Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH CHO GIÁO VIÊN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH

CHO GIÁO VIÊN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

TS. Nguyễn Thị Bích, PGS.TS. Dương Thu Hằng

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

 

Vấn đề then chốt quyết định thành công trong việc thực hiện Đề án đổi mới chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) phổ thông (PT) sau năm 2015 là bồi dưỡng, phát triển năng lực đội ngũ giáo viên (GV). Theo Thông tư 26 của Bộ GD&ĐT, bồi dưỡng thường xuyên nhằm giúp cán bộ quản lý, GV cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực dạy học, năng lực giáo dục và những năng lực khác theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GV. Trong CT giáo dục đào tạo phổ thông, môn Ngữ văn có vị trí quan trọng hàng đầu. Ngữ văn không chỉ là một môn khoa học mà còn là một môn nghệ thuật. Vì thế, việc phát triển CT môn học này ở trường PT là vô cùng cần thiết. Dự thảo Đề án đổi mới CT và SGK phổ thông sau 2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển CT theo định hướng năng lực và như vậy phát triển CT môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Vì vậy, bồi dưỡng kĩ năng phát triển CT, trong đó có phát triển CT môn Ngữ văn, là hoạt động quan thiết của các trường sư phạm.

Trong CT mới, môn Ngữ văn thuộc lĩnh vực giáo dục Ngôn ngữ và văn học, giúp học sinh (HS) hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực cảm thụ văn học và những phẩm chất tốt đẹp, những quan niệm sống và phép ứng xử nhân văn; giúp HS nhận biết được ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và phương tiện tư duy của con người, là công cụ để học tốt tất cả các môn học; giúp HS sử dụng thành thục những phương tiện giao tiếp khác như hệ thống các hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, công thức, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu, cử chỉ kèm lời,... trong các lĩnh vực giáo dục khác nhau. Trách nhiệm đặt ra cho các trường sư phạm, các sở - phòng giáo dục và các nhà trường PT chính là đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ GV nói chung và GV Ngữ văn nói riêng một cách nghiêm túc, quyết liệt, thiết thực và hiệu quả, nghĩa là phải “bỏ qua” hết những lí thuyết giáo điều, những kiến thức hàn lâm, GV trước hết phải là người “học” và “hành”, sau đó mới là người “dạy”. Sản phẩm của các hoạt động giáo dục Ngữ văn phải gắn với đời sống, cần cho đời sống và hướng đến năng lực người học. Vì thế, bồi dưỡng kĩ năng phát triển CT môn Ngữ văn cho GV cũng phải bám sát mục tiêu như vậy. Để hoạt động này đạt hiệu quả cao, các trường sư phạm cần xác định rõ những nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện.

1. Xác định mục tiêu bồi dưỡng

Kết thúc khoá bồi dưỡng về kĩ năng phát triển CT, học viên (HV) cần đạt được những kết quả trên nhiều mặt. Về kiến thức, HV hiểu được các khái niệm cơ bản về CT, phát triển CT môn Ngữ văn ở trường PT phù hợp với yêu cầu tiếp cận năng lực người học, yếu tố vùng miền, đặc điểm tâm lý lứa tuổi; nắm được các cách tiếp cận CT môn Ngữ văn, nắm được những ưu, nhược điểm của CT môn Ngữ văn PT trong và ngoài nước, nắm được các bước phát triển CT môn Ngữ văn ở trường PT (các cấp độ). Về kĩ năng, HV cần hình thành kĩ năng phát triển CT thể hiện ở việc: biết vận dụng kiến thức về CT để phân tích, nhận xét CT môn học hiện hành ở trường PT, các cách tiếp cận xây dựng CT; biết phân tích lộ trình phát triển nội dung của môn học phù hợp với đặc điểm nhà trường, địa phương; phát triển được năng lực thiết kế CT thông qua việc thiết kế CT và nội dung dạy học môn Ngữ văn ở các cấp độ khác nhau, có kĩ năng xây dựng hồ sơ năng lực HS; thiết kế bảng phân phối CT môn Ngữ văn mới, thiết kế kế hoạch dạy học theo định hướng đổi mới. Về thái độ, HV nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ phát triển CT Ngữ văn ở  trường PT; thấy được vai trò, vị trí của môn học trong việc hình thành năng lực nghề nghiệp của GV trong lĩnh vực ngôn ngữ - văn học ở trường PT nói riêng và vai trò của người GV Ngữ văn trong sự nghiệp giáo dục chung; có ý thức nghiên cứu, triển khai, xây dựng CT nhà trường môn Ngữ văn phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội, địa bàn trường học nhằm đạt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo bậc PT. Về định hướng năng lực, HV tham dự và hoàn thành lớp bồi dưỡng sẽ hình thành năng lực phát triển chương trình môn Ngữ văn, có thể tự chủ, linh động thiết kế chương trình dạy học phù hợp với đối tượng HS và đặc điểm vùng miền.

