Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BIA ĐÌNH LÀNG Ở THỪA THIÊN HUẾ
Văn bia xuất hiện từ lâu đời ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, theo dữ liệu hiện còn, tấm bia xưa nhất xuất hiện vào thời Bắc thuộc (thế kỷ VII). Văn bia đình là bộ phận quan trọng trong hệ thống văn bia nước ta. Văn bia đình có nhiều đặc trưng hình thức và văn bản, qua đó, phản chiếu rõ sinh hoạt vật chất và tinh thần của phần đông cư dân trong xã hội. Ở Thừa Thiên Huế, văn bia đình xuất hiện cùng với quá trình mở cõi phương Nam của dòng dõi chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI về sau. Tuy số lương hiện còn không nhiều, nhưng văn bia đình vùng đất phên dậu này rất đặc sắc về kích cỡ, hoa văn cùng các vấn đề của văn bản như: dung lượng, bố cục, chữ húy, chữ Nôm. Những đặc điểm này khiến nó trở thành nguồn dữ liệu không thể thiếu trong nghiên cứu mĩ thuật, văn hóa, xã hội,… dân gian nơi đây trong quá khứ.

1.      Phần mở đầu

Văn bia xuất hiện từ khá sớm, bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản – các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán.

Thời điểm xuất hiện văn bia, theo nhiều nhà nghiên cứu, từ thời Hậu Hán: “Từ Hậu Hán về sau mới có văn bia, tìm văn bia trong bia, thời Tiền Hán chưa thể thấy được” (Dương Tu, Tạp cổ lục) [1;18]. Chu Kiến Tâm dẫn lời Diệp Xương Xí trong Ngữ thạch cũng có ý kiến tương tự: “Tất cả nội dung khắc trên đá đều gọi là văn bia bắt đầu từ đời Hán về sau”. Tuy nhiên, mầm mống của văn bia đã xuất hiện trước trước đó rất lâu. Ngay từ thời Hạ, Thương, Chu, người ta đã khắc các ký tự lên mai rùa, lên vách đá nhằm trao đổi thông tin, phản ánh thế giới thông qua cái nhìn trực quan. Càng về sau, khi đời sống phát triển cao hơn, văn bia ra đời và trở thành biểu hiện của đời sống văn hóa con người. Đến đời Tần, vua Tần Thủy Hoảng đã khắc chữ lên đá để đánh dấu, ghi lại những chuyến du ngoạn của mình [1;17].

Quá trình tiếp thu văn hóa Hán của Việt Nam có một lịch sử lâu đời. Văn bia xuất hiện ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc, khoảng thế kỷ thứ VII. Tấm bia cổ nhất được tìm thấy tại làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa có tên Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được lập vào năm Mậu Dần, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (tức năm 618). Từ đó cho tới hết thời Nguyễn, văn bia Việt Nam tăng lên rất nhanh về số lượng cũng như chủng loại, từ các Kinh chàng (các cột đá khắc kinh Phật) cho tới bi văn, ma nhai, bia tháp minh, bia Hậu. Nếu như thời Đinh (968 – 980), chúng ta mới chỉ tìm thấy một số Kinh chàng, thời  nhà Lý (1010 – 1225) có 23 bia, thời Trần (1225 – 1400) 44 bia thì đến thời Mạc, chúng ta có 165 bia, các triều đại sau này là Tây Sơn “khoảng vài trăm” bia, Lê trung hưng, thời Nguyễn thì con số đó lên tới “khoảng vài ngàn văn bia” [1;49].

Văn bia Việt Nam, nhìn chung thường gắn với các di tích văn hóa, lịch sử như: đình, chùa, miếu, lăng tẩm, nhà thờ họ,... Xuất phát từ đặc điểm lịch sử mở rộng dần bờ cõi về phương Nam của dân tộc, văn bia nước ta cũng được phân bố không đều giữa các vùng miền trên cả nước. Từ bắc chí Nam, hầu hết nơi nào cũng có bia, tuy nhiên Miền Bắc và Bắc Trung Bộ vẫn là nơi có nhiều văn bia hơn cả so với hai miền còn lại. Các tỉnh Miền Nam, “mật độ văn bia Hán – Nôm vùng này rất thưa so với niền Trung và miền Bắc” (4).

Theo sự thống kê của tác giả Trịnh Khắc Mạnh (5) từ bộ Thư mục văn bia, “Thừa Thiên Huế có khoảng 180 văn bia”, chủ yếu bao gồm các loại sau: Văn bia cung đình, Văn bia chùa, Văn bia dân gian.

