Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

TS. Lê Thị Ngọc Anh

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

 

Công nghệ thông tin (CNTT) đã đi vào nhà trường và tạo nên sự thay đổi lớn trên nhiều phương diện. Nếu như trước đây, CNTT được xem như một phương tiện hỗ trợ, một yếu tố kết hợp thì nay, với định hướng phát triển năng lực thì nó còn là mục tiêu dạy học. Với sự thay đổi này, CNTT và ứng dụng CNTT cần được nhìn nhận lại để có một hướng ứng xử phù hợp trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng.

Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 xác định một trong những năng lực mà học sinh (HS) cần đạt được đó chính là năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT). Nghĩa là một trong những năng lực cốt lõi mà HS phải đạt được qua quá trình học phổ thông chính là biết sử dụng CNTT để hỗ trợ học tập và đi vào thực tiễn cuộc sống.

Thực tế dạy học Ngữ văn cho thấy, từ trước cho đến hiện nay, ngay trước thời điểm sắp thực hiện chương trình giáo dục mới, việc ứng dụng CNTT còn nhiều bất cập. Để đạt được mục tiêu giáo dục theo hướng phát triển năng lực thì đây lại càng là một vấn đề được đặt ra cấp bách. Bởi việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn hiện nay vẫn chủ yếu là từ phía GV. Nhiều giờ dạy học mặc dù có sử dụng máy tính, kết nối internet nhưng chỉ dừng lại như một phương tiện trình chiếu thay thế việc viết bảng và đọc thuộc giáo án của GV, phục vụ cho hoạt động thuyết trình truyền thụ nội dung bài học đã được chuẩn bị sẵn. Thậm chí, vì “sẵn” máy móc nên được bao nhiêu nội dung GV đưa hết vào trang trình chiếu một cách thiếu chọn lọc. Với cách dạy học này, CNTT chỉ có thể giải phóng sức lao động cơ học cho GV nhưng lại hoàn toàn không có giá trị hỗ trợ dạy học, thậm chí HS không thể theo dõi và ghi chép bài như khi GV viết bảng. Ngoài ra, một số GV do kiến thức và kĩ năng về CNTT chưa vững nên sự vận dụng còn thiếu linh hoạt, giờ học còn rời rạc, đơn điệu. Công nghệ thông tin nhiều khi chỉ là những hiệu ứng, màu sắc rối rắm và vô nghĩa. Hoặc một số GV quá tuyệt đối các tính năng của các phương tiện dạy học hiện đại nên ứng dụng khá tùy tiện và quá lạm dụng; đưa nhiều tranh ảnh, phim tư liệu vào bài học mà không có một mục đích phù hợp. Phổ biến hiện nay là nhiều giờ học mặc dù đã biết phát huy thế mạnh của CNTT trong việc bổ sung, liên hệ, tổ chức kiến thức cho HS nhưng lại chưa biết phát huy tính tích cực, chủ động của người học, chưa tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như vận dụng những kiến thức đã học vào những tình huống khác nhau thông qua các hoạt động thực hành. Có nghĩa là GV vẫn “ôm máy” và “độc diễn”; HS vẫn chỉ là những “cái bình” thụ động “hứng kiến thức” chứ chưa phải là những chủ thể tích cực, sáng tạo, chủ động sử dụng phương tiện hiện đại vào hoạt động học một cách đắc dụng. Sự hỗ trợ này của CNTT là chưa phù hợp với quan điểm và mục tiêu dạy học mới nhấn mạnh đến việc hình thành năng lực cho người học, chú trọng phát huy vai trò chủ thể cho HS.

Do đó, để đáp ứng mục tiêu dạy học đổi mới, việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, đặc biệt là trong dạy học Ngữ văn càng phải được xem là một định hướng quan trọng, cần được đổi mới từ quan niệm cho đến cách thức thực hiện.

Về quan niệm, cần xác định hai vấn đề cơ bản. Thứ nhất, chủ thể ứng dụng CNTT không chỉ là GV mà quan trọng, chủ yếu phải là HS. Chỉ khi các em là chủ thể ứng dụng CNTT mới có thể hình thành được năng lực ứng dụng CNTT. Thứ hai, việc ứng dụng CNTT không dừng lại ở mức sử dụng nó như một phương tiện hỗ trợ quá trình dạy của GV mà quan trọng là hỗ trợ quá trình học, đặc biệt là tự học của HS; không chỉ là một phương tiện trình chiếu mà phải là phương tiện để tìm kiếm, trao đổi, xử lí, vận dụng… thông tin.

Về cách thức ứng dụng CNTT, trong phạm vi bài viết nhỏ, chúng tôi xin đề xuất hai biện pháp dạy học phổ biến có thể khai thác sự hỗ trợ của CNTT theo quan điểm nêu trên.

