Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ BẢN THỂ - KHÚC DU CA TÌNH YÊU TRONG ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN

HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ BẢN THỂ - KHÚC DU CA TÌNH YÊU TRONG ĐÀN TRỜI CỦA CAO DUY SƠN

PGS.TS. Hoàng Thị Huế

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

 

Cao Duy Sơn là nhà văn sinh ra và lớn lên tại thị trấn Cô Sầu, Cao Bằng, mang trong mình hai dòng máu Kinh - Tày, ông có lợi thế mà các nhà văn khác không có được, đó là sự am hiểu sâu sắc, gắn bó máu thịt với con người và vùng đất quê hương mình. Tác phẩm Người lang thang (xuất bản  1992, đoạt  giải A văn học thiểu số của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993), đánh dấu bước đầu sự thành công trên con đường văn nghiệp của ông. Sau đó là sự ra đời của Người săn gấu (1995), Cực lạc (1995), Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Đàn trời, Hoa mận đỏ (tác phẩm đã được chuyển thể thành phim Khỏa nước sông Quy). Giải thưởng Văn học ASEAN của Hoàng Gia Thái Lan năm 2009 dành cho tác phẩm Ngôi nhà xưa bên suối, vượt ra ngoài các giải thưởng  văn học trong nước, đã khẳng định tên tuổi nhà văn Cao Duy Sơn. Tập trung vào đề tài miền núi, ngòi bút tài hoa của ông đã chuyển tải thành công chiều sâu, bản sắc văn hóa của một vùng đất. Hiện nay Cao Duy Sơn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí văn hóa các dân tộc.

Tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn tập trung vào cuộc chiến chống tham nhũng, xoay quanh nạn tham ô hối lộ của những kẻ đứng đầu, lãnh đạo một số cơ quan như Đinh Xuân Ấn, Tuệ, Lương Nhân... và cuộc đấu tranh vạch trần cái xấu cái ác của những con người yêu chính nghĩa. Đó là nhóm nhà báo như Vương, Thức, Thục Vy, Bảo, và bí thư Bằng... Đan quyện giữa những tình tiết gay cấn là những xúc cảm nồng ấm, say mê trong tình yêu giữa Thức và Mỷ, giữa Vương và Diệu, đan cài quá khứ, hiện tại... trong khát vọng khám phá bản thể, như những nốt trầm, bè trầm làm dịu đi những căng thẳng, mưu mô, toan tính của đời sống thị trường. Và chỉ là bè trầm nên nhà văn cố gắng dồn nén thời gian, tóm lại trong vài dòng vài đoạn, chỉ dành số trang khiêm tốn trên hơn sáu trăm trang sách để nói về tình yêu. Nhưng càng cố gắng cho nó sự đơn giản, càng ít nói về nó, tình yêu càng say mê, lôi cuốn, và chính điều này tạo cho tác phẩm một hấp lực khó cưỡng. Kiếm tìm mình trong tình yêu để xác lập bản ngã, hữu thức hoá cảm giác về sự tồn tại, nhân vật của Cao Duy Sơn dấn thân vào hành trình tìm kiếm, cứu rỗi hữu thể ưu tư trong những mộng mơ về tình yêu, trong sự đau đớn của trái tim và những hoài niệm đầy nuối tiếc.

Không gian tiểu thuyết xây dựng trên nền rộng, đan xen giữa phố xá sầm uất, phát triển đến độ chóng mặt, là những ngôi nhà sàn thấp thoáng xa xa, lẫn giữa núi non trập trùng, mây phủ, lẩn khuất trong sương mờ, mang đặc trưng vùng cao. Không gian mở rộng đến tận cùng, xa hút tầm mắt, mang vẻ đẹp kỳ lạ, mê hoặc của cánh đồng hoa Kim phung, một loài hoa chỉ có ở vùng núi cao với sắc màu tím ngát, khiến người đọc liên tưởng đến những triền hoa sim bạt ngàn trong thơ Hữu Loan: “Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt...”.