Văn bia đình, theo tác giả Trần Đại Vinh, Thừa Thiên Huế có “khoảng 13 văn bia đình trên tổng số 160 văn bia các loại” [2;13]. Tuy nhiên, theo sự điền dã của chúng tôi, con số này là 19. Văn bia đình là bộ phận quan trọng trong hệ thống văn bia hiện tồn ở Thừa Thiên Huế. Văn bia đình thể hiện nhiều giá trị văn hóa quan trọng của cư dân bản địa trong suốt quá trình mở cõi. Tuy nhiên, hậu thế muốn tiếp cận được hệ thống giá trị văn hóa qua văn bia đình phải có một trình độ Hán Nôm tương đối cao.

2. Phần nội dung

2.1. Độ dài, kích thước, trang trí trên văn bia đình Thừa Thiên Huế

Văn bia đình Thừa Thiên Huế  thường có bố cục 5 phần. Trong 5 phần của bố cục văn bia thì phần bài văn trong văn bia là phần mang tính bền vững, còn các phần còn lại có độ xê dịch nhất định: Trong số 142 bia thì có 7 bia không có tên bia, 10 bia không có lạc khoản. Tên bia thường được khắc nổi ở giữa trán và thân bia, tuy nhiên có một số bia tên bia được khắc ở dòng đầu tiên ở lòng bia, nơi chứa nội dung văn bản. Bia không có tiêu đề chúng tôi  đề là “Vô đề”, có tất cả 8 bia.

     Về kích thước, văn bia đình Thừa Thiên Huế chủ yếu tồn tại dưới dạng bia hình dẹt. Về kích cỡ bia, chúng tôi khảo sát theo các tiêu chí: kích thước cao, kích thước rộng, từ đó suy ra diện tích bề mặt. Trong quá trình tính toán kích cỡ các bia chúng tôi hoàn toàn dựa vào hiện vật, đơn vị là cm đối với chiều cao và chiều rộng, cm­2 đối với diện tích bề mặt. Dưới đây là kết quả khảo sát của chúng tôi:

 STT

Các cỡ diện tích bia

(đv 1000cm2 )

Cao

 

 

Rộng

Diện tích bề  mặt (cm2)

Tổng số  bia

 

1

 

Dưới 1000

22

42

924

2

 

22

45

990

2

Từ 1000 - 2000

36,5

34

1241

2

50

31

1550

 

3

Từ 2000 - 3000

58

46

2668

1

4

Từ 3000 - 5000

68

46

3128

4

79

43

3397

70

50

3500

 

 

 

 

 

 

 

 

63

62

3906

5

 Trên 6000

94,5

64

6048

7

99

70

6930

111

65

7215

159

123

19557

160

124

19840

195

283

55185

287

324

92988

Kích thước bia đình Thừa Thiên Huế

 Bảng thống kê trên cho thấy kích thước văn bia đình Thừa Thiên Huế chủ yếu trên 6000 cm2 ( > 6 m2), đặc biệt, 2 bia có diện tích khá lớn: 55185 cm2, tương đương 5,5185 m2 (Bia Đệ Nhất); 92988 cm2, tương đương 9,2988 m2 (Bia Phú Cát 2). Đây đều là những bia được xây theo kiểu áp tường. Loại bia có diện tích từ 2000 – 5000 cm2 có số lượng đứng thứ 2 (4 bia), loại bia có diện tích từ 1000 – 2000 cm2 và dưới 1000 cm2 có số lượng thấp nhất (lần lượt là 2 bia, 1 bia).

Độ dài văn bia là số lượng chữ được thể hiện trong một văn bia. Số lượng chữ viết trên văn bia thường tỉ lệ thuận với kích cỡ văn bia, số mặt bia, kích thước của chữ viết và mật độ thưa dầy của chữ. Chúng tôi thống kê độ dài Văn bia đình Thừa Thiên Huế theo 3 mức độ như sau:


 Stt

 Độ dài bài văn bia (chữ)

Tổng số (bia)

Tỉ  lệ %

1.

Dưới 500 chữ

13

68,42

2.

Từ 500 – 1000

3

15,78

3.

Từ 1000 – 1500

3

15,78

 

Tổng cộng

19

 100

Độ dài Văn bia đình Thừa Thiên Huế

Bảng thống kê và biểu đồ cho thấy có 13 văn bia dưới 500 chữ chiếm 68, 42%, văn bia từ 500 – 1000 chữ có 3 văn bia chiếm 15,78%; Từ 1000 – 1500 chữ có 3 văn bia chiếm 15,78%.

   Hoa văn trang trí cũng là phần quan trọng, góp phàn làm cho hình thức văn bia sinh động hơn. Trong số 19 văn bia được khảo sát, có tới 18 bia được trang trí hoa văn trang trí. Khác với văn bia cung đình, văn bia đình Thừa Thiên Huế có hoa văn tương đối đơn giản. Hoa văn trang trí trên trán bia thường có hình rồng + mặt trời. Diềm bia và chân bia thường có hình: hoa, lá, con thú, linh vật thể hiện sự phát triển sinh sôi. Nhìn chung, văn bia đình Thừa Thiên Huế có chất liệu từ đá xanh (11/19 bia) và có kích thước không lớn nên trán bia, diềm bia và đế bia được trang trí hoa văn không cầu kỳ.

