiếp cận xúc cảm giới tính trẻ. Chính vì vậy, những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi trở thành diễn ngôn đặc biệt, góp phần làm sáng rõ những bí mật của tuổi trăng non. Tính mềm dẻo và đa nghĩa của diễn ngôn nghệ thuật đã mở ra những mảnh ghép thú vị về đời sống tình cảm của trẻ với người khác phái tính. Tuy nhiên, đề tài xúc cảm giới tính trẻ trong văn học thiếu nhi Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người đọc lẫn thực tiễn tâm hồn sinh động và phức tạp của trẻ em.

Từ khoá: văn học thiếu nhi Việt Nam, xúc cảm giới tính, trẻ em

Bất luận cách ứng xử không thực sự công bằng của xã hội với văn học thiếu nhi, những sáng tác văn chương dành cho trẻ đã và vẫn sẽ tiếp tục hiện diện trong dòng chảy văn học Việt Nam với những thành tựu đã có, đặc biệt là với cách tiếp cận, khai thác đề tài xúc cảm giới tính. Trong bối cảnh trẻ em đang trưởng thành sớm so với lứa tuổi nhưng người lớn vẫn cứ xem chúng là trẻ con, vẫn giấu giếm những tri thức về giới tính để cho trẻ tự mình đi trên hành trình đầy may rủi, thì sự hiện diện của đề tài xúc cảm giới tính trong văn học thiếu nhi là điều rất có ý nghĩa. Bằng những sáng tác văn học, các nhà văn đã đưa người đọc đến với thế giới xúc cảm giới tính tự nhiên và tất yếu của trẻ thơ, từ đó truyền phát những thông điệp ý nghĩa. Mặc dù số lượng tác phẩm viết về nội dung này không nhiều như người đọc kì vọng cũng như mạch đập cuộc sống hàng ngày nhưng đã cho thấy tính riêng biệt của văn chương với tư cách là hình thức biểu đạt không chỉ của giới mà còn về giới với rất nhiều bí mật thú vị.

1. Xúc cảm giới tính trẻ nhìn từ Tâm lý học phát triển và Phân tâm học

Mọi cá thể thuộc về bất kì nền văn hóa nào đều hình thành cảm xúc trong quá trình hoàn thiện nhân cách. Đi qua những đối cực thể hiện tính không bền vững của xúc cảm, cá thể sẽ dần hoàn thiện. Có nhiều loại xúc cảm mà con người sẽ trải nghiệm, trong đó cảm xúc giới tính là một dạng cảm xúc đặc biệt. Với trẻ, rung động với người khác giới tính được gọi là xúc cảm giới tính chứ không phải là tình yêu đôi lứa bởi vì đấy là rung cảm chưa bền vững của các em trong những năm tháng đầu đời. Nếu như những đặc điểm sinh lí để xác định một cá thể nam hay nữ là những đặc điểm có tính bẩm sinh, là những yếu tố ngoại hiện có thể quan sát được và không phụ thuộc vào không thời gian, thì xúc cảm giới tính trẻ lại không nhất thành bất biến, thậm chí nó không tránh khỏi tính chất trừu tượng, mơ hồ. Về lí thuyết lẫn thực tế, giới tính (sex) có quan hệ chặt chẽ với giới (gender). Giới với tư cách là phạm trù xác lập, phân biệt vai trò, hành vi và các thuộc tính “do xã hội quy định và gán ghép cho nam, nữ”, một phần bị quy định bởi giới tính và sẽ vì tác động của môi trường xã hội mà có những biến thiên. Vì vậy xúc cảm giới tính giữa những trẻ khác phái tất yếu sẽ được biểu hiện thông qua những hoạt động, hành vi cụ thể mang đậm màu sắc phái tính. Ở chiều ngược lại, những biểu hiện riêng biệt, đặc thù của giới cũng sẽ là cội nguồn tạo sinh những rung động trong các em.

Tiếp cận khoa học Tâm lí với tư cách là những diễn ngôn định giới có tính khoa học để hiểu hơn đời sống tâm hồn của trẻ là hướng đi của nhiều người. Với đối tượng nghiên cứu là toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của cá nhân từ lúc còn là bào thai đến tuổi già, Tâm lí học phát triển đã cung cấp những thông tin cơ bản về giới tính và xúc cảm giới tính con người qua từng giai đoạn. Trẻ 2 tuổi đã biết mình thuộc giới nào. Trẻ tiểu học càng phát triển hiểu biết về “chuẩn mực giới”. Thậm chí, sự phân biệt giới ở độ tuổi này còn được đẩy lên ở mức “cực đoan”, cứng nhắc khi bé gái rất ngại ngồi cùng bàn với bé trai. Ở tuổi thiếu niên, giao tiếp với bạn khác giới được các em quan tâm hơn. Những rung động đầu đời với bạn khác giới xuất hiện cuối tuổi thiếu niên nhưng những xúc cảm đó chỉ ở dạng mơ hồ, không ổn định.

Những nghiên cứu trên của Tâm lí học phát triển đã làm sáng rõ bản sắc giới lẫn sự thay đổi cảm xúc giới tính của trẻ qua những chặng đường đời khác nhau. Bên cạnh đó, Phân tâm học cũng mở ra một cánh cửa khác để chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề này. Freud trong khi bàn về vấn đề tình dục đã không ngần ngại đề cập đến đời sống tình dục trẻ em. Ông cho rằng không có gì là xấu xa khi nói điều đó vì đó là điều đã, đang và sẽ tồn tại như mọi hiện tượng khác đã từng có trên cõi đời. “Trẻ em không có tội gì trong vấn đề này. Các em chỉ là người thừa hưởng cái trời cho, cái tự nhiên tặng, cái mà ta gọi là bẩm sinh di truyền từ đời nọ sang đời kia mà không một ai có thể loại trừ nó ra khỏi cuộc sống con người” 2. Đời sống tình dục của trẻ em trước hết được Freud gắn với khái niệm “khát dục” (libido). Sự khát dục của trẻ biểu hiện ngay từ khi còn bú mẹ. Sự khoan khoái khi bú no không chỉ là sự thỏa mãn sinh lí đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm lí. Trẻ sung sướng, dễ chịu về tinh thần, vì thế dù đã bú no nhưng chúng vẫn thích ngậm đầu vú mẹ, ngậm ti giả hoặc ngón tay mình. Vì vậy, “vùng miệng là một trong những bộ phận gây nhiều khoái cảm mang nội dung tình dục và được gọi là miền khát dục. Đây là giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển đời sống tình dục của trẻ em và đôi vú của người mẹ được coi là đối tượng tình dục đầu tiên theo một nghĩa tự nhiên và lành mạnh trong sáng hơn bất cứ sự lành mạnh trong sáng nào trên cõi đời này đối với các em”3. Sau đó, tình dục của trẻ em còn phát triển sang các “miền tình dục” khác, đó là nơi các cơ quan bài tiết để thỏa mãn khoái cảm bằng chính cơ thể mình. Dù bị cấm đoán, trẻ vẫn lén lút sờ mó, đùa nghịch với cơ quan bài tiết. Hơn thế, chúng còn xuất hiện “mặc cảm bị thiến”. Freud đồng hóa tình dục của trẻ em với những sa đọa về tình dục, vì tình dục của trẻ không liên quan gì đến việc sinh con cả. Ông khẳng định: “Chúng ta gọi là sa đọa bất cứ hành vi tình dục nào không có mục đích sinh sản mà chỉ có mục đích tìm khoái cảm không liên quan gì đến sinh sản”4. Phân tâm học của Freud gọi tình dục của trẻ em là thời kì tiền sinh dục. “Các em chưa biết gì đến việc giao hợp và hưởng thụ những khoái cảm không phải bằng cơ quan sinh dục. Vì các em chưa biết gì đến việc giao hợp nên các em hưởng khoái cảm thông qua những cơ quan sinh lí khác, lẻ tẻ rời rạc vô trật tự không phụ thuộc vào những cơ quan sinh dục mà mang tính độc lập riêng biệt”5. Vì thế, nó chưa phải là tình dục theo đúng nghĩa của từ này như mọi người thường quan niệm.

Một khái niệm nữa liên quan đến xúc cảm giới tính của trẻ mà Freud đã sử dụng là “mặc cảm Oedipe”. Từ ba đến bảy tuổi, trẻ đã tồn tại những khoái cảm tình dục. Trẻ bắt đầu thích người khác giới, thích được âu yếm. “Vào tuổi này đối tượng để thỏa mãn khoái cảm nếu không còn là cặp vú mẹ thì lại là bản thân người mẹ. Người mẹ được coi là đối tượng tình dục đầu tiên trong đời trẻ thơ”6. Thế nhưng, từ tám đến mười tuổi, tức là trước tuổi dậy thì, trẻ thường quên hẳn những kỉ niệm của đời sống tình dục do cấm đoán xã hội đã dồn nó vào vô thức. Nhưng nó lại trở lại vào tuổi trưởng thành. Tình yêu đối với mẹ từ khi còn bú sữa đã hình thành trong mỗi con người mặc cảm Oedipe.

Điểm lại một vài nội dung của Tâm lí học phát triển và Phân tâm học để khẳng định rằng, vấn đề giới của trẻ đã là nội dung nhận được sự quan tâm của các khoa học khác ngoài Văn học. Nhưng trong khi những thông tin của Tâm lí học phát triển nhanh chóng được xã hội thừa nhận thì số phận của Phân tâm học lại bấp bênh. Bên cạnh những người tán thành lại có xu hướng phản đối, không thừa nhận. “Không ít người cho rằng nói đến đời sống tình dục nơi trẻ em, nơi những thiên thần bé nhỏ là xúc phạm đến một cái gì đó thiêng liêng nhất, trong trắng nhất nơi con trẻ”7. Người ta cũng e ngại lí thuyết của Freud xúc phạm đến tình mẫu tử thiêng liêng của con người.

Cá nhân người viết không đưa ra phán xét liên quan đến tính đúng sai của những thông tin đã trình bày ở trên mà chỉ xem đó như một quy chiếu để nhận diện “ảnh” của nó trong văn học thiếu nhi, hơn thế còn là những vênh lệch giữa khoa học Tâm lí với Văn học trong việc tiếp cận xúc cảm giới tính trẻ. Những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi chính là mật ngữ góp phần làm sáng rõ những bí ẩn của tuổi ngọc trong buổi đầu “những cơn gió vàng mười” thổi đến. Tính mềm dẻo và đa nghĩa của diễn ngôn nghệ thuật đã mở ra những mảnh ghép thú vị về đời sống tình cảm của trẻ với người khác phái tính, bất chấp thực tế là vấn đề xúc cảm giới tính của trẻ hoặc không được thừa nhận hoặc không được khuyến khích.