Trên nền không gian ấy, giữa những bon chen bộn bề của đời sống kinh tế thời mở cửa, đan quyện và thu hút khó tả là những suy tư, là tình yêu của những nhân vật Vương – Diệu - Lê, Thức – Mỷ, Thục Vy... Việc thụ hưởng tình yêu như là ý thức về bản ngã, nằm trong sự thống nhất tinh thần, trong đó con người được thừa nhận qua chính hành vi yêu thương, hiến dâng, cho, nhận, “ trong tình yêu, hữu tính được hiểu và được thực hiện chân chính, bản thể nhận được sự nhập thân đến cùng, đến đích, vào trong đời sống cá thể của con người’’(1). Điều này, khiến cho mỗi cá nhân, trong sự tự do đầy đủ của nó, là một cá nhân, tồn tại trước hết cho nó, tìm được những hồi đáp cho câu hỏi: “Tôi là ai, và nếu vậy thì bao nhiêu?”(2). Những kiểu nhân vật kiếm tìm này, đã gặp trong tác phẩm của nhiều tác giả khác trong nước và trên thế giới, như hành trình tìm lại nhân hình, nhân tính của Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao, hay nhân vật khám phá bản thể và giá trị sống qua vẻ đẹp văn hoá truyền thống trong tác phẩm của Yasunari Kawabata. Và nhiều nhân vật trong Rừng Na Uy của Murakami lạc trong cuộc kiếm tìm bản ngã vô vọng, lạc trong tâm trí của chính mình. Tsukuru trong Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương của Haruki Murakami, thì “rơi vào lòng cái chết... lạc trong sự trống rỗng tối mù và im lặng như tờ”. Tazaki- không màu, một kiểu người tầm tầm, nhạt nhạt, không có gì đặc biệt, tưởng như có thể nhìn thấu suốt được. Nhân vật được xây dựng bằng thủ pháp tẩy trắng, nhân vật biến mất, và hành trình khám phá bản thể như một hành trình đậm chất siêu nhiên đến một phiên bản khác của thực tại...vv, cũng xuất hiện trong văn chương thế giới. Riêng với Cao Duy Sơn, nhân vật trong tác phẩm của ông là những con người của đời sống hiện đại, đa diện, lưỡng phân, nhưng luôn khao khát hướng đến những giá trị chân, thiện, mỹ. Vương và Thức là những con người có tâm hồn thánh thiện, đẹp đẽ, như những hạt ngọc quý, giữa cuộc đời nhiều xấu xa, thiện, ác, lẫn lộn. Nhà văn luôn dành sự ưu ái thầm lặng cho những con người, những tâm hồn sáng trong tinh khiết đó, khi để những người phụ nữ dịu hiền, tảo tần, là Diệu, Lê, Mỷ… đồng hành cùng họ trên con đường đời chông gai bất trắc. Để nhân vật tự vấn, qua những đoạn độc thoại của nhân vật, nhà văn đã khắc hoạ chân dung con người giàu tình nghĩa, sống có trách nhiệm. Là người chồng, người cha mẫu mực, nhưng Vương luôn thấy mình là người có lỗi với vợ và gia đình, do quá mải mê với công việc. Sự trân quý, yêu thương và biết ơn vợ của Vương, luôn mong cho cô mọi điều an lành..., khiến nhân vật này trở thành một kiểu người lý tưởng. Cặp đôi Vương - Thức, là những người bạn thân đồng chí hướng, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng kề vai sát cánh trên con đường chính nghĩa đấu tranh chống cái xấu cái ác. Nhân vật được khắc hoạ không chỉ ở bình diện ngoại hình, tính cách, tâm lý..., chiều sâu đời sống tâm linh, khát vọng thấu hiểu bản thân, những khát khao, đam mê, những ẩn ức... trong tầng sâu vô thức nhân vật, cũng được tái hiện qua ngòi bút tinh tế, sâu sắc của nhà văn. Nhân vật của ông, vì vậy, hiện lên chân thực, toàn diện, lung linh và đời hơn, mang màu sắc văn hoá của con người hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra chóng mặt.

Phông nền cho câu chuyện là một khung cảnh rộng mở đến tận cùng, vượt ra ngoài mọi giới hạn, ngỡ như ở một cõi khác, không phải chốn trần gian lắm nhiêu khê, bộn bề bon chen tất bật. Ngút ngàn núi non chập chùng ấy khiến nhân vật Thức thấy mình nhỏ bé, hoang vu, heo hút trong hồn để rồi bước chân như muốn tìm về lối xưa ngày cũ, dù tất cả giờ đã xa xôi ngút ngàn: “Ta trở về ngôi nhà dưới chân núi Tó. Lối nhỏ xưa cỏ mọc rậm rì lấp kín. Ngôi nhà như bị bỏ hoang, cánh cửa gỗ đã bị ai phá hỏng”(3). Đó là tâm trạng, cảnh ngộ của lối xưa, xe ngựa, hồn thu thảo, là tâm trạng của Kim Trọng khi trở lại vườn Thúy: “Trước sau nào thấy bóng người”, dấu giày xưa giờ cỏ đã phong kín, vẫn còn nguyên dấu vết xưa nhưng bóng người đã xa khuất, không thấy đâu. Tất cả chỉ còn lại nỗi hoang mang mê hoặc, rối bời của trống vắng và mất mát. Những khoảng trống, khoảng lặng của văn chương và hồn người đó, thỉnh thoảng xuất hiện trong tác phẩm của Cao Duy Sơn khiến văn chương của ông đẹp và êm đềm như thơ, khiến lòng người đọc chùng lại và thảng thốt nhận ra những quý giá nhỏ nhoi của cuộc đời, mà có thể vô tình đã bỏ qua không nhận thấy.

Niềm vui và tình yêu từ Mỷ khiến lòng Thức ngân lên điệu hát từ tâm hồn, thời gian của tâm tưởng, của những tháng ngày vui tươi rộn lên trong Thức nỗi niềm khó tả, như khúc du ca giữa thảo nguyên mênh mông, Thức và nàng cùng tay trong tay chạy xuống dòng suối chân đồi. Còn ở Vương và Diệu, tình yêu ngày xưa Diệu dành cho Vương vẫn luôn là một góc nhỏ đẹp đẽ trong tâm hồn cô, bản chất dịu hiền khiến người phụ nữ này luôn sáng ngời gương mặt đức hạnh. Người chồng cơ hội, mưu mô như Tuệ cũng chỉ là một mảnh ghép nhỏ, càng làm tôn lên bản chất tốt đẹp ấy của Diệu. Vương, dẫu bộn bề lo toan công việc, nhưng vẫn ngân nga mãi trong tâm hồn khúc du ca về những dở dang, tuyệt vọng trong tình yêu những ngày xa xưa: “Em đang bước về phía anh từ miền quá khứ, quá khứ khổ đau, quá khứ êm đềm. Con thuyền xưa đưa em về chốn thị thành, ở đấy có mây trời khác lạ. Không có sương giăng không có ánh trăng, không có những mảng luồng trôi trên sông như lá, độc khúc tiêu khâu vào đêm những âm thanh buồn vô vọng. Em đã quên lối về…”(4). Lời ca như cắt vào tim Vương nỗi buồn sâu thẳm, lời buồn từ miên man một tình yêu nồng nàn trong quá khứ, không bao giờ nguôi quên. Em đang bước về phía anh – là hình bóng thật, là hiện thực tri nhận được của hiện tại. Nhưng bóng dáng thật ấy của Diệu trong hiện tại bị trùng lấp bởi quá khứ, bởi hiện thực của tâm tưởng, của những điều bất khả giải. Những ngày tháng khổ đau, êm đềm ấy có hình bóng của người yêu dấu, với những kỷ niệm ngọt ngào không thể nào quên. Những đêm trăng mơ hồ buồn, âm vang của khúc tiêu, ai thả buông trên sông Dâng, đan vào đêm những day dứt, xao xuyến không nguôi, như một dự cảm tương lai chia lìa, phiêu tán. Bản làng và dòng sông xưa giờ đã hoang vu, heo hút, vì... “Em đã quên lối về..”. Thành thị phồn hoa tấp nập, em có còn là em xưa? Mây trời khác lạ có làm con người đổi thay?. Những dòng suy tư miên man về một mối tình buồn như thơ, khiến hiện tại và quá khứ hoà quyện, giăng mắc trong một khí hậu đặc biệt, trong đó, nhân vật như đang ghì chặt lấy ký ức như là cách níu giữ lấy bản thể đã đánh mất của chính mình. Hai không gian, thời gian, thường xuyên đan bện vào nhau, nhân vật dịch chuyển trong hai chiều không – thời gian khác nhau, hiện tại thoắt trở thành quá khứ, và ngược lại. Chính nghệ thuật xây dựng không, thời gian đa chiều, và ngôn ngữ trữ tình đậm màu sắc lãng mạn đó, đã khoác lên những trang văn của Cao Duy Sơn màu khói sương bãng lãng, thu hút một cách lạ kỳ.

Đau đớn và tiếc nuối, nhưng con người vẫn phải sống, vẫn phải đối diện với những lo toan thường nhật, chỉ mỗi khi gió mùa về, tình yêu ngày xưa lại trở về nhói buốt, xót xa. Gặp Diệu trong lần bị ốm phải vào nằm viện, Vương thấy Diệu vẫn là Diệu của ngày xưa: “nàng vẫn đẹp, không còn nét trẻ trung như ngày xưa nhưng vẫn đằm thắm, mặn mà. Giọng nàng lắng sâu”(5). Nhân vật tồn tại cùng lúc ở cả thực tại lẫn tâm tưởng trong hành trình trở về của vô thức. Đó là không, thời gian hiện tại, sân bệnh viện, nơi hai người tình cờ gặp lại nhau, và miền của ký ức, bên bờ sông Dâng, cách đây khá xa, những ngày mặn nồng yêu thương của một gã trai bị tình yêu làm cho mê muội. Khó có thể dùng lý trí để phân định quãng nào đẹp hơn quãng nào, có lẽ tình yêu đã mất khiến hiện tại nuối tiếc hơn, trống vắng hơn và quá khứ trở nên lung linh huyền ảo hơn. Các nhân vật thường bị giày vò, đau khổ bởi sự khó chiều lòng người giữa ước mơ và thực tại, giữa điều có thể và điều không thể, giữa lý trí và tình cảm.... Đánh mất tình yêu hay đánh mất chính mình? Vương luôn quay về với hoài niệm xưa như một khao khát nuông chiều bản ngã, một ước mong được là mình trong vòng tay bình yên của tình yêu xưa. Chỉ những cuộc vượt biên tinh thần, dịch chuyển không gian từ thực tại sang mơ ước ấy, mới giúp Vương được là chính Vương. Tình yêu làm thế giới trở nên lung linh, huyền ảo, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, lứa tuổi hay thời đại nào. Con người, để hóa giải buồn vui hiện tại, thường quay về với quá khứ mộng mơ. Giấc mơ là một cánh cửa của vô thức để giải toả những ẩn ức giúp nhân vật tự cân bằng, trở về với con người thật của chính mình. Nếu Freud gắn giấc mơ với bản năng vô thức con người, thì Jung coi giấc mơ là biểu hiện của trí tuệ tiềm thức. Tiềm thức chất chứa những năng lực quan sát siêu việt hơn ý thức bởi vì nhiều khủng hoảng đã qua không nằm trong ý thức của con người, tiềm thức sẽ thông báo cho chúng ta bằng giấc mơ, những điều mà ý thức không chạm tới được. Vương, giữa những bủa vây của trách nhiệm, phận vị, tưởng mối tình ngày xưa với Diệu đã chìm khuất từ tận đẩu tận đâu của cõi người. Nhưng rồi, quá khứ vẫn ùa về: “Đêm, anh bỗng mơ gặp cô bé trong chiếc áo hoa cà, nụ cười của nàng làm sáng bừng không gian quanh nơi anh đứng. Anh đưa tay định nắm lấy tay nàng áp vào ngực mình nhưng chỉ nắm được bàn tay của chính mình... Vương luôn bị nỗi nhớ ám ảnh”(6) . Tình yêu với Diệu ngày xưa vẫn hằn sâu trong anh, dai dẳng, không thể quên, hiện tại và quá khứ đan xen vào nhau tạo nên những điệp trùng tâm trạng, những đứt đoạn, u uẩn trong cảm xúc. Bao nhiêu năm đã qua, sống với hiện tại, Vương cố tránh gặp mặt Diệu, tránh chạm vào nỗi đau ngày xưa, những lúc tình cờ không tránh được, trái tim anh không kìm được thổn thức. Thời gian hiện tại và thời gian quá khứ, tâm tưởng, lúc này khó phân định, đôi khi chồng lên nhau, khiến người đọc bị cuốn vào vòng xoáy của những trái ngang trong tình cảm con người: “Vương nghe có ai gọi tên mình? Tiếng gọi khẽ vang bên tai những âm thanh quen thuộc như vọng lại từ nơi nào xa lắm. Nó không còn đủ sức làm anh run lên như ngày xưa nhưng thẳm sâu trong tim vẫn dâng lên cảm xúc bồi hồi. Vương dừng bước, phân vân, nhưng anh không cưỡng được trái tim yếu đuối run rẩy... trong ánh chiều mỏng mảnh khói sương, bỗng vang lên giai điệu ký ức...”(7) . Và, bàn chân ký ức của Vương lại lang thang tìm về những nhớ thương hình hài ngày cũ. Mải miết kiếm tìm vô vọng những tháng ngày và bóng hình xa xưa, trượt qua những vô tình để chạm vào mênh mông một nỗi buồn hoa cỏ. Đất trời đã khác xưa, Vương và Diệu cũng đã đổi thay biết bao nhiêu, nhưng trái tim, cảm xúc con người cứ vỗ hoài bước chân chốn cũ, cứ luyến lưu mãi tháng ngày đã qua.

Vương là một nhà báo, một người luôn đấu tranh vì công lý, nhưng thấp thoáng ẩn hiện một trái tim đa cảm, đa tình, nhạy bén với mọi đổi thay của cuộc đời. Những đoạn trần thuật đảo tuyến, Cao Duy Sơn sử dụng kỹ thuật dồn nén thời gian để gói trọn một quãng đời quá khứ của Vương trong một vài chi tiết nhỏ. Sự kiện và chân dung nhân vật được tái hiện trong sự đan cài giữa thực tại hiện hữu với ký ức: “Đó là tiếng lòng tiếc nuối của ngày xưa khi trạnh nhớ trận mưa rào tháng bảy, chiếc áo hoa cà, miệng cười của em, cả giọng nói run lên vì lạnh, và đêm về bên sông Dâng, ngày trước khi em về Hà Nội vào trường Đại học. Những điều ghi trong nỗi nhớ: ngày ấy đã xa rồi. Anh thấy nàng bước đến gần lắm, chỉ đưa tay là chạm vào thân thể nàng. Nàng vẫn đẹp”(8) . Tưởng đã quên, tưởng đã mòn theo năm tháng, nhưng ký ức vẫn còn gói nguyên, tươi mới những tháng năm bình dị, thiêng liêng. Tháng năm được lưu giữ trong bóng hình của Diệu, ký ức của Vương cứ dừng mãi ở khoảng vô chừng thế cuộc, nhắc nhở anh về những khoảnh khắc chẳng khi nào còn có được. Dù những tháng năm hao gầy, những hoài niệm ngày xưa chỉ có thể quay về bám víu trong tâm tưởng. Vương dẫu nhận thức ngày ấy xa rồi, nhưng vẫn thao thiết nhớ khôn nguôi giọng nói và miệng nàng cười, lý trí dẫu sáng suốt vẫn không thể cưỡng lại mong ước được đưa tay ra để chạm vào thân thể nàng, trong sự ngưỡng mộ đầy tiếc nuối rằng nàng vẫn rất đẹp. Những khát khao cháy bỏng và những nhập nhằng giữa ý thức và vô thức thẳm sâu đó của Vương, chỉ để anh thức nhận rằng cuộc đời không phải những con số, không phải tiên đề Ơclit, để tưởng rằng duy nhất chỉ vẽ được một đường thẳng mà thôi. Nhưng rồi sẽ có vô vàn đường thẳng, có vô vàn mặt phẳng... Có những hằng đẳng số con người buộc phải giải cho bằng được, tưởng rằng đã giải được đẳng số, tìm ra được đáp án đời mình, hóa ra đang giải một bài toán không có đáp số.

Trong Đàn trời, Cao Duy Sơn đã sử dụng kỹ thuật hồi cố, đảo tuyến như là một yếu tố của thời gian nghệ thuật. Hồi cố không đơn giản là đẩy lùi những phạm vi của thời gian trần thuật, mà trái lại nó tạo ra khả năng đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại và có thể dự cảm cho tương lai. Trong sáng tác của Cao Duy Sơn, những kỉ niệm cũ hiện lên thông qua sự hồi tưởng, nhân vật dịch chuyển giữa hai trục không, thời gian, những hành trình tinh thần đó ẩn chứa một triết lý nhân sinh về cuộc đời của nhà văn.