2. Xác định nội dung chương trình và xây dựng đề cương môn học.

HV là những GV đã kinh qua PT. Vì vậy, bản thân họ đã có quá trình tự học và rèn luyện trong thực tế. Nội dung CT môn học cần giản tiện lí thuyết và tăng thực hành, đi vào những vấn đề cơ bản cốt lõi nhất của phát triển CT. Chuyên đề này có thể kết cấu thành hai mô đun: mô đun 1, cung cấp những kiến thức lí luận chung về CT và phát triển CT môn Ngữ văn ở trường PT (khái niệm, các cách tiếp cận CT, quy trình phát triển CT); mô đun 2, tập trung vào nhiệm vụ thực hành phát triển CT nhà trường môn Ngữ văn với các mô hình: các trường chuyên biệt, các trường PT ở thành phố, thị xã, các trường PT ở miền núi, nông thôn và thực hành một số bước cụ thể như: rà soát, đánh giá CT PT môn Ngữ văn hiện hành; xây dựng hồ sơ năng lực HS sau khi học xong môn Ngữ văn ở trường PT đối chiếu với khu vực, vùng miền; thiết kế thử nghiệm bảng phân phối CT môn Ngữ văn mới, thực hành thiết kế kế hoạch dạy học (một bài học hoặc một chủ đề học tập) trong CT đã phát triển.

Trên cơ sở đó, thiết kế đề cương môn học. Mỗi trường sư phạm có một mẫu đề cương môn học riêng. Tuy nhiên, cần đảm bảo các mục sau: Tên chuyên đề, mã số, thông tin chung, mục tiêu, mô tả tóm tắt, tài liệu tham khảo, nội dung chi tiết (theo từng mô đun, trong đó ghi rõ phương pháp dạy học, yêu cầu đối với HV, số tiết, tài liệu), hình thức đánh giá… Đề cương môn học phải được sự trao đổi, góp ý của Hội đồng chuyên môn, sửa chữa và thẩm định của những chuyên gia giáo dục.

3. Thiết kế đề cương bài giảng chi tiết

Việc thiết kế đề cương chuyên đề bồi dưỡng vô cùng quan trọng. Đây là bước chuẩn bị chu đáo nhất để có thể thực hiện được hoạt động bồi dưỡng một cách hiệu quả. Trên cơ sở đề cương môn học đã được chỉnh sửa và thẩm định của những nhà giáo dục uy tín, người soạn chi tiết hoá, cụ thể hoá những nội dung trong đề cương môn học. Như đã trình bày, chuyên đề cần đi vào những vấn đề thiết thực. Phần lí thuyết chỉ đưa ra khái niệm ngắn gọn, đầy đủ nhất, quy trình phải được cụ thể bằng các bước. Với quy trình phát triển CT môn Ngữ văn ở trường PT, có thể lưu ý cho HV tám bước cơ bản: bước1. Phân tích bối cảnh, đánh giá nhu cầu giáo dục; bước 2. Xác định mục tiêu; bước 3. Thiết kế nội dung CT; bước 4. Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy - học, bước 5. Lựa chọn phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá, bước 6. Thẩm định CT, bước 7. Triển khai CT, bước 8. Đánh giá CT. Ở mỗi bước, người soạn cần có những bảng biểu mẫu, những ví dụ cụ thể để HV dễ hình dung và có thể làm theo.

