Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TRÍ TUỆ CỦA NHÂN VẬT QUÂN SƯ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC QUA "TAM QUỐC DIỄN NGHĨA", "ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC" VÀ "THỦY HỬ"

Tóm tắt : Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Đông Chu liệt quốc (Phùng Mộng Long) và Thủy hử (Thi Nại Am) là những bộ tiểu thuyết rất nổi tiếng trong kho tàng văn học đồ sộ của đất nước Trung Quốc. Trong đó, Tam quốc diễn nghĩa và Đông Chu liệt quốc có thể xem như hai trong số các bộ tiểu thuyết viết về chiến tranh hay nhất trên thế giới. Bên cạnh giá trị lịch sử, giá trị văn học của các tiểu thuyết này cũng được đánh giá rất cao. Đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Với bút pháp độc đáo, kỳ ảo và đầy biến hóa, các tiểu thuyết này đã tái hiện và xây dựng nên hàng loạt nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa. Nhất là kiểu nhân vật quân sư với rất nhiều tên tuổi lớn theo từng thời kỳ như Tôn Tử, Tôn Tẫn, Quản Trọng, Khổng Minh, Chu Du, Tư Mã Ý, Ngô Dụng… Họ biểu trưng cho trí tuệ của người Trung Quốc cổ xưa – một dân tộc thiện chiến và hùng mạnh bậc nhất thế giới. Thông qua ba bộ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc và Thủy hử, đề tài này hướng đến việc nghiên cứu một cách thấu đáo hơn trí tuệ của hình tượng nhân vật quân sư trong tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc.

Từ khóa : Tam Quốc Diễn Nghĩa, Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, quân sư, tiểu thuyết, Tôn Tử, Khổng Minh

1. MỞ ĐẦU.

Văn học Trung Quốc là một trong những nền văn học vĩ đại nhất trên thế giới. Song song với việc là một trong hai nền văn minh xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người, văn học Trung Quốc cũng hình thành ngay từ thuở sơ khai của dân tộc. Từ thời cổ đại cho đến hiện đại, trải qua biết bao nhiêu triều đại phong kiến, nền văn học của đất nước nằm này cũng thay đổi không biết bao nhiêu lần. Từ Kinh thi, Sở từ, Tản văn, Đường thi,...của thời cổ và trung đại cho đến truyện ngắn, tiểu thuyết, kinh kịch... của thời hiện đại, thể loại nào cũng để lại dấu ấn sâu đậm trong dòng chảy lịch sử với hàng loạt tác phẩm xuất sắc. Đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết, với đỉnh cao là dòng tiểu thuyết chương hồi trứ danh thời kỳ Minh – Thanh, văn học Trung Quốc lúc bấy giờ đã tạo nên một giai đoạn vàng son rực rỡ.

Tiểu thuyết lịch sử cũng là một thành công đặc biệt của dòng tiểu thuyết chương hồi.  Có thể kể đến những tác phẩm thuộc dạng này như Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc, Thủy hử, Hán – Sở tranh hùng, Nhạc Phi diễn nghĩa, Phản Đường diễn nghĩa...Vì ra đời và đã đạt đến độ hoàn chỉnh về cả nội dung và nghệ thuật, các tiểu thuyết dạng này được gọi chung là tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa.

Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốcThủy hử được xem như những bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng nhất trong suốt chiều dài lịch sử văn học Trung Quốc. Thành công lớn nhất của các tác phẩm này nằm ở việc tái hiện những thời kỳ có thật trong quá khứ với biết bao biến cố, thăng trầm ở xã hội đương thời. Đặc biệt, với nghệ thuật xây dựng nhân vật tài tình, các tác giả của những tiểu thuyết này đã xây dựng và khắc họa rất thành công hàng loạt nhân vật nổi danh trong lịch sử. Bước vào địa hạt của văn chương, các nhân vật này khoác lên mình “chiếc áo” của phần nào sự hư cấu, tô vẽ thêm của nhà văn. Tuy nhiên, điều đó cũng không thể phủ nhận giá trị riêng biệt mà tự thân mỗi nhân vật đã sở hữu.

