Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
CHỦ NGHĨA NỮ QUYỀN VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC (LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TỪ MỘT TIẾNG NÓI KHÁC)

Nguyễn Việt Phương1

Tóm tắt: Chủ nghĩa nữ quyền với tính cách là một khuynh hướng triết học hình thành từ thực tiễn phong trào nữ quyền nửa sau thế kỷ XX đã nhanh chóng thâm nhập và không ngừng gia tăng ảnh hưởng trong đời sống học thuật ở châu Âu và Bắc Mỹ. Qua lăng kính giới, các học giả nữ quyền đã nhận ra một thực tế là hầu như mọi nghiên cứu về lịch sử triết học đang lưu hành đều là sản phẩm được tạo ra từ hình mẫu lấy nam giới/giống đực làm trung tâm, do đó không ngạc nhiên nó chứa đựng định kiến đối với nữ giới. Nhận thức ấy chính là tiền đề cho các nhà nghiên cứu nữ quyền khởi động dự án kiến tạo một lịch sử triết học mới với hai nhiệm vụ then chốt: phê bình và tái thiết.

Từ khóa: Chủ nghĩa nữ quyền, lịch sử triết học, trục chuẩn, định kiến giới

1. “Con người là một bí ẩn” - đại văn hào F.D. Dostoievski từng thốt lên như thế. Song, “tất thảy mọi sự bí ẩn của thế giới này đều không thể sánh nổi với sự bí ẩn của phụ nữ” (Vladimir Lobanok). Từ truyền thống tư tưởng phương Tây cho thấy, mỗi khi đề cập đến triết học thì mặc nhiên người ta thường liên tưởng đến một lĩnh vực tri thức thuộc đặc quyền của nam giới. Chỉ những gì thuộc về nam giới hoặc do nam giới nghĩ ra mới được xem là chuẩn mực, là thước đo duy nhất cho trình độ phát triển của tư tưởng nhân loại. Chịu ảnh hưởng của lối tư duy đó nên không ngạc nhiên khi sự hiện diện hay vắng mặt của phụ nữ trong lĩnh vực triết học không được người ta quan tâm và đặt thành vấn đề. Thực trạng ấy, suy đến cùng, là sự phản ánh địa vị xã hội của nữ giới trong tiến trình lịch sử.

Trên thực tế, trong truyền thống tư tưởng phương Tây, không phải không tìm thấy những triết luận về/của nữ giới, song phải thừa nhận rằng, đó chỉ là tiếng nói đơn lẻ thể hiện khát vọng của nữ giới muốn thoát khỏi tình cảnh bị đối xử bất bình đẳng. Phải đến thế kỷ XX, sự phát triển đến độ chín trên nhiều phương diện của xã hội phương Tây, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xã hội dịch vụ không chỉ vạch lộ rõ hơn những khiếm khuyết của tính hợp lý cổ điển (thường được công nhận là giá trị biểu trưng của nam giới/giống đực), mà còn đặt ra vấn đề cần phải nhận thức và phát huy những giá trị mới. Bối cảnh lịch sử đó đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa nữ quyền hiện đại. Trong khuôn khổ phát triển của chủ nghĩa nữ quyền như là một phong trào xã hội, quan điểm nữ quyền từng bước thâm nhập vào lĩnh vực học thuật.

Vào nửa sau thế kỷ XX, chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu bước chân vào cánh cửa của giới học thuật Tây Âu và Bắc Mỹ. Lúc này, người ta bắt đầu nói nhiều đến cái gọi là triết học nữ quyền (feminist philosophy) như là một nhánh của chủ nghĩa nữ quyền hàn lâm (academic feminism)2. Ngay từ khi xuất hiện, triết học nữ quyền đã trở thành một khuynh hướng lý thuyết thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu. Qua lăng kính giới, các nhà triết học nữ quyền đã đề xuất dự án phê phán đối với toàn bộ truyền thống triết học, tạo cơ sở cho mục tiêu đầy tham vọng là viết lại một lịch sử triết học mới. Họ hi vọng rằng, việc nhận thức lại lịch sử triết học có thể mở ra khả năng tìm thấy những điều bí mật đã bị che giấu. Charlotte Witt nhấn mạnh: “Các nhà nữ quyền đặt ra những vấn đề giới trong lịch sử triết học bởi họ quan tâm đến việc biến đổi địa vị của nữ giới về mặt chính trị, và muốn biết trong di sản truyền thống, cái gì có thể được cung cấp và cái gì gây cản trở cho dự án đó”3.

Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, nghiên cứu nữ quyền về lịch sử triết học đã phát triển nhanh chóng. Bằng cách này hay cách khác, hầu hết các nhà nữ quyền đều gặp nhau ở thái độ phê phán đối với truyền thống triết học phương Tây, trên cơ sở đó đề xuất ý tưởng về dự án kiến tạo một lịch sử triết học mới hoàn thiện và nhân văn hơn.

2. Xuất phát điểm của nghiên cứu nữ quyền về lịch sử triết học đó là chiến lược “đọc lại” (re-reading) cái gọi là “trục chuẩn triết học” (philosophical canon). Tiếp cận trục chuẩn triết học qua lăng kính giới, các nhà nữ quyền phát hiện thấy một thực trạng không mấy vui vẻ là dường như xuyên suốt lịch sử triết học vắng bóng nữ giới. Vậy đâu là nguyên do của thực tế đó? Có phải chăng phụ nữ không có khả năng sáng tạo triết học hay là họ bị gạt ra khỏi lịch sử?