Phần thực hành cần tăng thời lượng, nhiệm vụ cũng cần được cụ thể hoá bằng những bài tập thiết thực. Ví dụ, ở phần thực hành phát triển CT, giảng viên giao nhiệm vụ cho HV: Nhiệm vụ 1: Thiết kế mẫu điều tra, khảo sát và đưa ra số liệu cụ thể về thực trạng dạy học Ngữ văn ở trường PT mà anh/chị quan tâm. Từ đó, đề xuất định hướng phát triển CT môn Ngữ văn ở trường đó; nhiệm vụ 2: Xây dựng CT nhà trường gắn với đặc trưng vùng miền (HV chọn một trường PT mình đang giảng dạy và công tác). Ở phần thực hành một số bước cụ thể, giảng viên cho bài tập: Phân tích phần tiếng Việt (Văn học, Làm văn) trong CT Ngữ văn PT từ đó đưa ra đề xuất cấu trúc lại CT. Trong đề cương bài giảng chi tiết, giảng viên cũng cần cụ thể hoá tri thức bằng các hoạt động thực hành và có sản phẩm mẫu. Ví dụ, hướng dẫn HV thiết kế kế hoạch theo chủ đề, giảng viên đưa ra quy trình cụ thể như sau:

Bước 1. Lý do chọn chủ đề: Vì sao lại lựa chọn và xây dựng chủ đề đó?

Bước 2. Mục tiêu của chủ đề: GV cần xác định mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và mục tiêu về năng lực.

Bước 3. Nội dung chủ đề: GV xác định được những nội dung kiến thức cơ bản cần hướng dẫn HS hình thành qua chủ đề học tập.

Bước 4. Cách thức tổ chức dạy học tích hợp theo chủ đề: GV xác định được các hoạt động dạy và học, hoạt động của GV và HS, những phương pháp và kĩ thuật dạy học áp dụng trong dạy học.

Lưu ý: bước 3 và 4 có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau:

Cách 1: Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự tuyến tính từ trên xuống dưới.

Hoạt động 1:…

Hoạt động 2:…

Hoạt động 3:…

Cách 2: Viết hệ thống các hoạt động theo hai cột: Hoạt động của GV và HS.

Hoạt động của và HS

Nội dung cần đạt

Cách 3: Viết hệ thống các hoạt động theo 3 cột: Hoạt động của GV, hoạt động của HS và nội dung cần đạt, thời gian thực hiện.

Hoạt động của GV

Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

 

Nội dung cần đạt

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Cách 4: Viết hệ thống các hoạt động theo bốn cột: Hoạt động của GV, hoạt động của HS và nội dung cần đạt, tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện.

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Nội dung chính      và thời gian

Nội dung cần đạt

Bước 5.Cách thức kiểm tra, đánh giá trong chủ đề: GV cần xây dựng bảng mô tả các mức độ và công cụ đánh giá được sử dụng trong chủ đề và thiết kế được hệ thống câu hỏi, bài tập.

4. Tổ chức bồi dưỡng

Khi đã xây dựng được một CT bồi dưỡng chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của “khách hàng” thì một việc làm cũng không kém phần quan trọng để góp phần làm nên thành công cho hoạt động này chính là tổ chức bồi dưỡng. Cách thức tổ chức bồi dưỡng cần phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhiều hoàn cảnh, điều kiện cá nhân của GV. Trước đây, hình thức bồi dưỡng thường xuyên chủ yếu là các lớp học tập trung ở các tỉnh vào dịp hè thì hiện nay cần đa dạng hóa và kết hợp nhiều hình thức bồi dưỡng như Bồi dưỡng trực tuyến (cung cấp tài liệu cho GVPT tự nghiên cứu, tạo diễn đàn trao đổi trực tuyến giữa giảng viên và GV, chia sẻ tài liệu, bài giảng mẫu, khảo sát thêm nhu cầu bồi dưỡng,…), Bồi dưỡng tập trung (Giảng viên trực tiếp hướng dẫn GV PT thực hành….), Bồi dưỡng thường xuyên, liên tục (Giảng viên thường xuyên cung cấp tài liệu, học liệu có chất lượng giúp GV phát triển chuyên môn hàng ngày hàng giờ, đáp ứng yêu cầu của CT giáo dục PT mới, duy trì kết nối qua mạng, hoặc lấy trường học làm trung tâm của các hoạt động đổi mới giáo dục chung cho cả giảng viên đại học và GVPT. Làm được như vậy sẽ thu hút đông đảo GV tham gia bồi dưỡng. Những GV tham gia bồi dưỡng có thể hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ học tập và giảng dạy mà không ảnh hưởng đến hoạt động chung của nhà trường.