Với kiểu nhân vật quân sư, các tác giả thường không quá tập trung khắc họa nhân vật thông qua hình dáng bên ngoài mà thường chú trọng việc miêu tả cử chỉ, hành động và lời nói. Điều này có liên quan mật thiết đến những đặc điểm rất riêng mà chỉ quân sư mới có, từ đó tạo nên sự khác biệt rõ nét giữa quân sư với các kiểu nhân vật khác. Và tất cả những đặc điểm ấy đều tập trung thể hiện trí tuệ hơn người của họ.

2. NỘI DUNG

Quân sư là hình tượng biểu tượng cho trí tuệ của người Trung Hoa cổ xưa. Trong thời đại mà chiến tranh giữa các phe phái nổ ra liên miên, thời gian dành cho hòa bình rất ít mà thay vào đó là những âm mưu, thù hằn len lỏi vào tận sâu trong gốc rễ, đến từng mối quan hệ của một đất nước, quân sư là kiểu người có thể định đoạt số phận của cả một phe phái, một đất nước chỉ qua một trận đánh. Với kiểu nhân vật này, ta có thể khái quát qua một chữ “trí”.

Trí ở đây là gì? Nghĩa gốc của nó chính là trí tuệ của con người. Ngoài ra nó còn ám chỉ việc thực hiện công việc, hành động một cách có tính toán, suy nghĩ trước sau. Dưới hành động, lời nói của các quân sư, việc sử dụng trí tuệ đã trở thành một nghệ thuật chứ không còn đơn thuần là việc nghĩ suy thông thường. Trí tuệ đó thể hiện trong chiến tranh, chính trị và cả cuộc sống.

2.1. Trí tuệ thể hiện trong chiến tranh.

Trong chiến tranh, việc có được một quân sư xuất sắc xem như đã chiếm hơn một nửa tỷ lệ chiến thắng cho phe sở hữu. Trí tuệ tuyệt đỉnh về mặt quân sự giúp quân sư đưa ra những phương án, chiến thuật hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế chiến trận. Ở đây, tài năng của quân sư thể hiện rõ rệt nhất ở hai mảng chính là mưu kế và binh pháp. Đây chính là hai yếu tố quan trọng nhất trong chiến tranh, góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng hay thất bại cho toàn quân. Một đội quân có thể ít về mặt số lượng, lính tráng không tinh nhuệ nhưng nếu có một kế hoạch hợp lý, biết mình biết ta và sử dụng thành thạo các mưu kế thì có thể xoay chuyển thế cục theo chiều có lợi.

Trong Thủy Hử, chỉ với bảy người, Ngô Dụng đã đánh thắng cả một đoàn quân áp tải cống phẩm  do Thanh Diện Thú Dương Chí dẫn đầu. Chương này là một trong những đoạn hay nhất mà Thi Nại Am viết về tài năng của quân sư Ngô Dụng. Với việc dùng mưu kế “Dĩ dật đãi lao” (lấy an nhàn đối phó mệt mỏi) và kế “Kim thiền thoát xác” (ve sầu lột xác, dùng bộ dạng mới khiến địch bất ngờ không kịp trở tay), Ngô Dụng đã lãnh đạo sáu người còn lại là Tiều Cái, Lưu Đường, Bạch Thắng và ba anh em họ Nguyễn cướp được mười vạn kim ngân do Dương Chí áp tải mà không tốn một chút sức lực nào. Bút pháp miêu tả xuất thần, cùng với đó là lối đối thoại đậm chất “giang hồ” của các nhân vật được nhà văn xây dựng một cách dụng công đã tạo nên một trong những chương truyện hay nhất trong toàn bộ tiểu thuyết.