Để trả lời những câu hỏi trên, các học giả nữ quyền đã xuất phát từ giả định rằng, một trong những nguyên nhân có thể giải thích cho việc không thừa nhận đóng góp của các nhà triết học nữ đối với lịch sử triết học, thậm chí có thái độ miệt thị đối với những đặc tính được “chỉ định, gán cho” nữ giới đó là lịch sử triết học được xây dựng theo khuôn mẫu lấy nam giới/giống đực làm trung tâm (androcentrism).

Những người ủng hộ chủ nghĩa nữ quyền vạch rõ, các văn bản ghi chép lịch sử triết học lưu hành phổ biến từ trước đến nay là không hoàn thiện khi đã “bỏ sót” (vô tình hay hữu ý?) các nhà triết học nữ và những đóng góp của họ. Họ nghi ngờ rằng, dường như đó là kết quả của cách tiếp cận mang định kiến về giới, mà hệ quả là các nhà triết học nữ đã bị loại trừ ra khỏi lịch sử triết học không phải do tư tưởng của họ kém giá trị, mà thuần túy chỉ là vấn đề giới tính (của họ) hoặc vì một lý do sâu xa, tế nhị nào đó (tác giả nhấn mạnh).4 Hẳn nhiên, có thể xem đó là lý do đủ thuyết phục để các học giả nữ quyền khởi hành chuyến khảo cổ học tri thức về lịch sử triết học nhằm mục đích chứng minh sự hiện diện có căn cứ (gắn liền với công lao thực sự) của các nhà triết học nữ.

Các nhà nghiên cứu nữ quyền còn tin rằng, truyền thống triết học từ trước đến nay đã phạm sai lầm về mặt khái niệm khi khẳng định những chuẩn mực vàng của lý tính đều mang giống đực. Theo dòng phê phán này, các nhà nữ quyền đã mở rộng ra đối với cả truyền thống triết học và tiến hành đánh giá lại (reevaluating) những giá trị của nó nhằm mục tiêu đưa vấn đề giới vào lĩnh vực triết học, đồng thời biến triết học thành một lĩnh vực “của chúng ta”5 (có sự đóng góp của cả hai giới), chứ không phải là “lãnh địa của đàn ông”.

Một cách tổng quát, quan điểm nữ quyền về lịch sử triết học thể hiện tập trung ở hai nội dung chủ yếu: Thứ nhất, phê phán “trục chuẩn triết học”; thứ hai, kiến tạo một quan điểm mới về lịch sử triết học.

Phê phán trục chuẩn triết học

“Trục chuẩn triết học” là thuật ngữ thường các học giả nữ quyền hiện đại sử dụng khi nghiên cứu về lịch sử triết học. Vậy “trục chuẩn triết học” là gì? Theo cách định nghĩa của Karen J. Warren, trục chuẩn triết học là thuật ngữ dùng để chỉ các nhà triết học, các tác phẩm triết học được giảng dạy phổ biến trong các trường đại học ở phương Tây6. Tùy vào từng ngữ cảnh khác nhau, các nhà nữ quyền sử dụng thuật ngữ này theo những nghĩa không giống nhau. Thông thường, trong những công trình nghiên cứu nữ quyền về lịch sử triết học, trục chuẩn triết học được đồng nhất với những nhà triết học vĩ đại và di sản triết học của họ. Sự mô tả của Karen J. Warren dưới đây có thể được xem là đáng tham khảo khi nghiên cứu về trục chuẩn triết học: Các nhà triết học tiền Socrates, trường phái Pythagoras, Socrates, Platon, Aristotle, Epicurus và phái Epicurus (Plotin), Augustine, Anselm, Abelard và Aquinas; (F. Bacon), Descartes, Hobbes, Spinoza, Leibniz, Locke, Berkeley, Hume, Rousseau và Kant; (Hegel, Schopenhauer, Nietzsche, Marx); Mill; (Frege, Heidegger và Whitehead); B. Russell và Wittgensteins; James (Peirce), Dewey; (Derrida, Sartre) và Quine7.

Nhìn vào danh sách này, không khó nhận ra các nhà triết học thuộc “trục chuẩn” đó đều là nam giới. Ở đây, cần lưu ý rằng, sự phê phán trục chuẩn triết học không phải phê phán trục chuẩn nói chung mà chính là phê phán những định kiến giới trong tư tưởng của các nhà triết học thuộc trục chuẩn ấy. Các học giả nữ quyền chỉ tập trung phê phán những quan điểm nào mà theo họ là thể hiện rõ thái độ kỳ thị phụ nữ. Cố nhiên, bất cứ các nhà triết học có thái độ kỳ thị ấy cũng bị kết tội là những “kẻ ghét phụ nữ” (misogynist).