SStt

    Bia/ năm

 (theo niên  đại)

Trên trán bia

Trên diềm bia

Trên đế bia

1.

Hô Lâu

 

 

 

2.

Đệ Nhất 1

Hình sóng + Hoa dây

 

 

3.

Đệ Nhất 2

Hình sóng + Hoa dây

 

 

4.

Đệ Cửu

Rồng + mặt trời +cánh sen

Mây

 

5.

Phú Vĩnh

Rồng + mặt trời

Hoa lá

 

6.

Phú Cát 1

Rồng + mặt trời

 

 

7.

Phú Cát 2

Rồng + Mặt trời

 

 

8

Phước Tích 1

Rồng + Mặt trời

Mây

 

9.

Phước Tích 2

Mây

 

 

10.

Phước Tích 3

Mây

 

 

11.

Hòa Viện

Mây

Mặt trời + mây

 

12.

Văn Xá

Rồng + mặt trời

Mây + hoa sen +Chữ Thọ

 

13.

Long Hồ Thượng

 

Hoa lá

 

14.

Hạ Lang 1

 

 

 

15.

Hạ Lang 2

 

 

 

16.

Thủ Lễ 1

 

 

 

17

Thủ Lễ 2

 

 

 

18

An Truyền 1

Rồng + mây

 

 

19

An Truyền 2

Rồng  + mây

 

 

2.2. Chữ Nôm trên văn bia đình Thừa Thiên Huế

Văn bản của văn bia đình Thừa Thiên Huế tuy được viết chủ yếu bằng chữ Hán, nhưng ở một số bia đã thấy sự xuất hiện của chữ Nôm. Về thời điểm xuất hiện chữ Nôm chưa có tài liệu nào khẳng định rõ ràng. Nó phát triển mạnh mẽ bắt đầu từ thời Trần, và đã được sử dụng đến gần cuối đời nhà Nguyễn. Chữ Nôm là thành tựu sáng tạo của người Việt và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá rộng rãi văn hóa nước nhà. Văn bia có chữ Nôm xưa nhất  là bia Phụng thánh phu nhân Lê thị mộ chí 奉聖夫人黎氏墓誌 dựng ở chùa Diên Linh, xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phúc, khắc vào đời  Lý Anh Tông (1173).

Trong tất cả các văn bia dân gian Thừa Thiên Huế, gồm văn bia chùa làng, đình làng, nhà thờ Thiên Chúa giáo, đền , miếu..., hầu hết là bia chữ Hán, chỉ có bài văn bia “Vọng từ kỷ niệm(7) (Tr 299, Văn bia & văn chuông dân gian Thừa Thiên Huế, Trần Đại Vinh, Thuận Hoá 2006) do Đặc tấn tráng Võ tướng quân, Đô thống phủ Đô thống, Chưởng phủ sự Võ Văn Kiêm khắc tại làng An Ninh, xã Hương Long Thành phố Huế được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm. Chữ Nôm trong văn bia đình ở Thừa Thiên Huế, phần lớn là tên người, xuất hiện ở mục kê tên những người đóng tiền của xây dựng, trùng tu đình làng.

19 Văn bia đình Thừa Thiên Huế không có bia nào viết hoàn toàn bằng chữ Nôm, chữ Nôm xuất hiện trên văn bia chủ yếu là ghi tên người. Dưới đây là bảng thống kê chữ Nôm xuất hiện trên văn bia đình Thừa Thiên Huế.

 STT

Âm Nôm

Chữ  Nôm

Số lần xuất hiện

Bia có chữ Nôm

1.

Chín

𠃩

1

Hô Lâu

2.

Một

1

Đệ Nhất

3.

Cháu

𡥙

1

Phú Cát 2

4.

Nuôi

1

Phú Cát 2

5.

Lợn

𤞼

1

Phú Cát 2

6.

Trùm

𠆳

1

Văn Xá

Bảng chữ Nôm trên văn bia đình Thừa Thiên Huế

Trên văn bia đình Thừa Thiên Huế còn xuất hiện chữ húy. Kỵ huý hay tị huý cách viết hay đọc trại một từ nào đó do bị kiêng kỵ trong ngôn ngữ văn tự xã hội. Đó là những chữ viết dị thể một chữ  Hán thông thường để kiêng húy các bậc đế vương và những người trong hoàng tộc. Kiêng húy là một điều cấm kỵ khi soạn thảo văn bản, được áp dụng nghiêm ngặt trong khoa cử, bắt buộc thí sinh phải mượn chữ khác để thay thế. Nếu thí sinh nào vi phạm ắt sẽ bị đánh trượt. Ở mỗi thời đại có quy định thể lệ kiêng huý nhất định.

Trong Văn Xá xã đình bi ký 文舍社亭碑記 , làng Văn Xá vốn tên là Võ Xá武舍, do kiêng huý miếu hiệu Võ vương Nguyễn Phúc Khoát 阮福闊 mà đổi thành tên này. Võ vương Nguyễn Phúc Khoát húy là Hiếu, còn gọi là Chúa Vũ (hay Võ) (1714 – 1765) là vị chúa Nguyễn thứ 8 trong lịch sử Việt Nam.

Trong hệ thống văn bia đình Thừa Thiên Huế chúng tôi tìm thấy 01 chữ húy và xuất hiện 01 lần. Chữ húy trong Văn bia đình Thừa Thiên Huế là chữ viết kiêng húy thời Nguyễn. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì các văn bia của đình Thừa Thiên Huế chủ yếu là bia thời Nguyễn.

Văn bia đình Thừa Thiên Huế là một cứ liệu quan trọng về quá trình phát triển cộng đồng làng ở “vùng đất mới” của người Việt, trong đó, hai đặc điểm quan trọng nhất là vấn đề tụ cư và việc xây dựng - trùng tu đình làng, một không gian văn hóa cộng đồng đặc trưng.

Bia đình Huế có bố cục 5 phần, chủ yếu tồn tại dưới dạng bia hình dẹt, diềm bia dao động từ 5 - 10 cm, trán bia dao động từ 20 - 80cm.

 Văn bia Huế (cả bia dân gian lẫn cung đình) hầu hết đều là bia chữ Hán. Tuy nhiên, trong các bài văn bia, nhất là văn bia dân gian, trong đó có bia đình, chữ Nôm vẫn xuất hiện. Trong số 19 văn bia đình Thừa Thiên Huế, chúng tôi tìm thấy chữ Nôm xuất hiện với  6 lần.

Trong số 19 văn bia của thì có 18 bia có hoa văn trang trí. Khác với văn bia cung đình, văn bia đình Thừa Thiên Huế có hoa văn tương đối đơn giản. Hoa văn trang trí trên trán bia thường có hình rồng + mặt trời. Diềm bia và chân bia thường có hình: hoa, lá, con thú, linh vật thể hiện sự phát triển sinh sôi. Nhìn chung, văn bia đình Thừa Thiên Huế có chất liệu từ đá xanh (11/19 bia) và có kích thước không lớn nên trán bia, diềm bia và đế bia được trang trí hoa văn không cầu kỳ.

Trong Văn bia đình Thừa Thiên Huế chúng tôi tìm thấy 01 chữ húy và xuất hiện 01 lần. Chữ húy trong Văn bia đình Thừa Thiên Huế là chữ viết kiêng húy thời Nguyễn.

Theo sự khảo sát của chúng tôi, có 3/19 bia có bài minh ở phần cuối, chiếm tỉ lệ 15,78%. Các bài minh có dung lượng từ 4 câu tới 36 câu.

3.      Kết luận

Văn bia là di sản vật thể và phi vật thể gắn với một giai đoạn văn hoá lâu dài và quan trọng của dân tộc ta.

Văn bia Thừa Thiên Huế nói chung, văn bia đình nói riêng đã phản ánh được nhiều mặt đời sống của cư dân nơi đây từ cuối thế kỷ XVIII, nhất là giai đoạn mạt Nguyễn, cuối thế kỷ XIX. Những mặt này được thể hiện qua hình thức sinh động, giàu tính nghệ thuật với những hình tượng hoa văn, đồng thời, qua việc tạo tác kích thước phù hợp với đặc điểm đình làng từng địa phương. Văn bản văn bia được tổ chức hết sức bài bản với độ dài vừa phải, bố cục cân đối. Đặc biệt, việc một số văn bia có sử dụng chữ Nôm cho thấy một điều thú vị về khả năng thâm nhập đời sống hành chính của chữ viết dân tộc. Điều này chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn trong một nghiên cứu tới đây. 

Trải qua những biến động xã hội cũng như thiên tai, số lượng và chất lượng 19 văn bia đình Huế còn lại ngày nay chắc chắn chưa phản ánh hết diện mạo văn bia đình vùng này thời phong kiến. Nghiên cứu hệ thống văn bia đình Huế, vì vậy, là việc làm cần thiết nhưng không hề dễ dàng. Bài này chỉ là một gợi ý.

Tài liệu tham khảo

(1), Trịnh Khắc Mạnh (2008), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.

(6), Trần Đại Vinh (2006), Văn bia & văn chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế, Nxb Thuận Hoá.


Bài khác