5. Hình thức và phương pháp bồi dưỡng

Hoạt động bồi dưỡng của giảng viên sư phạm cần phối hợp được các hình thức dạy học cơ bản của giáo dục đại học như: diễn giảng (tương ứng với cách dạy học thuyết trình nêu vấn đề); tự học (bài tập); nghiên cứu khoa học (thực hành) và seminar (thảo luận). Việc phối hợp linh hoạt và sáng tạo trong triển khai các hình thức dạy học nêu trên sẽ làm thay đổi chức năng của giảng viên là người hướng dẫn học thay cho người truyền đạt kiến thức. Sự thay đổi chức năng này có ảnh hưởng rất quan trọng đối với GV PT bởi lẽ đội ngũ này sau khi học tập, bồi dưỡng sẽ thể hiện chức năng “hướng dẫn, tổ chức học tập” cho HS theo định hướng đổi mới CT giáo dục PT.

Các phương pháp, kĩ thuật dạy học được giảng viên áp dụng bồi dưỡng cho HV cũng cần hiện đại để làm sao mỗi hoạt động học tập mà giảng viên tổ chức cho HV chính là một hoạt động mẫu để HV có thể “bắt chước” áp dụng khi giảng dạy ở trường PT. Chú trọng tới sử dụng các phương pháp dạy học tích cực; chú ý cho HV thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình huống thực tiễn, các tình huống có tính “phức hợp”, tìm tòi khám phá, nghiên cứu, thực hiện các dự án học tập, thảo luận, thuyết trình…; quan tâm ứng dụng có hiệu quả về công nghệ thông tin; chú ý dạy học “hướng tới từng đối tượng người học” như quan tâm tới sự  khác biệt về năng lực, về đặc điểm vùng miền, sự đa dạng trong phong cách học của HV để sử dụng các phương pháp dạy học cho phù hợp. Trong đó, tích cực sử dụng các phương pháp như: Thảo luận nhóm, Đóng vai, Nghiên cứu tình huống, Dạy học theo dự án kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cực như: Chia nhóm, Đặt câu hỏi, Khăn trải bàn, Phòng tranh, Mảnh ghép, Công đoạn, Trình bày một phút, Hỏi chuyên gia, Sơ đồ tư duy, KLW(H), Đọc hợp tác, Ổ bi, XYZ, Bể cá, Tia chớp…

Chẳng hạn khi triển khai nội dung thực hành một số bước cụ thể với hoạt động rà soát, đánh giá CT PT môn Ngữ văn hiện hành, giảng viên có thể tổ chức như sau:

Hoạt động 1: Rà soát, đánh giá CT phổ thông môn Ngữ văn hiện hành

Bước 1: GV đưa ra yêu cầu cho HV:

Câu 1: Rà soát CT phổ thông môn Ngữ văn hiện hành

Câu 2: Đánh giá CT phổ thông môn Ngữ văn hiện hành

Bước 2: Yêu cầu HV điền vào phiếu học tập (áp dụng kỹ thuật KWLH: biết - muốn biết - học thêm - vận dụng).

BẢNG HỎI “KWLH”

Họ và tên: ………………………GV trường ……………………..

Câu hỏi:

1. Ưu nhược điểm của CT phổ thông môn Ngữ văn hiện hành

(GV yêu cầu HV điền vào cột K).

2. Sau khi rà soát CT, anh/chị có đề xuất gì không? (GV yêu cầu HV điền vào cột W).

3. Sau khi rà soát CT, anh/chị suy nghĩ gì? Rút kinh nghiệm gì trong xây dựng CT? (GV yêu cầu HV điền vào cột L).

4. Anh/chị sẽ làm thế nào để góp một phần công sức của mình vào công cuộc đổi mới CT Ngữ văn ở trường PT (GV yêu cầu HV điền vào cột H).