Trong nhãn quan của chủ nghĩa nữ quyền, vấn đề giới tính của các nhà triết học có một ý nghĩa quan trọng có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng của họ. Vì vậy, các nhà nữ quyền đòi hỏi phải xem giới tính là phạm trù phân tích có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử triết học. Chúng ta có thể phân biệt hai khía cạnh chủ yếu của quá trình này, mặc dù trong nhiều trường hợp, hai khía cạnh này nảy sinh từ một dự án duy nhất. Khía cạnh thứ nhất của việc nhận thức tầm quan trọng của giới bao gồm sự liệt kê các nhà triết học trong lịch sử “có thái độ kỳ thị phụ nữ”. Khía cạnh thứ hai là khảo cứu lý thuyết của các nhà triết học kinh điển để từ đó khám phá những định kiến giới tiềm ẩn trong các lý thuyết “chuẩn” ấy. Khía cạnh sau không chỉ làm rõ những lý thuyết được cho là phổ biến và khách quan của một nhà triết học kinh điển bao giờ cũng hàm chứa yếu tố giới nhất định, mà còn đưa chúng ta đến việc nhận thức một vấn đề xa hơn đó là liệu những định kiến về giới trong các lý thuyết ấy là mang tính bản chất hay chỉ là những hiện tượng bên ngoài. Qua sự xem xét sự tiến hóa triết học và tư tưởng của các nhà triết học kinh điển trong dòng chảy chính thống, các nhà tư tưởng nữ quyền đã và đang thực hiện điều đó. Trong nội dung này, có lẽ sự phê phán nữ quyền đối với trục chuẩn triết học được thể hiện rõ nhất ở trường hợp Aristotle (384-322 TCN). Trong mắt của các học giả nữ quyền, Aristotle là một trong những nhà triết học có định kiến giới sâu sắc nhất lịch sử.

Họ thường xếp ông vào hàng những người có thái độ kỳ thị phụ nữ nên không quá ngạc nhiên khi Aristotle trở thành đối tượng của sự phê phán.

Khi nghiên cứu về triết học của Aristotle, các học giả nữ quyền nhận thấy mối liên hệ giữa mô thức với thực thể giống đực và chất thể với thực thể giống cái. Trong siêu hình học của Aristotle về các nguyên nhân của tồn tại, nguyên nhân mô thức giữ vị trí cao hơn và chi phối nguyên nhân chất thể. Theo kiến giải của các nhà nữ quyền, việc Aristotle đặt vấn đề giới tính vào bản thể luận cho thấy hàm ý của ông về trật tự tôn ti về giới.

Vậy, phải chăng học thuyết của Aristotle thực chất có chứa đựng định kiến với nữ giới hay không? Liệu có thể loại bỏ yếu tố giới tính mà không cần thay đổi học thuyết? Đó là những vấn đề được các nhà nghiên cứu nữ quyền quan tâm tìm lời giải đáp. Trong “Phụ nữ không phải là động vật có lý trí”, Lynda Lange nhấn mạnh, định kiến giới của Aristotle đã lan tỏa khắp mọi nơi trong siêu hình học của ông. Bà kết luận: “Hoàn toàn không rõ là liệu nó [học thuyết của Aristotle về sự khác biệt giới tính] có thể bị loại bỏ đi một cách đơn giản mà không cần đến bất kỳ một sự phản tư nào về tình trạng của một nền tảng triết học”8. Chia sẻ cách nhìn nhận như vậy, Elizabeth Spelman cho rằng, siêu hình học mang màu sắc chính trị của Aristotle được phản ánh trong quan niệm của ông về linh hồn, quan niệm mà đến lượt mình có thể được sử dụng đến xem xét sự lệ thuộc của nữ giới trong Chính trị luận. Và cuối cùng là sự phê phán của Susan Okin rằng, lý thuyết chức năng về hình thức được Aristotle xây dựng để hợp thức hóa trật tự chính trị hiện hành ở Athens, ở đó nữ giới phải cam chịu sự bất bình đẳng cũng giống như nô lệ. Nhận định trên của các học giả nữ quyền, theo chúng tôi, không phải là tùy tiện và thiếu cơ sở, rằng trong học thuyết của Aristotle ít hoặc nhiều chứa đựng những định kiến nhất định đối với nữ giới.

Tái kiến tạo một lịch sử triết học mới: “khôi phục” và “tuyển chọn”

Theo các nhà nghiên cứu nữ quyền, dự án kiến tạo một quan điểm lịch sử triết học mới thông qua việc “khôi phục” (recovery) hàm chứa một tham vọng lớn nhằm “trả lại” địa vị thích đáng trong lịch sử triết học cho các nhà triết học nữ. Với họ, đó là một dự án đặc biệt và triệt để.

Tính chất đặc biệt của dự án có thể được giải thích rằng, không có một trào lưu triết học đương đại nào đảm nhận công việc tương tự như thế. Tính chất triệt để là bởi việc khám phá ra các nhà triết học nữ trong lịch sử triết học sẽ phá tan mọi thành lũy của những huyền thoại do nam giới xây dựng nên để đảm bảo sự thống trị của mình9. Trong Lời dẫn cuốn Một lịch sử triết học phương Tây độc đáo, C.G. Warren viết: “Dự định cấu trúc lại lịch sử triết học liên quan đến việc khám phá lại tên tuổi, cuộc đời, tác phẩm và tư tưởng của các nhà triết học nữ từ thế kỷ VI tr.CN đến hiện tại. Nó đã ‘khai quật’ hàng trăm nhà triết học nữ phương Tây, những người sống và viết trong suốt 2600 năm qua”10.

Có thể nhận ra tham vọng lớn trong việc tái kiến tạo lịch sử triết học của các nhà nghiên cứu nữ quyền. Cố nhiên, khi đối mặt với một nhãn quan cấp tiến ấy, người ta không tránh khỏi ánh mắt hoài nghi hoặc mạnh mẽ hơn là sự phản đối quyết liệt từ phía những học giả có lập trường bảo thủ. Nhưng nói gì thì nói, một thực tế không thể phủ nhận là khi truy xét lịch sử triết học một cách kỹ lưỡng, các nhà nữ quyền đã “phát hiện” không ít nhà triết học là nữ giới đã bị bỏ quên, bất chấp những chứng cứ cho thấy họ có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành tư tưởng của các nhà triết học nam giới danh tiếng.

Trong bộ Lịch sử các nhà triết học nữ, Mary E. Waithe đã “khám phá” ra ít nhất 16 triết gia nữ trong thời cổ đại, 17 triết gia nữ trong khoảng thế kỷ XV-XVI, và hơn 30 triết gia nữ trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX11.

Gần đây, một công trình nghiên cứu khác cũng có tựa đề Lịch sử các nhà triết học nữ (của nhà xuất bản Arléa) đã “đưa ra ánh sáng” hàng loạt các nhà triết học nữ uyên bác và cũng không kém phần quyến rũ của thời kỳ cổ điển như Hypatia-Alexandrie, Diotima-socrates, Arete-cycenai, Nicarete-mégaric, Ipachia-khuyển nho, Teodora-tiêu dao, Léonxia-épicure, Temixtocléa-pitagoras...12 

Trong loạt công trình Kiến giải trục chuẩn triết học từ góc nhìn nữ quyền (gồm 14 cuốn) thì trong số các nhà triết học được đánh giá là chuẩn mực của triết học phương Tây có ba người mang giới tính nữ là Mary Wollstonecraft (1759-1797), Hannah Arendt (1906-1975) và Simone de Beauvoir (1908-1986) Tuyển tập Kiến giải triết học không chỉ đơn thuần dừng ở việc nhận thức lại tất cả những gì được xem là “khuôn vàng thước ngọc” của lịch sử triết học, mà hơn thế là nhằm thay đổi chính bản thân trục chuẩn ấy.

Rõ ràng, nhiệm vụ khôi phục vị thế của các nhà triết học nữ trong lịch sử triết học là cần thiết, nhưng không đơn giản, bởi lẽ thực hiện nhiệm vụ này vấp phải nghịch lý ngay cả với bản thân các nhà nữ quyền. Đó là một dự án nữ quyền, tuy nhiên người khởi xướng nó lại thường được người ta biết đến qua tuyên bố rằng nữ giới trở thành nhà triết học xuyên suốt lịch sử triết học bất chấp việc họ luôn bị người ta cố tình bỏ quên. Kiểu tuyên bố như thế quả thật đã mâu thuẫn với mục tiêu mà các nhà nữ quyền muốn đạt đến khi thực hiện dự án kiến tạo một quan điểm mới về lịch sử triết học.

Một căn cứ thú vị khác để các nhà nữ quyền bảo vệ lập trường bình đẳng giới trong quan điểm lịch sử triết học đó là các nhà triết học nữ có mối bận tâm đến các lĩnh vực của triết học là không thua kém so với các đồng nghiệp nam giới, mặc dù phạm vi ứng dụng có thể khác biệt. Trong cuốn lịch sử triết học của mình, Mary E. Waithe khẳng định rõ, nếu không tính đến những người phụ nữ thuộc trường phái Pythagoras, chúng ta có thể thấy rằng có rất ít sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc nghiên cứu triết học. Cả hai giới đều quan tâm nghiên cứu về đạo đức học, siêu hình học, vũ trụ học, tri thức học và nhiều lĩnh vực nghiên cứu triết học khác nữa13.

Tuy các nhà tư tưởng nữ quyền đều tham gia vào việc xác lập lại trục chuẩn triết học, song phương pháp mà họ sử dụng lại không giống nhau. Riêng ở phương diện này, Mary Warnock từng thú nhận “không thể tìm thấy được tiếng nói chung nào từ các nhà triết học nữ”14. Thật vậy, các triết gia nữ tích cực tham gia tái thiết hệ chuẩn triết học như Wollstonecraft, Hannah Arendt và Beauvoir biểu hiện ra như là những người phát ngôn theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, như mô tả của Elizabeth Young-Bruehl thì mặc dù Wollstonecraft và Beauvoir đều là những nhà triết học nữ quyền, song họ lại không “gặp nhau” cả về những tuyên bố triết học cũng như về nguyên lý triết học. Nếu như trong Biện minh cho quyền của phụ nữ, Wollstonecraft dựa vào những nguyên lý về nhân quyền tự nhiên của thời Khai Sáng để khẳng định về quyền được giáo dục của phụ nữ, thì trong Giới tính thứ hai, Beauvoir trình bày những quan điểm nữ quyền của bà dựa trên cơ sở lý luận mácxít và chủ nghĩa hiện sinh.

Tính đa dạng trong kiến giải của các nhà nữ quyền đã làm nảy sinh câu hỏi là tại sao phục hồi và thẩm định lại vị trí, vai trò và giá trị của các nhà triết học nữ trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử triết học? Phục hồi vị thế của các nhà triết học nữ và đưa họ vào trục chuẩn triết học trong lịch sử được thực hiện là nhằm thách đố những huyền thoại, hay đúng hơn là thách thức định kiến thâm căn muốn loại bỏ phụ nữ ra khỏi triết học. Các nhà triết học nữ quyền cho rằng, chúng ta đều có thể trở thành những người yêu mến sự thông thái, và mọi người đều hưởng được lợi ích từ việc khắc phục những niềm tin sai lầm. Tuy nhiên, chúng ta quan tâm đến việc khắc phục những hệ quả của sự phân biệt đối xử đối với các nhà triết học nữ, những người bị loại bỏ khỏi lịch sử một cách không công bằng do bởi giới tính của họ chứ không phải bởi giá trị của những tư tưởng triết học mà họ sáng tạo.

Quá trình “truy tìm” các nhà triết học nữ trong lịch sử còn làm nảy sinh vấn đề cam go khác: bằng cách nào để các nhà triết học nữ có thể được “chèn” vào lịch sử triết học và hơn thế trở thành một phần không thể thiếu trong dòng chảy lịch sử ấy? Trong một công trình gần đây, khi nghiên cứu về các nhà triết học nữ trong giai đoạn đầu của thời cận hiện đại và khai sáng, Lisa Shapiro cho rằng, đưa vào lịch sử triết học một hay hai nhà triết học nữ không đơn giản như người ta nghĩ, mà là một việc rất phức tạp và khó khăn. Bởi lẽ, Shapiro nhấn mạnh khi làm điều đó chúng ta cần phải cung cấp những lý do đủ sức thuyết phục để lý giải vì sao nhà triết học đó lại được đưa vào “bảng vàng” chứ không thể tùy tiện dựa trên ý chí của bất cứ một cá nhân nào. Với Shapiro, lịch sử triết học giống như một câu chuyện vậy. Chúng ta cần phải tìm kiếm những cách thức và lý do để bổ sung vào câu chuyện đó những nhân vật nữ15. Nhằm thực hiện được điều đó, người ta đã đề xuất phương án giải thích vấn đề các nhà triết học nữ có những đóng góp quan trọng vào các vấn đề trung tâm của di sản triết học nhân loại vốn được xem là sở thuộc của nam giới. Họ gọi đây là cách tiếp cận “nữ nhân vật phụ tuyệt vời nhất”. Sở dĩ có tên gọi này là bởi vì lịch sử triết học được ví như một câu chuyện mà những nhân vật tham gia chính là các nhà triết học. Từ cách tiếp cận trên thì trong câu chuyện, nhân vật chính vẫn là nam giới, và vì vậy sẽ không có thay đổi gì đáng kể về mặt cốt truyện. Theo đó, triết học vẫn là địa hạt mà nam giới giữ vai trò là ông chủ, là “kép chính”, còn nữ giới là kẻ phục tùng, là “kép phụ”. Theo đánh giá của Charlotte Witt, phương thức tái thiết này của dự án nữ quyền về lịch sử triết học có những điểm hợp lý bởi: thứ nhất, nó tương đối dễ thực hiện, đồng thời tìm được “vị trí thích hợp” để đưa các nhà triết học nữ vào trong lịch sử triết học mà không phải đối mặt với những phản ứng từ phía các nhà triết học nam giới. Xét ở mức độ nhất định, có thể nhận ra hạn chế của cách tiếp cận này là nó đã củng cố địa vị “hạng hai” của các nhà triết học nữ, song cũng không thể phủ nhận rằng, đây là một phương án khả dĩ tạo ra sự hòa hợp trong mối quan hệ giữa các nhà triết học thuộc cả hai giới tính. Để luận chứng cho quan điểm của mình, Charlotte Witt xem tư tưởng của Simone de Beauvoir đơn thuần chỉ là sự ứng dụng tư tưởng hiện sinh của Jean-Paul Sartre và nhấn mạnh rằng, đó là một ví dụ rõ ràng cho thấy hạn chế của phương thức này. Ở đây, theo thiển ý của chúng tôi, kiểu nhìn của Witt là không thỏa đáng và thiếu thuyết phục.16 Kiểu nhìn ấy không chỉ đào sâu thêm định kiến giới (thừa nhận vai trò thứ cấp và tùy thuộc của Beauvoir trong mối quan hệ học thuật với Sartre), mà đồng thời còn cổ vũ cho một lối nhận thức lệch lạc về tính nguyên bản của triết học Beauvoir.17 

Chúng ta dễ dàng tìm thấy trong tác phẩm của các nhà nghiên cứu nữ quyền những ý tưởng mà họ đã tiếp thu và phát triển từ các nhà triết học trước đó. Shapiro thừa nhận, có những vấn đề triết học liên quan đến lý trí, bản tính nữ, và sự giáo dục của nữ giới mà các nhà triết học thế kỷ XVII đã bàn đến thì giờ đây được tiếp tục luận giải theo những dạng thức mới. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được bởi lẽ triết học chính là bản thân lịch sử triết học. Có thể thấy, các nhà nữ quyền khi nghiên cứu về lịch sử triết học cũng đã nhìn thấy được sợi chỉ đỏ xuyên suốt của hệ vấn đề liên quan đến nữ giới.