2. Đề tài xúc cảm giới tính trong văn học thiếu nhi Việt Nam

Văn học thiếu nhi Việt Nam đã đi một chặng đường dài và trên hành trình ấy đã có sự hiện diện của đề tài xúc cảm giới tính trẻ. Những năm đầu của thế kỉ XX, xúc cảm giới tính đã đi vào sáng tác cho thiếu nhi của một số nhà văn hiện thực phê phán và Tự lực văn đoàn (Những cánh hoa tàn – Nam Cao, Tình xưa – Thạch Lam, Những ngày thơ ấu - Nguyên Hồng, Em Dìn, Người chị dâu tôi - Hồ Dzếnh, Lan Hữu - Nhượng Tống...). Một số tác phẩm văn học cách mạng tiếp tục khơi lên cảm hứng nghệ thuật đó (Mặt trời quê hương – Xuân Sách, Khi mùa xuân đến – Lê Phương Liên...). Tuy nhiên, vị trí của xúc cảm giới tính trong hầu hết các tác phẩm đó rất mong manh, nó dễ dàng bị nhấn chìm bởi những vấn đề xã hội có tính vĩ mô khác. Mùa “Hoa tím” rực rỡ nhất phải đợi đến lúc tạp chí Tuổi Hoa và Tuổi Ngọc xuất hiện. Tuổi Hoa phát hành số đầu tiên vào tháng 6 năm 1962, do nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế chủ trương, linh mục Chân Tín làm chủ nhiệm và Nguyễn Trường Sơn làm chủ bút. Ngoài tờ báo, Nguyễn Trường Sơn còn chủ trương xuất bản tủ sách Tuổi Hoa với ba loại: Hoa Xanh, Hoa Đỏ, Hoa Tím. Làm nên thành công của Tuổi Hoa phải kể đến các tác giả: Nguyễn Trường Sơn, Minh Quân, Hoàng Đăng Cấp, Quyên Di, Trinh Chí, Kim Hài, Nguyễn Thái Hải, Thùy An, Tôn Nữ Thu Dung... Phát hành tại 38 Phạm Ngũ Lão - Sài Gòn vào năm 1971, chủ bút là Duyên Anh, thư kí là Đinh Tiến Luyện, tạp chí Tuổi Ngọc tiếp tục là sự ưu ái mà các nhà văn dành riêng cho tuổi ô mai. Trong nhiều trang viết của Tuổi Hoa và Tuổi Ngọc, rung cảm đầu đời của trẻ trở thành cảm hứng nghệ thuật chủ đạo. Thằng Vũ, Tuổi mười ba (Duyên Anh), Mưa mùa đông (Hoàng Ngọc Tuấn), Anh Chi yêu dấu (Đinh Tiến Luyện), Huyền xưa (Từ Kế Tường), Lá tương tư, Một chút mưa thơm (Mường Mán), Khúc Nam Ai, Gợn sóng (Kim Hài), Hoa bâng khuâng, Chân dung hạnh phúc (Thùy An), Ngày tháng nào (Tôn Nữ Thu Dung), Hoa cườm thảo (Lý Thụy Ý), Bài nhạc khẩu cầm, Còn dấu chân người (Cam Li Nguyễn Thị Mĩ Thanh), Con dốc cổng trường (Nguyễn Thái Hải)... đã vẽ ra những bâng khuâng của tuổi mới lớn với khát khao thầm kín được đón nhận “hạnh phúc dịu dàng” của tuổi. Sau năm 1975, đề tài xúc cảm giới tính trẻ tiếp tục đi vào các tác phẩm: Gió bụi Sài Gòn (Bùi Cát Vũ), Mùa hè năm Petrus (Lê Văn Nghĩa), Mong manh (Nguyễn Ngọc Tiến), Trên đôi cánh chuồn chuồn (Trần Đức Tiến), Sao thầy không mãi teen teen (Lê Hoàng), Quân khu Nam Đồng (Bình Ca), Mãi mãi một thời thiếu sinh quân (Ma Văn Kháng)... và các sáng tác của những cây bút trẻ thuộc bút nhóm Hương Đầu Mùa, Vòm me xanh, Gia đình Áo Trắng như Phan Hồn Nhiên, Dương Thụy, Văn Thành Lê,...

Sự hiện diện của đề tài xúc cảm giới tính trẻ qua từng tác phẩm trên có độ đậm nhạt khác nhau nhưng đã góp phần mở ra bức tranh sinh động về tâm hồn trẻ, giúp người đọc hiểu hơn về nhận thức giới lẫn xúc cảm giới của các em. Ở mức độ nào đó, những chia sẻ từ văn chương lại sát với thực tiễn tâm hồn trẻ hơn là những tri thức của khoa học Tâm lý.

Văn học thiếu nhi Việt Nam đã giúp người đọc hiểu rõ hơn nhận thức của trẻ về đặc điểm sinh học của giới. Những cô cậu học trò nhí, thậm chí bị liệt vào dạng 4D (đụng - đâu - đổ - đấy) trong truyện Tết đến rồi em Béo ơi! (Đỗ Bích Thúy) đã biết quan tâm đến sự biến đổi của cơ thể. Thậm chí chúng còn có những hình mẫu nhất định gắn với mong muốn hướng đến sự hoàn thiện, lý tưởng của cơ thể. Cùng một độ tuổi với nhau, nhưng nếu sự phát triển cơ thể không tương đồng thì trẻ sẽ dễ dàng nhận ra. Ngay cả trẻ em miền núi cũng đã hình thành thói quen lắng nghe tiếng nói của cơ thể, dù rằng các em chưa đi qua hết sự ngây ngô, ấu trĩ. Ở tuổi mười ba, nhân vật Mính (Bí mật trong cơ thể - Nguyễn Đức Lợi) không còn thờ ơ khi nghe mẹ nói mình chưa “đẹp”. Mính đã trốn vào rừng, lột sạch quần áo mà sờ, mà ngắm mình. “Mính nghiêng tai nghe ngóng xem cơ thể có mách bảo gì không”8. Mính dần dà hiểu được câu hỏi đầy ẩn ý của bố. Mính chưa “đẹp” vì sắp sang tuổi mười bốn mà ngực nó vẫn như ngực thằng Hếnh, mông thì chỉ “nhỉnh hơn cái que đuổi trâu”. Trong đầu Mính bật lên một chuỗi câu hỏi: sao mình không bình thường như người khác, cơ thể mình có gì lạ mà bố mẹ lại sợ sệt đến thế, liệu mình có cần sự giúp đỡ nào không, nếu mình tự khám phá thì bắt đầu như thế nào...? Cái ôm của đứa em trai đã giúp Mính tìm ra lời giải. Mính nhớ lại cái lần Mính cầm tay anh Chía để đi qua cơn lũ. Lúc đó, Mính đã có cảm giác gai buồn từ tay lan vào ngực, ra sống lưng. Nhớ đến đó, Mính đã phăm phăm ngược núi, chạy xộc về cầm tay mẹ đặt lên ngực mình, liến thoắng nói lời “bào chữa”: “Con bình thường mà mẹ, con bình thường mà... không phải ma đâu... đừng tìm cách đuổi con ra khỏi nhà mẹ nhé!”9. Niềm vui của nhân vật tỏa lan trong những câu nói ấy - niềm vui của đứa trẻ buổi đầu biết lắng nghe bí mật cơ thể mình.

Cùng hướng đi ấy, Mùa hè năm Petrus của Lê Văn Nghĩa dạn dĩ hơn, thẳng thắn hơn trong việc truyền tải những thông điệp về giới tính. Những lo lắng, sợ hãi của tuổi mới lớn khi đối diện với những thay đổi tâm sinh lí tuổi dậy thì được nhà văn kể lại bằng giọng điệu hài hước. Nhân vật Dũng xem chuyện nằm mơ và thấy “quần bị ướt” là chuyện trọng đại trong đời nên đã kể lại cho bạn bè và đã bị bạn bè hù doạ sẽ bị mù mắt hoặc thong manh khi dính tới “bệnh lậu, di tinh hượt tinh, phong tình hoa liễu”. Sợ hãi, Dũng đã làm theo lời khuyên của bạn, Dũng đã kiếm sợi dây thun buộc vào nơi có thể gây bệnh cho nó. Nó vào buồng tắm, đóng cửa lại và bắt đầu việc túm đầu “nạn nhân” mà cột. Khi ba nó tra hỏi vì sao ở trong buồng tắm lâu thì Dũng lại lúng túng và tìm cách nói dối. Được ba tư vấn rằng đấy là chuyện bình thường của con trai, Dũng đã lật đật cởi sợi dây thun ra. Dù nó cúi gằm mặt xấu hổ nhưng trong lòng nó một gánh nặng đã được cởi bỏ.

Đó là sự thật tâm lí của tuổi mới lớn mà người viết đã phản ánh thành công thông qua tính mềm dẻo của ngôn từ nghệ thuật. Những lo sợ, lúng túng của trẻ xuất phát từ việc trẻ không được trang bị những kiến thức giới tính cơ bản để hiểu tiếng nói cơ thể qua các độ tuổi. Về phương diện này phải ghi nhận thành công của nhà văn Vũ Hùng. Trong các câu chuyện về rừng, tác giả đã đề cập một cách tinh tế chuyển biến tâm sinh lí của tự nhiên lẫn những bí mật của đại ngàn xoay quanh cuộc chiến ngầm của tình yêu. Cái ngày Sao Sao trong tác phẩm cùng tên giã từ tuổi thơ, “một nỗi rạo rực chảy trong máu nó”. Nó ngỡ ngàng khi thấy cái bóng phổng phao, cao lớn của mình trong đáy nước. Giọng nó bị vỡ, trở nên ồm ồm. Các cô hươu đẹp như trăng nhìn nó bằng cặp mắt trong veo, đầy vẻ chờ đợi. Và khi đọc truyện Sống giữa bầy voi, người đọc không khỏi bất ngờ khi đối diện với những xung đột xảy ra trong mùa sinh sản của loài voi. Sau những bất hòa, tranh chấp kịch liệt, con voi đực chiến thắng đã đưa voi cái vào rừng sâu. Chúng không muốn ai thấy những khao khát thầm kín của chúng. Sau khi sống với nhau vài tuần trăng, chúng theo dấu tìm về bầy cũ. Tình bạn của loài voi lại được kết nối. Đấy không còn là câu chuyện của bản năng nữa mà còn là sự khôn ngoan thể hiện văn hóa sinh tồn của tự nhiên. Trẻ em cần được nghe nhiều hơn những câu chuyện như thế, dẫu đấy chỉ là những câu chuyện đồng thoại về cỏ cây, muông thú để có nhận thức chính xác và nhân văn về giới tính.

Không chỉ ý thức rõ về mối quan hệ giữa trang phục với việc giữ gìn, bảo vệ phái tính, trẻ còn phản ứng mạnh mẽ với những hành động trêu ghẹo thô tục và những hành động vượt quá giới hạn tình cảm tuổi học trò. Đã xuất hiện những mảng màu tối trong bức tranh hiện thực về đời sống trẻ. Thiếu vắng sự giáo dục về vấn đề giới tính lẫn cuộc sống mưu sinh lam lũ đã khiến cho một số đứa trẻ trở nên thô bỉ, tục tằn như thằng Lác (Bỏ trốn - Phan Thị Thanh Nhàn), thằng Sơn (Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh - Nguyễn Nhật Ánh)... Thậm chí có tác phẩm đã chạm đến vấn đề tình cảm đồng giới. Tác phẩm Gió bụi Sài Gòn được Bùi Cát Vũ viết vào năm 1992 nhưng thật bất ngờ khi đã phản ánh những vấn đề đến nay vẫn nóng tính thời sự, đó là chuyện tình cảm đồng giới. Trong bước đường lưu lạc, nhân vật chính của truyện rơi vào tình trạng dở khóc dở cười. Cậu bé đến xin làm việc ở hiệu ảnh Photo Nadal và được anh chà (bảo vệ) hẹn gặp ở chợ Sài Gòn vào lúc bảy giờ. Nhưng chuyện không ngờ đã xảy ra. “Anh ta theo đường mòn vào bãi rác tối om om. Tôi do dự dừng lại ngoài đường cái. Anh ta đứng lại chờ, vẫy tay gọi tôi bảo nhà anh ta ở phía bên kia bãi rác. Đi tắt ngõ này gần. Anh ta thường đi như vậy. Tôi bước theo anh ta, vừa đi vừa ngập ngừng. Bỗng nhiên anh ta dừng lại, ném chiếc áo mưa xuống dưới đất và ôm choàng lấy tôi, hôn tôi, ấn đì vào mông tôi. Tôi hiểu anh ta muốn gì rồi. Tôi xô ngực anh ta và anh ta gập người, hai tay ôm bụng rên rỉ lâm râm như tụng kinh trong chùa Ba Lai. Tôi chạy vụt trở ra đường”10. Tính đến thời điểm này, đây là tác phẩm duy nhất của văn học thiếu nhi đề cập tới tình cảm đồng giới. Sự tiếp xúc ngoài ý muốn này là một thử thách tâm lí cho chính nhân vật và cũng là “thứ thuốc rửa” giúp em nhận chân hiện thực.