* Ứng dụng CNTT hỗ trợ HS tự học

Biện pháp này góp phần quan trọng vào việc hình thành thói quen, kĩ năng đọc sách, tự nghiên cứu tài liệu (tài liệu giấy, tài liệu điện tử) cho HS - một kĩ năng không thể thiếu trước xu thế bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa như hiện nay. Hoạt động này có thể được tiến hành ở nhà nhằm chuẩn bị bài trước khi đến lớp; tìm hiểu nâng cao, mở rộng vấn đề liên quan đến bài học hoặc được tiến hành ngay tại lớp trước khi trao đổi, thảo luận (với những tài liệu ngắn). Giáo viên giới thiệu tài liệu, HS tự đọc, tự nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao hoặc cũng có thể GV nêu nhiệm vụ học tập, HS tự tìm kiếm tài liệu và giải quyết. Kết quả học tập cần được kiểm tra, đánh giá trực tiếp qua khâu kiểm tra bài ở lớp hoặc thông qua các sản phẩm đạt được dưới dạng văn bản giấy hoặc file kĩ thuật số.

Công nghệ thông tin trong biện pháp này hỗ trợ hầu hết các hoạt động quan trọng của cả người dạy và người học, từ khâu hướng dẫn tự học đến khâu kiểm tra, đánh giá kết quả; hỗ trợ tìm kiếm và xử lí tài liệu, trình bày kết quả tự học; tạo nên diện mạo mới, chất lượng mới của biện pháp này trong dạy học Ngữ văn, hình thành được thói quen, kĩ năng, phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Học sinh cũng mạnh dạn trình bày và trao đổi kết quả tự học, tích lũy được kho tài liệu học tập đa truyền thông, đa phương tiện hết sức phong phú và thường xuyên được cập nhật. Đây cũng là một trong những biện pháp dạy học tích cực, tạo điều kiện cho người học thể hiện và khẳng định vai trò chủ thể chủ động của mình cũng như hướng tới hình thành nhiều năng lực quan trọng mà xã hội hiện đại đang đặt ra cho giáo dục.

Trước đây, biện pháp dạy học này thường ít được chú ý bởi việc tìm kiếm tài liệu đối với HS không dễ, mất nhiều thời gian tìm kiếm cũng như thời gian đọc, chọn lọc và xử lí tài liệu; GV khó định hướng, điều chỉnh kịp thời quá trình tự học của HS…; hoặc có thì chỉ dừng lại ở mức đơn giản là HS làm việc với SGK, tóm tắt tiểu dẫn hoặc trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài (thông qua hoạt động soạn bài ở nhà của HS); sản phẩm đạt được chủ yếu thể hiện dưới dạng văn bản viết như vở soạn bài hoặc các bài viết ngắn nên chỉ hình thành được những kĩ năng và kiến thức cơ bản. Việc kiểm tra kết quả tự làm việc của HS cũng hạn chế, kết hợp trong mấy phút kiểm tra bài cũ hoặc truy bài đầu giờ; thậm chí GV giao nhiệm vụ nhưng không kiểm tra, đánh giá kết quả.

Với sự hỗ trợ của CNTT, việc giao nhiệm vụ học tập trở nên ấn tượng và dễ dàng với các dạng sơ đồ tư duy hay bảng biểu khuyết (được vẽ bằng các phần mềm chuyên dụng hoặc chỉ đơn giản với trang Word hoặc powerpoint có nhấn mạnh từ khóa vẫn có giá trị trực quan sinh động). Những dạng sơ đồ này có thể đồng thời giới thiệu tài liệu, đưa ra các yêu cầu và hướng dẫn cách làm việc, định hướng giải quyết vấn đề. Việc giao nhiệm vụ học tập cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các diễn đàn của lớp/nhóm trên các trang dịch vụ internet như facebook, google drive, wiki… hoặc đơn giản là gửi email vao một hộp thư chung của lớp để tất cả HS có thể nhận được nhiệm vụ tự làm việc.

Ví dụ 1: GV vẽ sơ đồ tư duy với từ khóa trung tâm là chủ đề (vấn đề trung tâm cần giải quyết) và các nhánh chính là các tài liệu mà HS phải đọc, tóm tắt và nêu ý kiến

Trong sơ đồ trên, GV giới thiệu cho HS tài liệu điện tử (có sẵn đường link và hình ảnh bài viết) và tài liệu sách chuyên khảo (có hình ảnh kèm theo). Học sinh phải tự tìm đọc các tài liệu trên và khái quát những nét chính về phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu và hoàn thiện sơ đồ tư duy. Sản phẩm có thể được trình bày trong buổi ngoại khóa hoặc gửi vào mail hay group học tập của lớp vào một thời gian nhất định để trao đổi và đánh giá giữa GV và HS, giữa HS với nhau.

Ví dụ 2: GV giao nhiệm vụ kèm các yêu cầu và định hướng thực hiện bằng bảng biểu khuyết

So sánh nhân vật Nguyệt (“Mảnh trăng cuối rừng” - 1970) và Người đàn bà hàng chài (“Chiếc thuyền ngoài xa” - 1983) để thấy được sự thống nhất và chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu theo các nội dung sau: