Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TIẾP NHẬN TỰ SỰ HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM

TIẾP NHẬN TỰ SỰ HỌC

TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM

TS. Cao Thị Hồng

Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên

 

Với thế giới, tự sự học (Narratology) từ lâu đã không còn là một thuật ngữ xa lạ. Những vấn đề lý thuyết về tự sự học đã được hình thành một cách hệ thống và tự sự học ngày càng mở rộng và phát triển, nó đã khẳng định vai trò quan trọng của một công cụ đắc dụng trong việc khám phá, lý giải thế giới nghệ thuật ngôn từ.

Thời kỳ đổi mới, các nhà lý luận – phê bình văn học Việt Nam đã nhận thấy tự sự học ngày càng chứng tỏ tính hữu dụng của nó đối với việc nghiên cứu văn học. Hội thảo tự sự học đầu tiên ở nước ta do khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm Hà Nội tổ chức năm 2001 và tiếp đó là việc xuất bản công trình Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử (Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003) dường như là những cái mốc chính thức ghi nhận sự xuất hiện tại Việt Nam một chuyên ngành nghiên cứu văn học quan trọng ở Âu - Mỹ: chuyên ngành tự sự học.

Khảo sát các công trình dịch thuật, nghiên cứu giới thiệu và ứng dụng lý thuyết tự sự học xuất hiện trong thời gian khoảng hơn mười năm gần đây và đặc biệt là tập hợp các nghiên cứu được trình bày trong hai cuộc hội thảo về tự sự học (năm 2001, 2008) của khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, có thể nhận thấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng tự sự học đã được các nhà khoa học nước ta đón nhận, hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bước đầu đã có không ít tìm tòi, khám phá đáng trân trọng.

1. Trước hết các nhà nghiên cứu đã dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết tự sự học ở các phương diện thuộc về lịch sử phát triển, các xu hướng chung - riêng, các khái niệm của tự sự học đương đại,… Đó là các công trình như: Độ không của lối viết của R.Barthes, Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của ký hiệu học của R.Barthes, Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Sự tưởng tượng của ký hiệu của R.Barthes, Huyền Giang dịch; Thi pháp văn xuôi của Tz. Todorov, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự sự học của Susanna Onega và J.A. Garcia Landa, Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của Genette, Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của Todorov, Phùng Ngọc Kiên dịch; Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes, Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nghiên cứu Nga (chủ biên là I.P Ilin và E.A Tzurganova), Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch; Nhập môn lý thuyết trần thuật của Manfretd Jahn, Nguyễn Thị Như Trang dịch… Ngoài ra còn có các công trình giới thiệu về tự sự học của các tác giả: Trần Đình Sử, Lê Thời Tân, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Đức Dân, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thái Hòa, Hoàng Ngọc Hiến, Phương Lựu, Đặng Anh Đào, Lê Huy Bắc, Trần Huyền Sâm…

Những nghiên cứu trên chủ yếu là giới thiệu lý thuyết tự sự, ở những cấp độ khác nhau, nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu. Các nhà nghiên cứu tập trung quan tâm một số điểm cơ bản: 1/ Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của tự sự học khi xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm tự sự học; 2/ Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lý thuyết tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật trong tác phẩm văn học.

Ở các bài viết Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng(1), Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển(2), Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lý thuyết(3) các tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm, ý nghĩa của tự sự học hiện đại đối với khoa nghiên cứu văn học, đồng thời đưa ra cái nhìn toàn cảnh đối với lịch sử phát triển tự sự học. Trần Đình Sử cho rằng: “Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc”(4). Như vậy, tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời, đúng như Roland Barthes (1915 - 1980) - một trong những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái ký hiệu học Pháp nói: “Đã có bản thân lịch sử loài người thì đã có tự sự”. Từ thời Platon, Aristote con người cổ đại đã biết bàn đến và phân loại tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật. Tiếp đó đến các hình thức tự sự như: tự sự mô phỏng, tự sự giải thích, tự sự hỗn hợp được quan tâm. Từ những năm 20 của thế kỷ XX các nhà khoa học như B.Tomasepxki, V.Shklovski, V.Propp, M.Bakhtin đã quan tâm đến tự sự học ở các phương diện như các yếu tố và đơn vị của tự sự, chất liệu và hình thức, cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích, mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoại của nó. Họ là những người mở đường cho sự ra đời và phát triển của tự sự học hiện đại. Tuy nhiên, nghiên cứu tự sự chỉ thực sự trở thành một khoa học độc lập dưới ảnh hưởng của trường phái Cấu trúc luận Pháp trong khoảng thập niên những năm 60 của thế kỷ XX. Tzvetan Todorov - một trong những đại biểu lớn nhất của cấu trúc luận đã chính thức khai sinh tự sự học như một khuynh hướng học thuật khi công bố công trình Ngữ pháp Chuyện mười ngày (1969). Cái mà Todorov gọi là ngữ pháp ở đây chính là kết cấu tự sự của tác phẩm. Từ đó đến nay, mặc dù là ngành nghiên cứu còn non trẻ nhưng tự sự học đã nhanh chóng vượt qua biên giới nước Pháp, chính thức trở thành một trong những lĩnh vực học thuật mang tầm quốc tế với những tên tuổi lớn: Shklovski, B.Tomashevski, Tz.Todorov, G.Genette, Chatman, G.Prince, Rimon - Kenan, Mieke Bal, H.Whiter,... Tự sự học ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong khoa văn học và khoa học nhân văn bởi lý thuyết tự sự ngày nay đã cung cấp một bộ công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp cho người ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa.

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng nhanh chóng tiếp cận ý kiến của David Herman trong sách Tự sự học mới (1999) cho rằng tự sự học đã có những đổi thay hệ hình lý thuyết, các tầng bậc và phương pháp nghiên cứu, nó phát triển qua hai thời kỳ:  kinh điểnhậu kinh điển.

Ý thức rõ được sự khác biệt của hai thời kỳ phát triển tự sự học, các nhà nghiên cứu lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới muốn vượt thoát khỏi sự hạn hẹp của tư duy tự sự học cấu trúc một thời, hướng tới thi pháp tự sự của tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động của người đọc đến tự sự.

Từ việc tìm hiểu rõ nguồn gốc, lịch sử phát triển và nội hàm các khái niệm tự sự học các nhà nghiên cứu cũng lưu ý về thuật ngữ tự sự học (Narratology). Thuật ngữ này có nhiều cách dịch chưa thống nhất, Trần Đình Sử cho rằng nên gọi là tự sự học (chứ không nên dùng trần thuật học hay tự thuật học) bởi lẽ: “Gọi là tự sự học… nó bao gồm cả phần lý thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện, vừa bao gồm cả phần nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau. Gọi là tự sự học nói lên được thực chất và tầm bao quát của một bộ môn nghiên cứu liên ngành”(5).

Tiếp nối Trần Đình Sử, Lê Thời Tân cũng thống nhất quan niệm: “Nên dùng thuật ngữ “tự sự học”. Nhất là khi ta đã ý thức được đối tượng của trường phái, khuynh hướng học thuật này không chỉ là nghiên cứu văn học tự sự (trần thuật bằng/thông qua chất liệu ngôn từ) mà là gần như hầu hết các dạng thức tồn tại của giao tiếp nghệ thuật chất liệu khác”(6).

Như vậy, nếu khái niệm tự sự được hiểu là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tìnhkịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học, là phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người, làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó thì tự sự học (Narratology) được hiểu không đơn giản chỉ là việc kể chuyện mà là một bộ môn nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học, có nguyên lý riêng, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng để giải thích, lý giải. Trong thực tiễn,“tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” (Jonathan Culler). Ngày nay, bản chất của tự sự được hiểu là một sự truyền đạt thông tin trong quá trình giao tiếp, nó có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường khác nhau (hội họa, điêu khắc, kiến trúc, phục trang… đều là phương tiện tự sự). Nói một cách khác, mọi phương diện của cuộc sống con người đều mang giá trị tự sự, tự sự nằm trong bản chất của con người. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận trong các hình thức tự sự, tự sự văn học là phức tạp nhất, nó trở thành đối tượng chủ yếu của tự sự học. Như vậy, ngay từ bước đầu giới thiệu tự sự học ở Việt Nam, việc khái quát toàn cảnh lịch sử phát triển, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm hợp lý nhất cũng là cơ sở để ghi nhận những cố gắng ban đầu của các nhà nghiên cứu lý luận.

Giới thiệu lý thuyết tự sự học hiện đại, các nhà lý luận thời đổi mới chú ý đến hệ thống khái niệm công cụ được sử dụng trong trần thuật học - một nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự. Đó là các khái niệm trọng yếu được đặc biệt quan tâm như trần thuật học, các cấp độ trần thuật, các bậc trần thuật, tác giả ẩn tàng, tác giả hiển thị, tác giả hư cấu, người trần thuật, vai, nhân vật, người nghe chuyện, độc giả ẩn tàng, độc giả hiển thị, tiêu cự hóa, các kiểu trần thuật của vai, của tác giả, trung tính,… Đây là những kiến thức thiết yếu phục vụ cho việc tìm hiểu về truyện kể và nghệ thuật cấu trúc truyện kể trong các tác phẩm văn chương. Nhiều phương diện về trần thuật học như người kể chuyện, điểm nhìn, cấu trúc trần thuật, cốt truyện, diễn ngôn truyện kể được trình bày khá cụ thể, rõ ràng. Những quan niệm lý thuyết tự sự mới mẻ này là những tài liệu hữu ích đối với những ai quan tâm đến tự sự học và muốn ứng dụng tự sự học để nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể.

2. Mục tiêu mà các nhà nghiên cứu Việt Nam hướng đến khi tiếp nhận lý thuyết tự sự là tìm hiểu rõ nội hàm nguồn gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích, khám phá các bí ẩn của nghệ thuật tự sự, góp phần thúc đẩy phát triển, đổi mới phê bình và giảng dạy văn học. Khoảng thời gian qua chưa phải là nhiều đối với tiến trình vận động để khẳng định hết thế mạnh của một phương pháp nghiên cứu, mặc dù theo các nhà nghiên cứu những công trình khoa học dày dặn vẫn còn hiếm hoi, ít có công trình đi sâu, mức độ minh họa, lặp lại giản đơn khá nhiều nhưng bên cạnh đó có thể thấy việc ứng dụng lý thuyết tự sự vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã khởi động một cách tự tin và hứa hẹn triển vọng, xuất hiện ngày một nhiều thêm các luận văn, luận án theo hướng tự sự học, trên văn đàn các tác giả công bố nhiều bài viết sáng tạo, khám phá, lý giải thế giới nghệ thuật sâu sắc và thuyết phục. Có thể phân loại các bài nghiên cứu ứng dụng thành bốn nhóm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu văn học dân gian. Ở nhóm này có thể kể đến các tác giả Vũ Anh Tuấn, Phan Đăng Nhật, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Bích Hà, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương, Đinh Thị Khang, Nguyễn Thị Hồng Vân,…

Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ tự sự học hiện đại, các nhà nghiên cứu không dừng lại ở giới hạn chỉ thưởng thức, cảm nhận, lý giải tác phẩm mà thông qua cấu trúc tác phẩm tự sự dân gian còn làm nổi bật những nét riêng biệt của bản sắc văn hóa mỗi dân tộc. Chẳng hạn trong Tự sự học với vấn đề nghiên cứu đặc sắc tự sự dân gian Tày qua việc khảo sát liên văn bản một mô tip truyện kể Tày dạng Tấm Cám(7), Vũ Anh Tuấn quan niệm người nghiên cứu văn bản phải bóc tách được nó qua các lớp khác nhau, tìm cách cảm nhận và lý giải các dấu hiệu cốt lõi trong các lớp đó theo quan hệ cấu trúc từ đề tài chủ đề, hình thức cấu tạo cốt truyện đến các thủ pháp xây dựng hình tượng, các chi tiết nghệ thuật hàm ẩn những nguồn nghĩa khác nhau trong quan niệm nghệ thuật dân gian, để có thể tìm ra được giá trị phổ biến khách quan và phẩm chất dân gian đặc thù của tác phẩm. Với phương pháp như vậy Vũ Anh Tuấn đã tập trung nghiên cứu bản chất nghệ thuật và chức năng ngữ nghĩa của các dấu hiệu cốt lõi có ý nghĩa liên kết văn bản nối tiếp, diễn kể sự bất tử của nhân vật chính Tua Cốc (nàng Tấm). Ông phân tích liên văn bản theo kiểu tái hiện lại các lời trần thuật dưới dạng lược đồ chi tiết các phiến đoạn có vị trí nền bản của cấu trúc, kết hợp đối sánh với các phương pháp truyền thống, các kết quả nghiên cứu đặc sắc tự sự dân gian Tày, từ đó đi đến khẳng định: Tác giả dân gian Tày (Việt Bắc) qua nhiều thế hệ đã “không ngừng chọn lựa trong dòng chảy lịch sử của đời sống thực tại, tích hợp được những chất liệu Tày ổn định để xây dựng một trục cốt truyện bền vững như một hệ thống ký hiệu văn hóa hoàn chỉnh”(8). Chính quá trình tạo nghĩa trên những bình diện khác nhau xoay quanh nhân vật chính (nàng Tấm) đã khiến típ truyện mang nội dung nhân bản phổ biến được tạo nên trong một hình thức văn bản đặc thù bản sắc văn hóa tộc người. Điều này được thể hiện ở sự hài hòa giữa hình thức và ý tưởng, giữa lý đạt và tình sâu, giữa tính thực tiễn miền núi sinh động và nền tảng triết lý dân gian Tày đoạn trang và trí tuệ, cởi mở và đôn hậu.

Bên cạnh những khám phá về tự sự dân gian Tày, loại hình sử thi được các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ. Phan Đăng Nhật tìm hiểu về Hệ thống cấu trúc và sự vận hành cấu trúc của sử thi ÊĐê(9). Dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, tác giả bài viết đã có phát hiện quan trọng: Sử thi Ê Đê là một hệ thống cấu trúc có nhiều tầng bậc, nó luôn vận động, phát triển. “Sự vận hành và phát triển này không có tính chất tự thân, mà chịu sự thúc đẩy chi phối của vận động của lịch sử”(10). Như vậy, tiếp cận sử thi theo quan niệm cấu trúc hệ thống và vận động, nhà nghiên cứu đã vượt qua giới hạn của quan niệm cho rằng sử thi luôn là một tác phẩm nguyên khối, cố định, đông cứng trên mặt phẳng giấy, đồng thời đặt ra vấn đề cần nắm vững đặc điểm tự sự của sử thi (khác với văn học thành văn) khi nghiên cứu và giảng dạy sử thi, cần nhận thức lại quan niệm cho rằng sử thi chỉ tồn tại ở dạng viết, trên thực tế bên cạnh sử thi viết còn có sử thi sống (sử thi truyền miệng) luôn tồn tại và phát triển. Phan Đăng Nhật còn đi sâu tìm hiểu về Phương pháp tự sự bằng khuôn hình của sử thi Việt Nam(11). Tác giả đã tổng kết được bốn cấp độ khuôn hình sử thi cùng với ngữ nghĩa chứa đựng trong đó (khuôn hình cụm từ, khuôn hình đoạn truyện, khuôn hình chương khúc, khuôn hình tác phẩm). Từ việc tìm hiểu khuôn hình tự sự của sử thi nhà nghiên cứu cho thấy khuôn hình không phải là sự lặp lại chán ngắt, nhàm tẻ mà ngữ nghĩa bên trong các khuôn hình rất phong phú và mang ý nghĩa sâu xa. Ở đó hàm chứa “Tư tưởng, triết lý, ý niệm tôn giáo, niềm tin và ước mơ lịch sử của cộng đồng, của dân tộc”(12).

Trong bài viết nhan đề Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đam San(13), Đỗ Hồng Kỳ đã chỉ ra chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của sử thi Đam San - tác phẩm tiêu biểu của kho tàng sử thi Tây Nguyên, thông qua phân tích cốt truyện, cách biểu hiện không gian và thời gian của sử thi, vai trò của người kể chuyện. Từ những đặc điểm riêng này của sử thi Đam San tác giả bài viết muốn khẳng định: “Sử thi Đam San của người Ê Đê xứng đáng là một “chọn mẫu” để nghiên cứu sử thi thế giới với tư cách là “một hiện tượng thế giới, một đơn vị hình học để khám phá ra “những quy luật của quá trình văn học thế giới””(14). Ngoài ra các vấn đề khác như tự sự trong loại hình trữ tình dân gian, kiểu nhân vật, kiểu truyện… cũng đã có những nghiên cứu kỹ lưỡng và thuyết phục, mang đến cho người đọc cái nhìn toàn diện ở các góc độ khác nhau về văn học dân gian như góc độ văn hóa, dân tộc học và ngữ văn học.

Nhìn chung, vận dụng lý thuyết tự sự học hiện đại vào việc nghiên cứu cấu trúc tự sự dân gian, các nhà nghiên cứu Việt Nam bước đầu đã ý thức rất rõ ý nghĩa đặc biệt của công cụ khoa học này trong việc hướng đến mục tiêu nắm bắt các giá trị đặc sắc của văn học thuộc về mỗi dân tộc khác nhau trong cộng đồng Việt Nam. Tự sự học là cơ sở khoa học để mở rộng khái niệm cấu trúc văn bản và tìm hiểu nó trong các mối quan hệ đa diện với những cấp độ phong phú, từ đó có thể giải mã các tác phẩm văn học dân gian phù hợp với đặc trưng mỹ học folklore.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu văn học trung đại, gồm các nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Thanh Tùng...

Nhóm bài nghiên cứu về văn học trung đại chưa nhiều nhưng đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiện và khẳng định thêm những giá trị mới của các tác phẩm cổ điển mà trước nay còn khuất lấp bởi cái nhìn xơ cứng của lý luận đóng băng một thời. Từ cơ sở khái niệm lý thuyết về tương quan giữa cốt truyện tự nhiên (fabula) và sự trình bày nghệ thuật (siuzhet) của trường phái hình thức Nga, điểm nhìn và vị trí người trần thuật trong việc tạo thành câu chuyện của các nhà lý luận Mỹ, quan điểm của nhà tự sự học Pháp G.Genete về tiêu chí quan trọng trong tự sự học là tiêu cự, Trần Đình Sử tìm hiểu Về mô hình tự sự Truyện Kiều(15) và cho thấy đây là: “Một trong những vấn đề then chốt xác nhận tính sáng tạo của Nguyễn Du trong lĩnh vực nghệ thuật tự sự, tạo thành truyền thống tự sự Việt Nam”(16). Nếu các nghiên cứu đi trước về Truyện Kiều nghiêng về nội dung tự sự thì Trần Đình Sử bổ khuyết tiếp bằng cách đi sâu cắt nghĩa bản thân hình thức tự sự. Từ nghiên cứu mô hình tự sự tác giả cho thấy trong nghệ thuật tự sự cái quyết định là mô hình, phương thức tự sự, cách cảm nhận và biểu hiện sự kiện ấy như là một chất liệu chứ không phải là sự kiện, mặc dù sự kiện cũng quan trọng. Sự phát hiện việc chuyển đổi mô hình tự sự của Truyện Kiều đã chứng tỏ sức sáng tạo lớn của Nguyễn Du. Đây có thể coi là một cái nhìn sâu sắc, độc đáo của nhà nghiên cứu, góp phần làm rõ và khẳng định thêm giá trị, chất lượng mới của một kiệt tác trong nền văn học dân tộc.

Dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, Nguyễn Hữu Sơn trong Thiền uyển tập anh - tác phẩm mở đầu loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại(17) đã đi sâu tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật cơ bản nằm trong phương thức tự sự của tác phẩm để chỉ rõ trên thực tế đây là một tác phẩm “hỗn dung thể loại”(18). Ông cho rằng tác phẩm này ngoài giá trị văn học còn đồng thời có giá trị văn hóa hết sức to lớn. Việc nghiên cứu bộ sách như một tác phẩm văn xuôi tự sự “sẽ bao quát được tất cả các nội dung văn - sử - triết, giải thích được đầy đủ tính chất hỗn dung thể loại, sự đan xen lời đối thoại, văn xuôi và thơ ca cùng một cấu trúc văn bản tự sự, việc ghi chép tiểu sử cuộc đời thiền sư với khả năng tích hợp các yếu tố folklore”(19). Từ góc độ tự sự học để nghiên cứu Thiền uyển tập anh Nguyễn Hữu Sơn đã góp phần xác định Thiền uyển tập anh là một trong những tác phẩm khởi đầu và có ý nghĩa điển hình cho loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại.

Vũ Thanh trong nghiên cứu Những biến đổi trong nguyên tắc tự sự của truyện truyền kỳ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX(20) đã phát hiện sự thay đổi của mối quan hệ giữa hai yếu tố kỳthực, nhà nghiên cứu cho rằng cái thực dường như trở thành mục đích duy nhất của sáng tác thể loại truyền kỳ trong giai đoạn này. Xét trên một số phương diện nghệ thuật như quan hệ giữa bút pháp kỳ và thực, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tính lãng mạn của hình tượng nhân vật… thì tác phẩm truyền kỳ giai đoạn này lâu nay bị coi là “một bước lùi”, là sự “tha hóa” so với truyền thống, so với đỉnh cao Truyền kỳ mạn lục, nhưng về một số mặt khác (như tính thực tiễn, khả năng tiếp cận hiện thực, kết cấu truyện…) lại có thể coi là một bước tiến. Văn học nói chung và văn xuôi nghệ thuật nói riêng đang nghiêng dần về phía cuộc đời. Những kết luận của nhà nghiên cứu cho thấy nghiên cứu thể loại truyền kỳ từ lý thuyết tự sự học hiện đại có thể đánh giá đúng hơn những thành tựu nghệ thuật của thể loại truyền kỳ, cho thấy tính chất phức tạp và đa dạng, phong phú của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX.

Có thể thấy dù mới là bước khởi đầu nhưng lý thuyết tự sự học hiện đại đã thể hiện rõ triển vọng trong việc giúp các nhà nghiên cứu soi chiếu văn học từ nhiều góc nhìn để nhận ra sự sáng tạo và những vẻ đẹp tiềm tàng trong các tác phẩm văn học cổ điển của dân tộc.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu văn học hiện đại có nhiều nghiên cứu hơn cả, có thể điểm đến một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đăng Điệp, Lê Lưu Oanh, Bùi Việt Thắng, Phùng Ngọc Kiếm, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Nghĩa Trọng, Trần Mạnh Tiến, Lê Dục Tú, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Thị Bình, Lý Hoài Thu, Phùng Gia Thế, Thái Phan Vàng Anh…

Sáng tác văn học thời kỳ đổi mới có nhiều biến đổi về nghệ thuật. Để nhận diện và đánh giá đúng giá trị của những tác phẩm văn học trên nhiều yếu tố như nghệ thuật trần thuật, kết cấu, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu,... các nhà nghiên cứu, phê bình đã sử dụng lý thuyết tự sự linh hoạt và sáng tạo để làm sáng tỏ nhiều phương diện của nghệ thuật trần thuật từ những biểu hiện cụ thể thông qua tác phẩm. Lý thuyết tự sự học cho thấy trong tiểu thuyết sự kiện không phải là quan trọng nhất mà quan trọng nhất là ý thức, là diễn biến tâm lý của nhân vật đối với sự kiện, “trung tâm ý thức” là cái mà tự sự học quan tâm. Chi tiết trong tiểu thuyết phải lọc qua ý thức của nhân vật mới bộc lộ ý nghĩa. Vấn đề dòng ý thức được bàn đến với sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu lý luận phương Tây. Ý thức rõ về ý nghĩa và vai trò quan trọng trong kỹ thuật dòng ý thức của tiểu thuyết, Nguyễn Đăng Điệp đã phát hiện: “Nỗi buồn chiến tranh nằm trong vòng “phủ sóng” của loại hình tiểu thuyết dòng ý thức”(21). So sánh với một số nhà văn khác của Việt Nam cũng miêu tả dòng ý thức nhân vật một cách tinh tế như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, tác giả viết: “Nhưng phải đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh thì kỹ thuật dòng ý thức mới được vận dụng một cách triệt để, trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức kết cấu của tác phẩm”(22). Xoay quanh kỹ thuật dòng ý thức - một điểm nhấn nghệ thuật, Nguyễn Đăng Điệp đã làm sáng rõ một cách thuyết phục những ý nghĩa, giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi này như kỹ thuật dựng truyện, xây dựng hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, nhịp điệu, đặc biệt là tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật.

Bên cạnh đó, còn có thể thấy các vấn đề khác lạ, mới mẻ của tiểu thuyết đương đại cũng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, lý giải sáng tạo, thấu đáo từ cái nhìn tự sự học như bi kịch hóa trần thuật trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng(23) của Nguyễn Thanh Tú; Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu của văn xuôi sau 1975(24) của Nguyễn Thị Bình; Tự sự trong Cơ hội của chúa - cách tân và giới hạn(25) của Trần Văn Toàn; Cấu tứ tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp(26) của Nguyễn Văn Tùng,… Dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, những vấn đề phức tạp nhất của cấu trúc tự sự trong các tác phẩm văn học đương đại bước đầu được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Đây có lẽ là những thử nghiệm khởi đầu tốt đẹp cho những nghiên cứu sau tiếp tục có những tìm tòi, phát hiện sáng tạo để chỉ ra và đánh giá đúng những thành tựu nghệ thuật của nền văn học dân tộc.

Ngoài ba nhóm trên còn có nhóm nghiên cứu văn học nước ngoài, đó là các tác giả: Lê Nguyên Cẩn, Trần Huyền Sâm, Nguyễn Thị Từ Huy, Đào Duy Hiệp, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Thị Bích Hải, Nguyễn Thị Tịnh Thy…  Trong công trình Tự sự kiểu Mạc Ngôn(27), tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thi đã chủ yếu vận dụng lý thuyết tự sự kết hợp các lý thuyết hiện đại khác để luận giải một cách khách quan, xác đáng những thành công và giới hạn nhiều tác phẩm văn học phức tạp của Mạc Ngôn từ các phương diện đan quyện giữa tự sự truyền thống và tự sự hiện đại như người kể chuyện, chủ thể điểm nhìn, tổ chức kết cấu tự sự từ những gắn kết với người kể chuyện, đặc trưng ngôn ngữ, giọng điệu và bút pháp trào lộng... Với công trình này, lần đầu tiên toàn bộ tiểu thuyết của Mạc Ngôn được nghiên cứu một cách toàn diện. Lý thuyết tự sự đã giúp nhà nghiên cứu làm nổi bật những nét đặc sắc nhất trong nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn... Nhìn chung, những nghiên cứu dẫu chưa phải là nhiều nhưng cho thấy đội ngũ những nhà nghiên cứu Việt Nam đã cố gắng mở rộng tầm nhìn với văn học thế giới, bước đầu góp phần giúp độc giả Việt Nam cảm nhận những thành công tiêu biểu nhất về nghệ thuật tự sự trong sáng tác văn học của nhân loại.

Bên cạnh thành tựu trên, trong hơn chục năm qua không thể không nhắc đến đã có một số lượng không nhỏ các luận văn, luận án trong các trường đại học, các viện nghiên cứu theo hướng tự sự học đã góp phần giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề văn học phức tạp trong và ngoài nước.

*

Có thể thấy trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, tiếp nhận lý thuyết tự sự và ứng dụng vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã mở ra một hướng nghiên cứu mới nhiều tiềm năng. Nếu nghiên cứu văn học (đặc biệt là nghiên cứu văn học dân tộc) trước đổi mới thường nặng về miêu tả các dữ kiện bề ngoài như niên đại, bối cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử tác giả, nội dung phản ánh, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa hiện thực,… thì sau đổi mới, dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, đi sâu phân tích cấu trúc tự sự bên trong, xem xét những vận động có tính quy luật của các yếu tố, nghiên cứu văn học đã, đang và sẽ dần từng bước khắc phục những giới hạn, giúp người đọc ý thức hơn về việc tiếp nhận văn chương như tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hóa.

-----------------------

(1), (4), (5), (8), (9), (10), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (21), (22), (24), (25), (26) Trần Đình Sử (Chủ biên) (2004), Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử), Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội tr.10, 11, 22, 197, 199-214, 212, 342, 215-224, 223, 272-296, 272, 246-254, 249, 253, 401, 24, 422- 428, 409-421.

(2), (3), (6), (7), (11), (20), (23) Trần Đình Sử (Chủ biên) (2008), Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử), Phần 2, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội Tr.7, 60, 66, 185-198, 329-342, 405-417, 253, 405-417, 476-484.


Bài khác