Không chỉ giới hạn trong việc khôi phục vị thế của các nhà triết học nữ, dự án tái kiến tạo lịch sử triết học còn dựa trên cơ sở của việc “tuyển chọn” (selection) những “hạt nhân hợp lý” trong tư tưởng của các nhà triết học vĩ đại. Đây chính là điểm đặc sắc cho thấy các học giả nữ quyền không phải là những người cực đoan, phiến diện trong thái độ ứng xử với triết học truyền thống.

Như vậy, xuất phát từ những cách kiến giải mang tính phủ định về trục chuẩn triết học, chủ nghĩa nữ quyền đã xem lịch sử triết học, suy đến cùng, là lịch sử nhận thức thiên lệch về nữ giới.

Ở một cách tiếp cận tích cực hơn, các nhà nữ quyền cũng thấy được trong lịch sử ấy yếu tố hợp lý có thể phục vụ cho dự án tái thiết của mình. Quả thật, các tác gia nữ quyền đã khám phá những hạt giống rất có giá trị, thậm chí ngay trong tư tưởng của các nhà triết học bị kết tội là “những kẻ kỳ thị phụ nữ” như Aristotle, Descartes... Trong Sự mong manh của Cái Thiện, Martha Nussbaum đã chú giải khái niệm đức hạnh trong đạo đức học của Aristotle qua việc nhấn mạnh tầm quan trọng của hoàn cảnh, xúc cảm, tình thân, mối quan tâm đến người khác... Khi xem xét trường hợp Descartes, Margaret Atherton cho rằng, triết học của Descartes được các nhà triết học thế kỷ XVII-XVIII kiến giải trong ngôn từ trung tính hơn là bằng ngôn từ thiên về giống đực.

Các nhà nghiên cứu nữ quyền cũng kiến giải lại một cách tích cực và cởi mở đối với tư tưởng của một số nhà triết học danh tiếng chẳng hạn như David Hume, John Dewey..., để chứng minh rằng các nhà triết học này không đơn thuần chỉ được nghiên cứu từ góc nhìn phủ định. Trong trường hợp của David Hume, Annette Baier tìm thấy những giá trị phù hợp với tư tưởng nữ quyền trong nhận thức luận và đạo đức học của Hume. Gần đây, trong Chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa nữ quyền 18, Charlene H. Seigfried lại thấy được những điểm tương thích hiếm hoi giữa chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa nữ quyền. Quan điểm này đã được Richard Rorty đưa ra trước đó trong loạt bài giảng tại Đại học Michigan19.

Di sản tư tưởng của các nhà triết học vĩ đại bị quy tội “kỳ thị phụ nữ” trong lịch sử cũng được các học giả nữ quyền “gạn đục khơi trong” để chắt lọc những yếu tố có lợi cho chiến lược của mình. Điều đó phần nào cho thấy tính chất phức tạp của dự án tái thiết lịch sử triết học của chủ nghĩa nữ quyền. Việc đánh giá khác nhau của các nhà nghiên cứu nữ quyền về di sản lịch sử triết học trên thực tế đã tạo ra những nan đề về tính thiếu nhất quán của toàn bộ chiến lược đầy tham vọng mà họ đang theo đuổi. Nhấn mạnh đặc điểm này để nhận diện rõ một thực tế là dự án thiết lập một lịch sử triết học mới từ điểm nhìn nữ quyền không thể hoàn thành trong ngày một ngày hai bởi quá nhiều rào cản phải đối diện, quá nhiều khó khăn phải vượt qua, quá nhiều rủi ro phải chấp nhận.

Những bất đồng nảy sinh trong quá trình xem xét giá trị của lịch sử triết học đối với chủ nghĩa nữ quyền đã thổi bùng cuộc tranh luận sôi nổi liên quan đến vấn đề phương pháp luận nghiên cứu lịch sử triết học. Liệu chủ nghĩa nữ quyền có thể sử dụng lịch sử triết học như là một cơ sở lý luận của mình như các trào lưu triết học đương đại khác hay không? Việc giải đáp câu hỏi này sẽ cung cấp một cái nhìn về những cách thức “đọc” khác nhau mà các nhà tư tưởng nữ quyền sử dụng khi nghiên cứu lịch sử triết học.

Trong “Tư tưởng nữ quyền và quan điểm nghiên cứu về triết học cổ đại”, Cynthia A. Freeland đã phản đối quan điểm cho rằng, các nhà nữ quyền nên khai thác những “hạt nhân khả dụng” trong di sản triết học giống như cách mà các trào lưu triết học đương đại khác đã làm, tức mang tính thụ nhận. Theo Freeland, cách tiếp cận nữ quyền mang tính thụ nhận đối với lịch sử triết học là một phương án “áp bức về mặt chính trị” và “lệch lạc về mặt nhận thức”. Sở dĩ gọi là “áp bức về mặt chính trị”, Freeland viết tiếp, vì nếu các nhà nữ quyền nhìn truyền thống triết học như là nguồn tư tưởng có thể phục vụ cho dự án của mình thì khi ấy họ đã bị đẩy vào một hành vi áp bức tiềm tàng bởi lịch sử triết học là một kho tàng chất đầy những quan niệm, những học thuyết [có lẽ] áp bức đối với nữ giới ngày nay. Còn “lệch lạc về mặt nhận thức” là bởi vì cách tiếp cận này thể hiện thái độ sùng kính thái quá đối với truyền thống, do vậy khó có thể đưa ra một sự phê phán đúng mức về nó. Sự sùng kính không phải là đức tính nên đề cao trong nghiên cứu lịch sử triết học. Freeland cho rằng, những người thụ nhận có khuynh hướng sử dụng các chuẩn mực truyền thống trong kiến giải lịch sử (chẳng hạn như nguyên tắc khoan dung) để tìm kiếm những điểm thích hợp với mình trong lịch sử triết học. Theo chiều hướng tư duy ấy thì hóa ra toàn bộ các chuẩn mực mà các nhà nghiên cứu trước đến nay thường dùng trong nghiên cứu lịch sử triết học có lẽ đều là “không khoan dung” và “sai trái”. Theo quan điểm của Freeland, cần phải tiến hành phê phán một cách nghiêm túc truyền thống ấy. Điều đó đòi hỏi các nhà tư tưởng nữ quyền khi nghiên cứu về lịch sử triết học phải hoàn toàn tách khỏi các quy tắc truyền thống bởi vì bản thân những quy tắc ấy có thể làm gia tăng sự sùng kính và áp bức.

Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, nghiên cứu nữ quyền về lịch sử triết học còn tìm cách sử dụng thông diễn học (hermeneutics) với tư cách một phương pháp luận nghiên cứu lịch sử triết học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thăm dò, làm triển hiện những hàm nghĩa nữ quyền sâu xa trong di sản triết học. Trong Thông diễn học và triết học nữ quyền, đã cho rằng, “các học giả nữ quyền sử dụng phương pháp thông diễn để tiếp cận tư tưởng của các nhà triết học nữ và/hoặc các tác gia nữ quyền trong quá khứ. Những nghiên cứu theo hướng này không chỉ làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về các chủ đề triết học quan trọng (bình đẳng, tự do, đạo hạnh, tự trị, cá tính,...), mà còn góp phần đánh giá lại nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học.20 Bằng phương pháp thông diễn học, các nhà nữ quyền đã tiến hành một chiến lược rầm rộ với mục tiêu đọc lại các tác gia, tác phẩm triết học kinh điển từ quá khứ đến đương đại. Bộ Re-reading the Canon vô cùng bề thế của nhà xuất bản Penn State University trong đó quy tụ hầu hết các học giả nữ quyền đương đại cho thấy thái độ nghiêm túc của chủ nghĩa nữ quyền đối với việc tìm kiếm những triển vọng mới từ lịch sử triết học.

3. Qua lăng kính giới, các nhà nghiên cứu nữ quyền đã mang đến những kiến giải khác nhau về lịch sử triết học. Tuy vẫn còn nhiều ý kiến đa chiều, cũng không ít vấn đề cần phải tiếp tục tranh luận liên quan đến quan điểm lịch sử triết học của chủ nghĩa nữ quyền, nhưng không thể phủ nhận rằng, dự án đầy tham vọng nhằm tái kiến tạo một lịch sử triết học mới của chủ nghĩa nữ quyền thể hiện những khía cạnh tích cực, góp phần “làm mới” lịch sử triết học. Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin mượn nhận định đáng suy ngẫm của nhà triết học Umberto Eco (1932-2016) rằng: “Một sách giáo khoa triết học tốt phải kể các nhà huyền học nữ trong số các nhân vật của lịch sử tư tưởng... những người mà về phương diện thị kiến siêu hình học và cảnh sắc về cái vô hạn khiến chúng ta vẫn sững sờ hôm nay”21.

Tài liệu tham khảo

[1]  Alanen L., Witt C. eds (2004), Feminist Reflections On the history of philosophy, Dordrecht: Kluwer Academic Publishers.

[2]  Eco, Umberto (2004), Đi tìm sự thật biết cười, bản dịch của Vũ Ngọc Thăng, Nxb. Hội Nhà văn - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

[3]  Ferguson, Ann (1994), “Twenty years of feminist philosophy”, Hypatia, Vol.9, No.3 (Summer), pp.197-215.

[4]  Sara Heinämaa, “Hermeneutics and Feminist Philosophy”, in Niall Keane and Chris Lawn, The Blackwell Companion to Hermeneutics, UK: John Wiley & Sons, Inc, 2016, p.557-572.

[5]  Nguyễn Việt Phương (2015), “Quá trình hàn lâm hóa của chủ nghĩa nữ quyền ở Mỹ: Một chặng đường đầy chông gai”, Châu Mỹ ngày nay, 10 (211), tr.35-41.

[6]  Rorty, Richard (1990), “Feminism and Pragmatism”, Lectures on Human Values at University of Michigan, December 7.

[8]  Seigfried, C.H. (1996), Pragmatism and Feminism, The University of Chicago Press, Chicago.

[9]  Superson, A. (2011), “Strategies for Making Feminist Philosophy Mainstream Philosophy”,

Hypatia, Vol.26, No.2 (Spring), pp.410-418.

[10]  Warren, K.J. (2009), An Unconventional history of western philosophy, Rowman & Littlefield

Publishers, Inc, USA.

[11]  Witt, Charlotte (2006), “Feminist interpretations of the philosophical canon”, Sign, 31(2), pp.537-552.

 

Chú thích

1 TS, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Email: phuongdhkh@gmail.com
2 Để rõ hơn về quá trình thâm nhập của chủ nghĩa nữ quyền vào hệ thống hàn lâm, xin tham khảo thêm: Nguyễn Việt Phương, “Quá trình hàn lâm hóa của chủ nghĩa nữ quyền ở Mỹ: Một chặng đường đầy chông gai”, Châu Mỹ ngày nay, 10 (211), tr.35-41.

3 Charlotte Witt, “Feminist interpretations of the philosophical canon”, Sign, 31(2), 2006, pp. 545.
4 Nhà triết học Umberto Eco từng nói đến điều này bằng những dòng sau: “Không phải không có phụ nữ làm triết học. Thật ra, các bậc triết gia nam tử đã muốn quên các bà đi có thể sau khi chiếm hữu tư tưởng của các bà”. Xem: Umberto Eco, “Triết lý kiểu phụ nữ”, trong Đi tìm sự thật biết cười, bản dịch của Vũ Ngọc Thăng, Nxb. Hội nhà văn - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2004, tr.282.

5 Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Feminist Reflections On the History of Philosophy, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht, 2004, p.2.

6 K.J. Warren, An Unconventional History of Western Philosophy, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, USA, 2009, p.5.

7 K.J. Warren, Ibid, p.6.

8 Xem: Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Feminist Reflections On the history of philosophy, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht, 2004, p.4.
9 Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Ibid, p.8-9.
10 Karen J. Warren, An Unconventional history of western philosophy, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, USA, 2009, p.1.

11 Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Ibid, 2004, p.xiii.
12 Dẫn theo: Umberto Eco, “Triết lý kiểu phụ nữ”, trong Đi tìm sự thật biết cười, bản dịch của Vũ Ngọc Thăng, Nxb. Hội nhà văn - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2004, tr.281-282.
13 See: Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Feminist Reflections On the history of philosophy, Kluwer Academic Publishers, Dordrecht, 2004, p.9.
14 Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Ibid, 2004, p.9.

15 Xem: Lisa Shapiro, “Some Thoughts on the Place of Women in Early Modern Philosophy”, in Lilli Alanen, Charlotte Witt eds, Ibid, 2004, pp.221, 222.

16 Không phủ nhận rằng giữa Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir có một mối quan hệ tình cảm vô cùng đẹp đẽ nhưng cũng vô cùng kỳ lạ: nguyện cùng sống và cùng làm việc với nhau cả cuộc đời, kể cả khi chết cũng được chôn cạnh nhau, nhưng không tiến đến hôn nhân, ràng buộc nhau. Cùng với mối quan hệ tình cảm, giữa họ còn có sự kết nối về tư tưởng. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, về mặt học thuật, mối quan hệ giữa Sartre và Beauvoir là mối quan hệ tương quan, nghĩa là ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau. Sự phát triển tư tưởng của họ diễn ra độc lập với nhau chứ không hẳn như một số nhận định cho rằng Beauvoir chỉ là bản sao tu tưởng của Sartre, Đạo đức học của sự nhập nhằng là bản sao của Hữu thể và Hư vô. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu nói đến ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư tưởng của Beauvoir, có lẽ hiện tượng học của Hegel (biện chứng Chủ - Tớ) và hiện tượng học của Edmund Husserl là đáng kể hơn so với Sartre. Còn về năng lực triết học của cặp tình nhân này, chúng tôi rất tâm đắc với nhận định của giáo sư André Lalande rằng, “Sartre có đầu óc xuất chúng, nhưng Beauvoir mới là nhà triết học xuất chúng”.

17 Kiểu nhìn của Charlotte Witt gợi chúng tôi nhớ đến một thuật ngữ đầy thú vị “phức cảm Héloïse” (Héloïse complex) được Michèle Le Dœuff đề xuất trong “Women and Philosophy” (1977) để giải thích tại sao ngay cả một số ít phụ nữ tầng lớp trên trong quá khứ có khao khát khẳng định năng lực triết học của mình, song luôn bị ngăn cản trở thành triết gia. Phức cảm Héloïse - một loại hình phức cảm dựa trên nguyên mẫu nàng Héloïse d’Argenteuil - một nhân vật có thật trong lịch sử, cô học trò nhỏ - người tình của nhà triết học kinh viện thời Trung cổ Peter Abelard. Trong nghiên cứu này, Le đã nhận thấy một quá trình “chuyển hóa tình - lý” (erotico-theorical transference) diễn ra giữa cô nữ sinh xinh đẹp (người thường xuyên nhưng không phải bao giờ cũng sắm vai người tình của nhà triết học) và nhà triết học nam giới.

18 Xem: Charlene H. Seigfried, Pragmatism and Feminism, The University of Chicago Press, Chicago, 1996.
19 Xem: Richard Rorty, “Feminism and Pragmatism”, Lectures on Human Values at University of Michigan, December 7, 1990.

20 Xem thêm: Sara Heinämaa, “Hermeneutics and Feminist Philosophy”, in Niall Keane and Chris Lawn, The Blackwell Companion to Hermeneutics, UK: John Wiley & Sons, Inc, 2016, p.558.
21 Umberto Eco, “Triết lý kiểu phụ nữ”, trong Đi tìm sự thật biết cười, bản dịch của Vũ Ngọc Thăng, Nxb. Hội nhà văn - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2004, tr.279-280.

----

Bài viết được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Văn học và Giới, khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/2019.


Bài khác