Trong Tam quốc diễn nghĩa, Gia Cát Lượng cũng đã rất nhiều lần sử dụng mưu kế để vận dụng vào thực tiễn chiến đấu. Một số mưu kế mà nhân vật này sử dụng đã trở thành giai thoại sau này. Chẳng hạn như “Không thành kế” nổi tiếng mà Khổng Minh đã sử dụng trong lần giao đấu với Tư Mã Ý – quân sư phe Ngụy. Lúc này, sau khi Mã Tốc để mất Nhai Đình, Gia Cát Lượng về Tây thành, trong thành khoảng hai nghìn quan văn, cùng Quan Hưng vào năm trăm lính kị mã. Tư Mã Ý mang mười lăm vạn đại quân đuổi đến nơi, Khổng Minh không những không triển khai quân đối phó mà còn mở cổng thành, có ý mời quan quân Tư Mã Ý vào thành. Còn mình thì ngồi trên thành, gảy đàn rất bình thản. Tư Mã Ý đến nơi, thấy vậy liền sinh nghi, không dám tiến vào thành vì sợ trong thành có bẫy. Tư Mã Ý nghe tiếng đàn của Gia Cát Lượng, thấy được sự bình thản trong con người ông, càng thêm lo sợ và quyết định rút lui. Sau đó Quan Hưng cùng năm trăm lính phục kích hò reo làm cho Tư Mã Ý sợ có nghi binh nên bỏ chạy. Sau này khi biết được trong thành chỉ có vài trăm binh sĩ già yếu, mà một mình Gia Cát Lượng có thể đẩy lui được đại quân của mình, Tư Mã Ý rất khâm phục và cho rằng mình còn kém tài ông rất nhiều. Điểm kỳ diệu ở “Không thành kế” ở chỗ lấy ít thắng nhiều, biến không có thành có, biến ảo khó lường. Gia Cát Lượng đã đánh vào tính đa nghi và cẩn thận quá mức của Tư Mã Ý mà từ đó đuổi được quân địch. Đỉnh cao trí tuệ của Khổng Minh được La Quán Trung thể hiện rất rõ qua việc miêu thả thần thái bình thản khi đánh đàn, ung dung tự tại cứ như chốn thanh tịnh nào đó chứ không phải chiến trường. Điều này có được vì chính Khổng Minh đã biết trước rằng mưu kế này sẽ thành công.

Bên cạnh mưu kế, trí tuệ của các nhân vật quân sư còn thể hiện qua việc am hiểu, tinh thông binh pháp và vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn vào từng trận đánh cụ thể. Theo từ điển Tiếng Việt, “binh pháp” có nghĩa là hệ thống tri thức về những vấn đề lí luận quân sự nói chung và phương pháp tác chiến nói riêng [4]. Trên thế giới, có rất nhiều quốc gia mạnh về quân sự, chiến đấu nhưng sáng tạo ra binh pháp thì Trung Quốc chính là nước đầu tiên. Binh pháp Tôn Tử là sách chiến lược, chiến thuật do Tôn Vũ ( hay còn gọi là Tôn Tử) – một nhân vật quân sư nổi tiếng trong Đông Chu liệt quốc - soạn nên vào năm 512 TCN, đời Xuân Thu. Tập binh pháp này không chỉ đặt nền móng cho binh học truyền thống, mà còn sáng tạo nên một hệ thống lý luận quân sự hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Vì thế, binh pháp Tôn Tử được tôn xưng là tuyệt tác binh thư hàng đầu của thế giới cổ đại, được xem là một trong những binh thư kinh điển trong lịch sử quân sự thế giới.

Trong Tam quốc diễn nghĩa Đông Chu liệt quốc, những cuộc đấu trí căng thẳng về binh pháp luôn được tác giả tập trung miêu tả rất chi tiết. Đó là khi những nhân vật quân sư tài ba bậc nhất đối đầu nhau trong một trận chiến, thế trận được thiết lập ở mỗi bên nhằm khắc chế trận pháp của đối phương. Cục diện của trận chiến có thể xoay chiều liên tục. Nhiệm vụ của quân sư khi sử dụng binh pháp là nhằm lái trận chiến theo chiều hướng có lợi nhất. Bởi vì, các trận pháp trong chiến tranh có sự tương sinh tương khắc rất phức tạp, đôi khi một trận pháp chỉ cần có chút thay đổi thì đã biến thành một hình dạng khác. Sự biến đổi này có thể lợi hoặc hại cho đối phương. Điều quan trọng là quân sư phải nhìn ra điều đó để có sự thay đổi thích hợp.

Bàng Quyên và Tôn Tẫn đều là những nhân vật nổi tiếng trong Đông Chu liệt quốc, hai người cùng lúc đến học tập binh pháp với một học giả nổi tiếng là Quỷ Cốc tiên sinh. Tôn Tẫn là con cháu của nhà quân sự nổi tiếng Tôn Vũ, vốn được truyền dạy về "Tôn Tử binh pháp". Còn Bàng Quyên là một người gian ngoan quỷ quyệt, vì mục đích cá nhân đã tìm đủ cách tiếp cận với Tôn Tẫn và hai người kết nghĩa làm anh em.