K (Những điều đã biết)

W (Những điều muốn biết)

L (Những điều đã học được sau bài học)

H (Những điều có thể vận dụng)

…………………..

……………………

……………………

……………………

…………………

…………………

…………………

…………………

Bước 3: HV điền đầy đủ các thông tin vào cột K-W-L-H.

Bước 4: GV (áp dụng kĩ thuật phòng tranh) triển lãm sản phẩm để các nhóm quan sát và trao đổi và góp ý. Sau đó, GV hỏi lại, thu sản phẩm để nghiên cứu thêm thông tin.

Bước 5: GV chốt lại và mở rộng.

Như vậy, mỗi nội dung kiến thức lí thuyết hay thực hành, giảng viên đều tổ chức hoạt động hướng đến những ứng dụng thiết thực. Như thế, hoạt động bồi dưỡng thường xuyên sẽ đáp ứng được những mục đích đã đặt ra và không còn là “bồi dưỡng giáo viên kiểu…đối phó”(1) như vẫn đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi.

6. Đánh giá kết quả bồi dưỡng

Khi đã đa dạng hóa được các hình thức, phương pháp tổ chức bồi dưỡng, cũng cần đa dạng và linh hoạt trong đánh giá để thúc đẩy quá trình bồi dưỡng hiệu quả hơn, có ý nghĩa hơn. Đánh giá không còn mang tính hình thức là những bài kiểm tra trên giấy mà phải đánh giá được năng lực của GV. Đối với loại hình bồi dưỡng trực tuyến, GV PT tham gia các khóa học phải hoàn thành các mô đun trả lời hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trước khi chuyển sang các mô đun kiến thức mới. Những GV hoàn thành tốt khóa học trực tuyến sẽ được tiếp tục tham gia các khóa học tập trung tại các cơ sở để nâng cao trình độ và phát triển năng lực. Đối với hình thức bồi dưỡng tập trung, ngoài đánh giá qua bài viết thu hoạch cá nhân hoặc sáng kiến kinh nghiệm, có thể đánh giá bằng các sản phẩm như bảng phân phối chương trình mới, bài giảng, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các hoạt động mẫu… Thậm chí, lấy chính sản phẩm là HS với những kĩ năng các em học được để đánh giá GV(2).

*

Trong bối cảnh đổi mới của giáo dục hiện nay, kĩ năng phát triển CT rất cần thiết đối với mỗi GV đứng lớp nói chung và GV Ngữ văn nói riêng. Tùy thuộc điều kiện, bối cảnh của mỗi địa phương và mỗi nhà trường mà CT có thể được điều chỉnh trong thời lượng cho phép. Một CT động, một CT linh hoạt sẽ cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn. Điều đó phù hợp với định hướng dạy học tích hợp và phân hóa trong nhà trường phổ thông hiện nay. Để phát triển năng lực của người học, thiết nghĩ các nhà trường và địa phương cần chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, đội ngũ GV và tâm thế đổi mới. Thuần thục kĩ năng phát triển chương trình, người GV sẽ tự chủ và thích ứng tốt với chủ trương giáo dục phổ thông xây dựng một chương trình, nhiều bộ SGK. Khi hướng đến mục tiêu dạy học gắn liền với đời sống, dạy học phát triển năng lực người học, môn Ngữ văn sẽ dần khẳng định lại “thương hiệu” của mình. Môn học này sẽ lại là niềm mong đợi và gửi gắm đam mê của nhiều thế hệ học sinh.

------------------------

(1) Xem http://news.zing.vn/boi-duong-giao-vien-kieu-doiphopost595348.html,

(2) Bài viết sử dụng các tài liệu chủ yếu sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Tài liệu tập huấn thí điểm phát triển CT Giáo dục nhà trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Tài liệu tập huấn Vụ Giáo dục trung học, Hà Nội; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu Hội thảo Kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ  thông, Hà Nội; Nguyễn Thị Bích (2016), Đề xuất quy trình phát triển chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 383, kì I - 6/2016;. Phạm Hồng Quang (2013), Phát triển chương trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học Thái Nguyên


---------Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Khoa Ngữ văn---------


Bài khác