Ở một số tác phẩm, nhân vật thiếu nhi có xu hướng chín sớm về nhận thức. Các em tỏ ra khá nhạy cảm trước quan hệ tình cảm của người lớn. Mới mười hai tuổi nhưng Bê và những người bạn của mình trong tác phẩm Hành trình ngày thơ ấu (Dương Thu Hương) đã thấy được sự khổ sở của cô nữ sinh lớn tuổi cùng lớp tên là Bội trong buổi chiều mưa vì lớp áo phin ướt dính vào da khiến chị giống như một bức tranh khỏa thân thời Phục hưng, cùng với cái nhìn “miệt mài” của thầy giáo thể dục. Trong Gió bụi Sài Gòn (Bùi Cát Vũ), nhân vật tôi đã thể hiện rõ thái độ với chuyện tình cảm ngoài luồng của ông chủ với những người phụ nữ khác. Cậu bé nhanh chóng phát hiện ra mặt trái sự đời khi ông thầy Ngọc Lân cứ thoáng thấy bóng người đẹp đi qua là bắt nó chạy theo hỏi địa chỉ. Bởi vì ngay sau đó, thầy Ngọc Lân sẽ có thêm một địa chỉ để vắng nhà, còn cậu thì sống trong mặc cảm xấu hổ vì tự nhiên lại trở thành “một ma - cô chính thức”. Sự xuất hiện của mặc cảm xấu hổ đồng nghĩa với việc nhân vật đã ngấm ngấm phản đối những tình cảm nam nữ không phù hợp với đạo lý truyền thống của người Việt. Do đó, khi được giao nhiệm vụ kết nối cho thầy Ngọc Lân với những phụ nữ khác, cậu bé đã làm theo hướng dẫn của quân sư Ba Mập, cũng giả vờ trò chuyện nhưng báo lại cho ông thầy rằng, họ toàn là con, là dâu của hàng chục địa chủ có máu mặt ở đất Sài Gòn. Những thất bại liên tiếp của ông thầy làm cho nhân vật này bực bội với học trò. Nhưng chắc chắn đứa trẻ này rất hạnh phúc với cách hành xử của mình, cách hành xử của một đứa trẻ chưa từng trải nghiệm tình yêu nhưng đã hiểu được những giá trị tối thiểu của tình cảm thiêng liêng ấy.

Với những nhân vật đã “dấn thân” vào tình cảm khác giới, biểu hiện tâm lí của các em cũng thật phong phú. Riêng nguồn cội của những “tiếng sấm đầu mùa” thôi cũng được giải thích với vô vàn lí do. Thằng Thiều thích con Xin vì: “Tới lần thứ một ngàn lẻ một, tôi đột ngột hiểu ra tôi hay chọc con Xin khóc vì tôi thích mê tơi vẻ ngúng nguẩy hờn giận của nó. Nhiều đứa con gái lúc bình thường trông chẳng có gì đặc biệt nhưng không hiểu sao khi giận dỗi nom chúng đáng yêu quá chừng”11. Một thời gian thằng cu Mùi thích con Dung vì “con Dung điệu thật ra chẳng xinh đẹp gì, chỉ được mỗi cái làm điệu, nhưng tiếng cười của nó luôn khiến tôi tò mò. Tiếng cười của nó nghe như tiếng nhạc, hễ nó cất lên là tôi nhận ra ngay. Tôi thích tiếng cười đó từ lâu và lần nào cũng vậy hễ nghe con Dung điệu cất tiếng cười là tôi không kềm được một cú liếc xéo về phía nó”12. Hân dọa ma người bạn gái cùng lớp cốt để tạo ấn tượng lạ với bạn, để bạn chú ý đến mình chỉ vì: “Anh có biết không, nó là một đứa con gái rất buồn rầu, rất ít đùa nghịch, hình như nhà nó rất nghèo, nó ít áo quần đẹp, nhưng trông nó vẫn rất xinh so với đám con gái trong lớp. Em cảm thấy nó... giống như một cô bé Lọ Lem”13. Sơn thương cô bé gầy gò vì nỗi lận đận của gia cảnh mà sớm phải tần tảo. Cậu học trò tản cư xấu hổ khi nhìn cô bé có đôi mắt tròn to với hai hàng mi dài uốn cong, đen như quét mực tàu cứ “trần truồng như nhộng” xách giỏ lên bờ, tự nhiên như không. Mắt Sơn cay cay khi nghe Hoa nói: “Anh thẹn à? Mạ em bảo áo quần ngâm nước lâu chóng rách, không có tiền mà mua, lại khó lội. Trẻ con chẳng sao”14. Những lí do như thế trả nhân vật về đúng lứa tuổi với những rung động vừa cảm tính vừa chân thành, sâu sắc.

Cắt nghĩa được nguồn cơn của những rung động đầu đời, các tác giả tiếp tục đồng hành cùng nhân vật qua muôn vàn trạng huống tâm lí. Xúc cảm giới tính có khi chỉ dừng lại ở cảm giác “chơi vơi” khi nhận cái nguýt dài của cô bạn lớp trưởng gương mẫu luôn “chiếu tướng” và ghi tên mình vào sổ đầu bài, là sự “bối rối” khi bàn tay chạm phải quả thị vàng ươm ai đó bí mật bỏ vào ngăn bàn, là “nỗi buồn vẩn vơ” khi người mong đợi không có mặt trong ngày mừng tuổi mới, là “tự dưng nhớ” nụ cười rạng rỡ và lanh lảnh của ai đó (Cuộc chiến tóc ngắn tóc dài, Nhật kí mùa thu, Giận hờn người dưng, Trái tim ngốc nghếch – Vũ Thị Thanh Tâm). Là trái tim “chậm một nhịp” trước cái nháy mắt đến từ đôi mắt ngây thơ, tròn xoe ở bên kia khung cửa sổ; là bỗng dưng nổi sùng, “quại” cho người khác một nắm đấm khi kẻ đó trót buông lời ghẹo (Cách nhau một ô cửa sổ, Kẻ thích đùa – Hương Mai), là giận dỗi lấy bút chia bàn chia ghế với bạn cùng bàn (Khi mùa xuân đến – Lê Phương Liên), là nhìn người khác ăn ổi mà nét mặt giãn ra như chính mình đang tận hưởng vị ngọt thơm của trái chín, là đột ngột từ bỏ lối xưng hô mày - tao bỗ bã hàng ngày để tiếng anh - em lần đầu xuất hiện, là những đêm thức cùng mùa hè những mong bắt được con đom đóm thật to và thật sáng cho con nhóc thâm thấp, ngăm đen có đôi mắt tròn to (Trên đôi cánh chuồn chuồn – Trần Đức Tiến), là quyết tâm “tự làm cho ta lớn” bằng trò chơi cô dâu chú rể chỉ vì không ai thừa nhận là ta đã lớn (Trên đồi, mở mắt, và mơ – Văn Thành Lê), là như bị điện giật khi bị người ấy phát hiện mình nhìn trộm họ (Cây chuối non đi giày xanh – Nguyễn Nhật Ánh), là “thuộc lòng” những ý nghĩa trong đôi mắt cô giáo mình thương và hạnh phúc đến nóng bừng người khi tay mềm của cô xoa lên mái tóc (Mưa mùa đông – Hoàng Ngọc Tuấn)... Thậm chí, những xúc cảm rất thật, rất người của trẻ khi bất ngờ có sự đụng chạm cơ thể với người khác giới cũng đĩnh đạc có mặt trên những trang văn. Với tác phẩm Tuổi mười ba, Duyên Anh cho người đọc thấy được sự chuyển biến tâm lí của nhân vật trong mối quan hệ với sự biến đổi của cơ thể. Sau biến cố ở bờ ao đình, Hải “háo hức” gặp Hà hơn bao giờ hết nhưng không hiểu sao nó lại thấy “ngài ngại”. Trong lòng cậu bé tuổi mười ba có “cơn gió bâng khuâng” đang lẩn khuất. “Cơn gió vàng mười của tuổi ngọc” đã đến, làm thay đổi cách xử sự của nó với nhỏ bạn. Hải trở nên “bướng”, không để yên bàn tay cho Hà nắm, cứ thọc cả hai tay vào túi quần tây. Khi Hà như “cụm mây trắng đang thẫn thờ trôi”, Hải mới dám đưa tay ra. Một cảm giác “thật lạ lùng” đã đến với nhân vật. Nó đứng thộn mặt ra. Tai, mặt lẫn trái tim nó đều “tê tê”. Khoảnh khắc ấy, nó đã biết nghĩ tới chuyện “hoa gạo rụng sớm”.

Theo đó, người đọc cũng đứng trước muôn nẻo tơ lòng khi đọc tác phẩm. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh làm người đọc không thể không nhoẻn miệng cười khi kể câu chuyện yêu đương của cu Mùi, nhất là khi nó bắt chước người lớn thổ lộ tình cảm. Cu Mùi coppy những tin nhắn chú Nhiên gửi cho cô Linh để gửi tới điện thoại của con Tủn. Hai tin nhắn đầu tiên mang lại niềm vui cho nhân vật vì nó được cùng con Tủn “đi dạo một chút”, “lai rai một chút” dù nơi đi dạo chỉ là loanh quanh sau hè nhà hàng xóm, ao rau muống bên hông nhà thằng Hải cò và món ăn đãi bạn bằng số tiền ăn cắp của mẹ là chè đậu đỏ bánh lọt. Cu Mùi vô cùng thích thú vì nó thấy mình y như người lớn. Nhưng đời nó chỉ vui được hai lần. Tới tin nhắn thứ ba thì nó gặp nạn. Cậu bé tám tuổi háo hức nhắn cho bạn mẩu tin: “Chiều nay chúng ta lên giường một chút chăng? Buồn ơi là sầu!” mà không hiểu được nội dung mẩu tin “quái ác” ấy. Kết quả là nó đã lên giường nhưng chỉ một mình. Nó phải nằm sấp xuống để ba đét roi vào mông vì cái tội mới nứt mắt đã bày đặt lăng nhăng.

Cười với thằng cu Mùi bao nhiêu người đọc lại rưng rưng khi nghe Nguyễn Nhật Ánh kể Ngày xưa có một chuyện tình bấy nhiêu. Chuyện tình tay ba của Phúc, Vinh, Miền được dõi theo từ thuở nhân vật còn ở tuổi hoa niên cho đến lúc họ ở tuổi 45. Tuổi hoa niên là những ngày yêu thương ngây ngô, vụng dại. Những giọt nước mắt lăn trên má nhỏ Miền đủ làm cho lòng Vinh “ướt sũng”. Nhân vật còn quá bé để có thể gọi tên tình cảm của mình nên vẫn ngập ngừng hỏi Phúc: “Thích là sao hở mày?”. Phúc, sau những cái gãi bụng, đã giải thích cho bạn rằng: “Thích một đứa con gái nào đó tức là lúc nào mình cũng mơ tới chuyện làm chồng nó... Không chỉ vậy, lúc nào mình cũng tưởng tượng có một ngày con của nó chạy ra vườn réo mình inh ỏi “Ba ơi ba, vô ăn cơm!””15. Những lời “nhăng cuội” mà Phúc đọc được từ sách vở đã khai thông tâm trí cho Vinh. Thế nhưng cậu con trai nhút nhát, “nhẫn nại và âm thầm chịu đựng” này đã không gặp may mắn trong tình yêu đầu đời. Miền, “thứ trái ngọt trổ bất thường trên cây phả hệ đầy những cành đắng” đã gửi tình cảm cho chính người bạn thân của cậu. Vinh đối diện với một tâm trạng lạ lùng mà về sau cậu biết đó là cảm giác ghen tuông. Vào đại học, trở thành thầy giáo... qua thời gian, Vinh vẫn gìn giữ tình yêu với Miền, vẫn cưới Miền làm vợ dù biết rằng bé Su con chị Lụa kì thực là con của Miền và Phúc. Tình cảm mà Vinh dành cho Miền thực sự chân thành. Nói như Nguyễn Nhật Ánh, Vinh đến với Miền vì tình yêu tinh khôi như ánh mặt trời và cưới Miền dưới bóng mây đen của quá khứ, nhưng Vinh như con tằm nhả đến sợi tơ tình cảm cuối cùng. Đây chính là điều đã níu chân Miền lại.

Đến với văn chương như một khoảng trời tự do sáng tạo nhưng các nhà văn viết cho thiếu nhi luôn ý thức rõ những giới hạn không thể vượt qua. Những tác phẩm về đề tài xúc cảm giới tính vì thế vẫn trong trẻo và có tính giáo dục cao, như trường hợp tiểu thuyết Mong manh của Nguyễn Ngọc Tiến. Cậu học trò sơ tán tên Thanh quá đỗi ngạc nhiên trước sự dạn dĩ của Sen - cô bạn cùng lớp. Chở Sen trên chiếc xe đạp, Thanh căng thẳng vô cùng khi cảm nhận rõ ngực Sen áp sát vào lưng. Lần khác, khi cả lớp đang mò mẫm trong hầm để tránh bom thì có vòng tay con gái ôm người Thanh. Biết là Sen, Thanh đã nhẹ nhàng gỡ tay bạn. Không chỉ thế, Sen còn làm Thanh choáng váng khi tâm sự rằng: “Tớ muốn dành cái mà người ta gọi là quý nhất của đời con gái cho cậu vì tớ mến cậu”16. Đúng là Sen đã có những hành động, suy nghĩ lớn hơn tuổi, dạn dĩ hơn đặc tính của giới. Nhưng bạn đọc hoàn toàn cảm thông cho Sen khi biết rõ nguồn cơn. Sen đã tận mắt chứng kiến cái chết của Doan, người bạn thân tính tình ngoan ngoãn, dễ mến. Máy bay Mỹ ném bom. Ngực Doan bê bết máu. Sen ôm chặt bạn, ngất xỉu. Từ đó trở đi, tính tình Sen thay đổi. Nó trở nên mạnh mẽ hơn. Những gì nó dành cho Thanh có thể được hiểu như khát vọng sống gấp của một cô bé đang tuổi học trò nhưng sự sống và tương lai rất đỗi mong manh. Tính hiện thực về gương mặt chiến tranh cũng theo đó trở nên đậm nét.

Bằng cách tiếp cận trẻ từ góc nhìn xúc cảm giới tính như thế, các nhà văn hiện đại đã cho người đọc thấy rõ bức tranh tâm hồn sinh động của những cá thể nhí. Khi chúng chưa đủ khả năng cụ thể hóa, tường minh hóa những câu hỏi như: Yêu là gì? Chơi vợ chồng là gì?..., thì ngay lập tức, chúng hoặc bắt chước người lớn để thể hiện xúc cảm giới tính, hoặc làm theo sách vở. Những khi không bắt chước theo địa chỉ, những nhân vật trẻ con thực sự là chính mình với những suy nghĩ và hành động không giống ai. Thằng Ty (Tay chị, tay em - Nguyễn Thị Kim Hòa) từng thích đến bốn người. Năm ngoái nó thích nhỏ Hồng nhưng năm nay nhỏ Hồng đi nhổ răng, thằng Ty không thích những đứa con gái không có răng, nên giờ nó thích bạn Nhi. Kiểu cảm tình mưa bóng mây ấy giống hệt thằng Vũ trong tác phẩm cùng tên của Duyên Anh. Thằng Vũ từng “sôi réo” máu hiệp sĩ vì muốn trổ tài với “nàng công chúa Thúy”, từng nghiến răng “muốn sái quai hàm” khi nghe con Thúy kể đã từng chơi “vợ chồng” với thằng Đạo, từng mơ ước nắm tay bạn đi dạo trên cầu Bo, từng xấu hổ với Thúy về chuyện “vồ tiền lộc thánh”... Những ngày ngắn ngủi bỏ nhà đi “giang hồ”, nó luôn nhớ con Thúy và lạy trời cho mình thấy con Thúy trong mơ. Thế nhưng về sau, nó lại xem con Thúy như “cái con phù thủy rừng rậm Phi Châu”, cũng “đểu” như thằng bạn đáng ghét đã làm cho nó bị đuổi học. Nó trả thù con Thúy bằng những nét vẽ tưởng tượng, rằng trong cuộc đời giang hồ, nó sẽ vào làm đầy tớ cho gia đình có một đứa con gái trạc tuổi nó, đẹp gấp trăm lần con Thúy. Nó sẽ lấy con bé đó làm vợ, dẫn về ra mắt con Thúy. Lúc đó, con Thúy già nua, mặt rỗ, mắt toét, hôi nách, thối tai, đầu trọc, thậm chí còn lấy phải thằng chồng bán lạc rang. Không chỉ dừng lại đó, nó còn mơ ước con Thúy biến thành “con nhặng”. Như vậy, từ hiện tại đến tưởng tượng, thằng Vũ đều đã thể hiện một nhận thức khác, một thái độ khác về người mà trước đây, nếu chỉ được một chiều hò hẹn thì đó sẽ là “buổi chiều vàng” trong cuộc đời nó. Sự thay đổi đó không giống như nhỏ Thắm trong truyện Cây chuối non đi giày xanh của Nguyễn Nhật Ánh sau này. Thuở còn là “cây chuối non thơ bé”, Thắm vẫn vô tư cho Đăng luồn tay đỡ lấy bụng để tập bơi. Thế nhưng hai năm sau, nó đã biết ngượng ngập khi nghe Đăng hùng hồn tuyên bố lớn lên Đăng là chú rể còn nó là cô dâu. Những chuyển biến của nhỏ Thắm làm cho Đăng tự nhiên ghét lớn lên, bởi “khi đứa con gái lớn lên, nó biết xấu hổ. Khi đứa con gái xấu hổ, tình bạn giữa đưa con trai và đứa con gái có nguy cơ tan vỡ”.

Tạo ra những mảnh ghép “hình trái tim” thú vị như thế là một thành công đáng ghi nhận của văn xuôi thiếu nhi Việt Nam. Xét về tính linh hoạt của diễn ngôn và các thông tin về xúc cảm giới tính trẻ, văn học thiếu nhi Việt Nam thể hiện tính ưu việt và khác biệt của mình so với Tâm lý học. Điều đó mang đến những điều mới mẻ và nhân văn của văn chương với tư cách là diễn ngôn của giới, về giới. Tuy nhiên, vì muốn tạo một thế giới đối lập với tình yêu nhiều toan tính, dục vọng của người lớn, các tác giả thường đóng đinh nhân vật trong sự ngây thơ, trong sáng. Nhìn vào thực tiễn sáng tác của hai miền Nam, Bắc sẽ thấy ở miền Bắc ít tác phẩm viết về xúc cảm giới tính trẻ hơn miền Nam. Với mục đích cổ vũ kháng chiến, những tác phẩm văn xuôi thiếu nhi ở miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975 nếu có đề cập tới nội dung này thì chỉ sử dụng đó như một đòn bẩy để làm bật lên những phẩm chất mang tính sử thi của con người, của thời đại. Trong khi đó ở miền Nam, xúc cảm giới tính trở thành cảm hứng nghệ thuật chủ đạo trong nhiều tác phẩm. Có sự khác biệt như thế của văn học thiếu nhi hai miền Nam, Bắc tuy nhiên nhìn chung văn xuôi thiếu nhi cả nước vẫn chưa nhìn nhận đúng mức vai trò của đề tài xúc cảm giới tính trẻ. Các nhà văn một mặt vẫn chưa dỡ bỏ được định kiến xã hội về vấn đề xúc cảm giới tính trẻ, mặt khác là do cái khó của đề tài. Tình bạn - tình yêu, sự trong sáng - dung tục,... là những phạm trù rất mong manh về ranh giới. Để viết hay về xúc cảm giới tính trẻ đòi hỏi nhà văn phải có những tri thức về tâm lý lứa tuổi, phải có một nhân cách đẹp và năng lực tổ chức diễn ngôn theo nghĩa rộng của thuật ngữ này để giữ tác phẩm đứng vững trong “đường biên của những giới hạn”.

Thực tiễn này là định hướng sáng tác cho các nhà văn. Chúng ta cần nhiều hơn nữa những tác phẩm đào sâu vào thế giới tinh thần của trẻ chứ không dừng lại ở những miêu tả giản đơn, hời hợt. Tiếng nói về xúc cảm giới tính trẻ cũng phải đa thanh, đa sắc hơn, kể cả những tiếng nói trầm, tối. Làm được điều đó nghĩa là nhà văn đã tôn trọng sự thật tâm lý trẻ em và tôn trọng độc giả chính của mình. Viết cho thiếu nhi không có nghĩa là chúng ta đang viết cho trẻ con mà là đang viết cho một người đang lớn, đang hình thành nhân cách, tâm hồn. Nói như nhà văn Quế Hương, trẻ con không đơn giản như người lớn nghĩ về chúng, vì trẻ con sống cùng nhà, cùng hoàn cảnh, cùng thế giới đầy biến động của người lớn. Không cuộc đời nào giống cuộc đời nào, và trẻ con cũng thế, không trẻ nào giống trẻ nào. Có trẻ được no đủ, ấm êm, hồn nhiên nhưng cũng có trẻ đói khát, cô đơn, thương tổn, bất hạnh, già hơn tuổi. Văn học thiếu nhi, bất luận là khai thác đề tài nào thì cũng phải đúng tầm vóc của nó, phải đa dạng, phong phú như cuộc đời các em vậy. Tính đến hiện tại, chúng ta không có nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi như thế.

 

Tài liệu tham khảo

[1]  Duyên Anh (1967), Thằng Vũ, Búp bê, Gia Định.

[2]  Duyên Anh (1971), Tuổi mười ba, NXB Đồng Nai.

[3]  Nguyễn Nhật Ánh (2008), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[4]  Nguyễn Nhật Ánh (2011), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[5]  Nguyễn Nhật Ánh (2016), Ngày xưa có một chuyện tình, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[6]  Nguyễn Diệu Hoa (Chủ biên) (2011), Giáo trình Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Sư phạm.

[7]  Vũ Hùng (2015), Sống giữa bầy voi, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

[8]  Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

[9]  Lê Phương Liên (2016), Hoa dại, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

[10]  Lê Văn Nghĩa (2013), Mùa hè năm Petrus, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[11]  Nhiều tác giả (2014), Tuyển tập truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi tập 5, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[12]  Nhiều tác giả (2016), Những nụ hôn trên trán, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

[13]  Đỗ Bích Thúy (2013), Tết đến rồi, Em Béo ơi!, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

[14]  Trần Đức Tiến (2015), Trên đôi cánh chuồn chuồn, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

[15]  Nguyễn Ngọc Tiến (2016), Mong manh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

[16]  Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai (2011), Giáo trình Tâm lý học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm.

[17]  Bùi Cát Vũ (1994), Gió bụi Sài Gòn, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

Chú thích

1 TS, Khoa Giáo dục Mầm non, Đại học Sư phạm - Đại học Huế. Email: nguyenthanhtamtu@gmail.com

2 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

3 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

4 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

6 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

7 Phạm Minh Lăng (2000), S.Freud và phân tâm học, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

8 Nhiều tác giả (2016), Những nụ hôn trên trán, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

9 Nhiều tác giả (2016), Những nụ hôn trên trán, NXB Kim Đồng, Hà Nội.

10 Bùi Cát Vũ (1994), Gió bụi Sài Gòn, NXB Kim Đồng, Hà Nội.
11 Nguyễn Nhật Ánh (2011), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

12 Nguyễn Nhật Ánh (2008), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.
13 Lê Phương Liên (2016), Hoa dại, NXB Kim Đồng, Hà Nội
14 Nhiều tác giả (2014), Tuyển tập truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi tập 5, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

15 Nguyễn Nhật Ánh (2011), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

16 Nguyễn Ngọc Tiến (2016), Mong manh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Văn học và Giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tháng 10/2019.

 


Bài khác