Dù được học chung một thầy nhưng tài năng quân sự của Tôn Tẫn vẫn cao hơn một bậc so với Bàng Quyên. Trong lần cho diễn tập quân đội trước mắt của Ngụy Huệ Vương, tất cả mọi trận pháp của Bàng Quyên đều bị Tôn Tẫn nhận ra và phá giải. Đến lượt Tôn Tẫn xuất trận, Bàng Quyên hoàn toàn mù mờ và ko thể nhận ra một thế trận nào. Thế mới thấy binh pháp của Tôn Tẫn cao thâm thế nào. Những trận chiến sau đó càng cho thấy rõ tài năng quân sự của ông.

"Hơn mười năm sau, Bàng Quyên mang quân Ngụy đánh nước Hàn. Quân Ngụy đánh đâu thắng đấy, chẳng mấy chốc đã đánh đến kinh đô của nước Hàn. Nước Hàn cầu cứu nước Tề. Tề Uy Vương lại cử Tôn Tẫn làm quân sư, đưa quân đi cứu Hàn. Tôn Tẫn lại dùng mưu kế cũ, không trực tiếp đi cứu Hàn mà đem đại quân tiến công nước Triệu. Bàng Quyên biết quân Tề đem quân đánh Ngụy, vội mang quân về cứu. Đâu ngờ, đại quân người ngựa mới về đến biên giới nước Ngụy quân Tề đã rút lui. Bàng Quyên tức giận cho quân đuổi theo, quyết một trận sống mái với quân Tề. Bàng Quyên lệnh cho quân Ngụy ngày đêm tiến gấp, đuổi đến Mã Lăng của Hà Bắc.

Mã Lăng địa thế hiểm yếu, núi cao suối sâu. Nửa đêm trời tối như mực, quân Ngụy chậm chạp tiến trên đường núi. Bỗng nhiên có lính cấp báo:

- Con đường trước mặt đã bị quân Tề dùng gỗ và đá lấp kín.

Bàng Quyên nghiến răng hạ lệnh:

- Dẹp bỏ chướng ngại, đêm nay nhất định phải đuổi được quân Tề.

Bàng Quyên đang đích thân chỉ huy quân lính dọn sạch gỗ đá, bỗng chú ý thấy cây cối ở hai bên Mã Lăng đều bị chặt hết, thỉnh thoảng mới thấy còn lại một cây lớn, ông ta thấy rất lạ, tới nơi xem xét. Thấy trên một cây lớn, vỏ cây bị bạt đi, có một hàng chữ mờ mờ. Bàng Quyên lệnh cho quân sĩ đốt đuốc lên soi, chỉ thấy hàng chữ lớn: “Bàng Quyên chết dưới cây này!” Bàng Quyên kêu lên một tiếng, đang định lên ngựa, hai bên núi tên bắn như mưa. Trong chớp mắt, Bàng Quyên và tướng sĩ trúng tên mà chết.

Quân Tề xông xuống núi, dũng mãnh vô song, không gì chống nổi. Quân Ngụy bị đánh, người ngựa tan tác, máu chảy thành sông, toàn quân bị tiêu diệt.

Sau trận này, dũng khí của quân Ngụy không còn, vua Ngụy phải xin cầu hòa với nước Tề. Tề Uy Vương rất vui vẻ, thưởng lớn cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn không muốn nhận thưởng. Ông đích thân viết “Binh pháp Tôn Tẫn” dâng lên Tề Uy Vương, sau đó từ quân về ở ẩn" [2, tr404]

2.2. Trí tuệ thể hiện trong chính trị

Bên cạnh quân sự, trí tuệ của quân sư còn được thể hiện ở rất nhiều lĩnh vực. Ngoài việc am hiểu chiến trận ra, sự hiểu biết và tầm nhìn xa trông rộng về chính trị còn là một đặc điểm của kiểu nhân vật này. Chính điều này tạo nên một vai trò vô cùng quan trọng của quân sư trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Các nhân vật quân sư trong Tam Quốc, Đông Chu hay Thủy Hử trước khi thể hiện tài thao lược quân sự trên chiến trường đều có những nhận định, quan sát và điều chỉnh về chính trị rất hợp lý.

Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Gia Cát Lượng làm tướng quốc, vỗ yên bách tính, định lễ nghi, hạn chế quan lại, định rõ uy quyền, ban bố pháp luật, bồi dưỡng nhân tâm, đối với người tận trung tuy có thù riêng vẫn ban thưởng, với kẻ phạm pháp dẫu thân vẫn phạt tội, với kẻ cải tà quy chánh thì khoan dung, với sự xảo quyệt thì loại trừ; với việc thiện không làm thì không thưởng, với việc ác không làm thì không phạt, mọi sự tinh luyện xét việc ở góc trọng thực tế không hão huyền, cuối cùng khắp trong nước cảm uy danh mà yêu mến, hình phạt tuy nghiêm mà không oán, bình tĩnh mà khuyên răn, phải thừa nhận rằng đấy là người có tài trị quốc, sánh được với Quản Trọng, Tiêu Hà ngày xưa.[3, tr508]

Trong Đông Chu liệt 1uốc, Quản Trọng là nhân vật tạo được dấu ấn rất lớn, là một trong các biểu tượng trí tuệ của người Trung Hoa cổ xưa. Để phò tá Tề Hoàn Công hoàn thành nghiệp bá, bên cạnh trí tuệ tuyệt luân, khả năng lý luận, am tường chính trị sâu rộng, Quản Trọng còn là một quân sư với tầm nhìn xa trông rộng, bao quát hết thời cuộc. Thời điểm đó, các nước như Sở, Tần, Tấn cũng là những cường quốc đương thời với binh lực hùng mạnh, nhân tài đông đảo. Trong bối cảnh đó, với tầm nhìn của mình, Quản Trọng đã xây dựng sách lược phát triển hợp lý nhất cho nước Tề.

Trong thời điểm xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố lạc hậu, Quản Trọng đã hiện đại hóa nước Tề thông qua việc tiến hành rất nhiều cải cách. Về mặt chính trị, ông tập trung hóa quyền lực và phân chia nước thành nhiều làng, mỗi làng tập trung vào một lĩnh vực thương mại riêng. Thay vì dựa vào giai cấp quý tộc để thu thuế như truyền thống trước kia, Quản Trọng áp dụng tiền thuế trực tiếp tới mỗi đơn vị làng xã. Ông cũng phát triển một biện pháp lựa chọn người tài mới và có hiệu quả hơn. Dưới thời  Quản Trọng, nước Tề chuyển từ chế độ quan liêu quý tộc sang chế độ quan liêu chuyên nghiệp.

Quân sư trí tuệ hơn người, tài thao lược quân sự, kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực và đặc biệt là khả năng thu phục nhân tâm. Quân sư trở thành trợ thủ đắc lực của mỗi phe phái. Không chỉ giỏi về chiến trận, chính trị mà nhờ thấu hiểu tâm lý người khác đã giúp quân sư chiêu mộ được thêm nhiều nhân tài về dưới trướng. Bên cạnh đó, các nhân vật quân sư thường được các nhân vật khác rất nể phục. Điều đó có được nhờ quân sư biết cách tùy mỗi cá thể khác nhau lại có cách đối xử riêng biệt. Điểm chung cuối cùng đó là quân sư đều tạo được niềm tin tuyệt đối cho các nhân vật khác.

Khả năng “đọc” tâm lý con người của các quân sư đã trở thành nghệ thuật. Đó không đơn thuần chỉ là những phán đoán may rủi về nội tâm của người khác. Đỉnh cao của nghệ thuật này là khiến cho đối phương phải tin tưởng và nể phục mình. Thông qua các hành động cụ thể, đối phương có thể đi từ trạng thái bất phục ban đầu cho đến sự tin tưởng, kính nể sau đó. Về cơ bản, thu phục lòng người là một dạng thức cấp cao của việc “đọc” tâm lý người khác. Đây là hành động có mục đích, sự chủ định và suy nghĩ trước khi thực hiện, thể hiện trí tuệ về chính trị của quân sư.

2.3.  Trí tuệ thể hiện trong cuộc sống.

Tam Quốc chủ yếu xoay quanh các cuộc giao chiến phân tranh giữa ba tập đoàn phong kiến Ngụy, Thục, Ngô. Theo đó, đời sống xã hội trong thời kỳ này ít được tác giả tập trung miêu tả. Dung lượng chủ yếu được tác giả tận dụng để thể hiện chiến tranh với tốc độ gấp gáp. Xuyên suốt thời gian chín mươi bảy năm được La Quán Trung thể hiện với tần suất các sự kiện xuất hiện và diễn ra liên tục. Hành động của các nhân vật cũng theo đó mà diễn biến nhanh hơn.

Hoạt động của các nhân vật quân sư trong thời kỳ này chủ yếu diễn ra với mục đích phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên, họ cũng là những con người rất tài giỏi và sáng tạo trong lao động. Cũng cần phải nói rằng, những sản phẩm lao động mà quân sư tạo ra liên quan nhiều đến chiến tranh. Công cụ, vũ khí, thực phẩm và các thứ thiết yếu khác.

Gia Cát Lượng là minh chứng tiêu biểu cho khả năng lao động sáng tạo và tài giỏi hơn người. Ông không những là một quân sư xuất sắc về chiến trận mà còn tự mình sáng chế nên những vật phẩm mới lạ, rất hữu dụng. Gia Cát Lượng đã phát minh ra bánh màn thầu – một loại bánh thông dụng trong đời sống nhân dân Trung Hoa thời phong kiến. Sự ra đời của loại bánh này khá kỳ lạ. Theo đó, Gia Cát Lượng sau khi chinh phục được miền đất phía nam Trung Hoa (bây giờ là vùng Vân Nam và bắc Miến Điện), trên đường quay về, Gia Cát và đội quân của ông ta đã không thể vượt qua được con sông lớn, nước chảy xiết… Ông được Manh Hoach chỉ dẫn phải chặt đầu năm mươi nam giới và ném xuống dòng sông nhằm làm dịu đi sự hung dữ của dòng sông.

Nhưng Gia Cát Lượng không muốn phải đổ bất kì giọt máu nào nữa. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông quyết định giết tất cả bò và ngựa đem theo, để lấy thịt của chúng và nhét vào trong những chiếc bánh nhỏ có hình dạng giống đầu người rồi ném xuống sông. Ông đã vượt qua được con sông và quay trở về. Sau đó ông đã gọi những chiếc bánh đó là "bánh đầu người dã man" (Man đầu).

Ngoài ra, Gia Cát Lượng còn tạo ra khinh khí cầu và “trâu gỗ ngựa máy” (Mộc ngưu lưu mã) – một thiết bị giao thông vận tải tự động kỳ lạ nhưng rất hiệu quả. Ông còn phát minh ra “Nỏ Gia Cát” - loại nỏ có thể bắn liên tục nhiều mũi tên. Lúc bị Tư Mã Ý bao vây, Khổng Minh còn sáng tạo ra một kiểu đèn lồng dùng để truyền tín hiệu quân sự, được gọi là đèn lồng Khổng Minh.

Trong Tam quốc diễn nghĩa, nếu hình tượng Lưu Bị được chiếu sáng bởi chữ “ nhân” thì hình tượng Khổng Minh lại được chiếu sáng bởi chữ “trí”. Khổng Minh là hóa  thân của trí tuệ quần chúng. Câu ngạn ngữ “ba người thợ da hợp thành một Gia Cát Lượng” đã nói lên điều ấy. Ngồi trong lều cỏ mà đoán được thiên hạ chia ba, định ra đường lối chiến lược đúng đắn “Liên Ngô kháng Ngụy”, biết địch biết ta, lắm mưu mẹo, trăm trận trăm thắng...Khổng Minh là tuyệt đỉnh của trí tuệ trong Tam Quốc. Tác giả  để nhân vật này xuất hiện sau hàng loạt mưu sĩ xuất chúng như Bàng Thống, Từ Thứ ...tạo ra tấm thảm thêu hoa dẫn đến tuyệt đỉnh là Khổng Minh. [1, tr25]

Nói đến tài giỏi hơn người trong lao động, không thể không nhắc đến Ngô Dụng – quân sư duy nhất trong tiểu thuyết Thủy hử. Ông ít khi sử dụng nhiều đến các hoạt động chân tay nặng nhọc mà chủ yếu dùng trí óc và ngôn ngữ để lao động. Ngô Dụng góp phần thuyết phục các tướng tài về với Lương Sơn Bạc sau mỗi trận giao tranh với triều đình. Ông chỉ đạo việc xây dựng các tuyến phòng thủ xung quanh Lương Sơn, góp ý cho Tiều Cái và sau này là Tống Giang trong việc phân chia công việc cho các đầu lĩnh trong trại.

Nhìn chung, nhân vật quân sư khá toàn diện. Trí tuệ của họ được sử dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ quân sự, chính trị, giao tiếp cho đến lao động trong cuộc sống, ở mảng nào họ cũng rất xuất sắc. Ngoại trừ việc không mạnh trong võ nghệ, có thể xem quân sư là mẫu người tiệm cận với sự hoàn hảo.

Quân sư cũng là kiểu nhân vật thuộc tầng lớp trí thức. Để đạt được thành công, được mọi người xem trọng, họ phải trải qua quá trình rèn luyện gian khổ. Không ít người nếm trải những khó khăn, hoạn nạn vô cùng đáng sợ. Tinh thần và trí tuệ của  quân sư gặp phải thử thách cực đại trước khi đạt được thành tựu cuối cùng. Tuy nhiên, bằng trí thông minh, bản lĩnh của mình, họ đều thích nghi được với hoàn cảnh và vượt qua được nó.          

Các nhân vật quân sư ở thời phong kiến Trung Hoa phần lớn xuất thân nghèo khó, sống trong hoàn cảnh không thuận lợi. Một số người trong đó tự tìm tòi học hỏi để nâng cao vốn hiểu biết của bản thân. Số khác lại tìm đến các vị ẩn sĩ, danh sư để theo học các kỹ năng, kiến thức phục vụ cho hoạt động của một quân sư sau này. Nhân vật quân sư Tôn Tẫn trong Đông Chu Liệt Quốc là một trường hợp như vậy.  Tôn Tẫn bị Bàng Quyên hãm hại bằng cách chặt chân nhưng sau đó quân sư này đã giả điên để thoát nạn. Ông sang Tề phó tá Tề Uy Vương và báo thù Bàng Quyên trong lần tái đấu sau đó.

Tôn Tẫn trở thành một trong các nhân vật quân sư nổi tiếng trong lịch sử và văn học Trung Quốc. Ngoài tài năng, trí tuệ, Tôn Tẫn còn khiến nhiều người mến phục ở nghị lực phi thường, vượt qua nghịch cảnh. Dù bị tàn phế, ông vẫn không hề nản chí mà lại tìm cách để thích nghi, sống chung với nó. Bản lĩnh của Tôn Tẫn khiến Tề Uy Vương nể phục và phong ông làm quân sư. Những thành tựu mà Tôn Tẫn đạt được sau đó đã chứng minh cho tài năng xuất chúng của ông.

3. KẾT LUẬN.

Quân sư là người thầy của quân đội, được xem là linh hồn của mỗi đội quân. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì quân sư được xem là đạo diễn của trận đánh. Từng đường đi nước bước, tấn công, phòng thủ, mai phục... đều được các quân sư lên kế hoạch rất chi tiết. Các tướng lĩnh, quân lính phải nhất nhất tuân theo chỉ thị của quân sư để giành được chiến thắng. Vì vậy có thể nói rằng, tất cả tinh hoa trong trí tuệ của quân sư đều được thể hiện trong chiến tranh. Trong Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốcThủy hử, các nhân vật quân sư đều hội tụ đầy đủ tất cả những phẩm chất tốt nhất cần có. Họ đều là những người am hiểu quân sự và biết cách áp dụng rất nhiều mưu kế hữu ích. Bên cạnh đó, trí tuệ của họ còn được thể hiện qua các lĩnh vực chính trị, lao động và cuộc sống. Ở lĩnh vực nào, quân sư cũng cho thấy rõ tài năng và bản lĩnh vượt trội hơn người. Văn học Trung Quốc là một trong những nền văn học vĩ đại nhất trên thế giới. Tuy nhiên, có thể nó sẽ kém rực rỡ đi nếu như đã không xây dựng nên kiểu nhân vật quân sư – biểu tượng trí tuệ của dân tộc Trung Hoa. 

                                                -------------------------------------

                                                   TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lương Duy Thứ (2000), Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Phùng Mộng Long (2010), Đông Chu liệt quốc, NXB Văn học.

3. Trần Văn Đức (2000), Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện, NXB Văn hóa – thông tin.

4. Từ điển Tiếng Việt online, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/

 

 

 

Sinh viên thực hiện : Phạm Văn Lương

Khoa : Ngữ Văn. Lớp : Văn 4D.

Địa chỉ : 11/82 Đào Duy Anh, Phú Bình, Tp.Huế

Số điện thoại : 01677334309

Email : phamvanluong1710@gmail.com


------------------------------

Người đăng bài: Văn Khôi

Bài khác