Sự xáo trộn, quay ngược thời gian này như là khát vọng, mong ước trở về với bản thể người, là sự truy nguyên trong hành trình tìm kiếm cái tôi khắc khoải, đau đớn của nhân vật “khi rảnh anh lại ra ngồi bờ sông Dâng. Cảnh vật nơi đây vẫn thế. Nhưng sao anh thấy trống vắng đến nghẹn ngào... tiếng sáo của Sẩm Ky như mang nỗi lòng của lão... khi ai oán, khi dịu êm, khi khát khao thương nhớ, đọng lại trong không gian và trôi đi theo gió một tâm trạng nuối tiếc cô đơn... Anh đã sống qua những ngày buồn bằng kỷ niệm luôn được thức dậy trong lòng và bằng cả tiếng sáo vi vu trong chiều vắng của Sẩm Ky”(9). Tiếng lượn then, một điệu nhạc cổ truyền của người Tày, được lồng trong thời gian hồi tưởng và thời gian hiện tại của nhân vật Vương, như một cách thế để vượt lên đau khổ của hiện tại, lãng quên quá khứ, Vương tìm đến tiếng sáo lượn then để hóa giải mọi buồn vui thường nhật. Để mình được tự do là mình, tìm được chính mình, Vương chọn con đường quay về với quá khứ, với tình yêu đầu mặn nồng tha thiết. Dòng sông Dâng trở đi trở lại trong tác phẩm như một ký hiệu thẩm mỹ dung chứa nhiều giá trị nghệ thuật. Dòng sông là một cổ mẫu Mẹ trong tâm thức nhân loại, dung chứa những tiên tri, hiển linh, chở che, nuôi dưỡng, là cội nguồn gột rửa, thanh sạch tâm hồn con người. Trong Đàn trời, sông Dâng gắn với tình yêu trong quá khứ của Vương và Diệu, là nơi hoá giải những u buồn hiện tại của Vương, dòng sông kết nối quá khứ xa xăm với tháng ngày hiện hữu. Nơi bờ sông xưa chứng kiến những hẹn hò, e ấp buổi đầu của hai người, cũng là nơi Vương tiễn biệt nàng ra đi về với chốn thị thành phồn hoa đô hội. Mình anh ở lại với kỷ niệm xưa và với nỗi đau mất mát quặn thắt. Tiếng sáo Sẩm Ky mở thông lối về kỷ niệm, về với ngày xưa yêu dấu. Về với dòng sông trong sự dẫn dắt vô thức, là về với cội nguồn bình an, là cách thế để Vương hóa giải những bất an của hiện hữu. Đó cũng là một phương thức để Cao Duy Sơn gởi gắm đến bạn đọc những giá trị văn hóa, nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo của quê hương mình, một cách nhuần nhị và đẹp đẽ nhất.

Những đan xen giữa hiện tại và quá khứ ấy luôn tồn tại song hành trong tác phẩm của Cao Duy Sơn, con người luôn xuất hiện trong đối sánh hai miền không, thời gian. Dù đã bao năm trôi qua, Diệu vẫn vẹn nguyên vẻ thuần hậu của một tâm hồn sáng trong: “Diệu cười, nụ cười bình thản tưởng như trên đời này không có điều gì khiến nàng bận tâm lo lắng. Bên nàng lúc này là niềm vui, nỗi buồn của mối tình đầu”(10) . Với bản tính sâu sắc, tinh tế, giàu tình nghĩa, tình yêu Diệu dành cho Vương những ngày xưa vẫn vẹn nguyên. Chính vì vậy, Diệu thờ ơ với những mối quan hệ lăng nhăng của chồng mình là Tuệ. Dẫu không gặp lại Vương, nhưng nàng luôn mong và nghĩ về anh như một nơi nương tựa, sẻ chia. Dẫu nàng biết tình yêu kia chỉ có thể chỉ là những bong bóng nước, long lanh, đa sắc nhưng chỉ đẹp khi ngắm, chạm vào sẽ vỡ tan. Tình yêu đó làm thay đổi tâm điểm cuộc sống của cô. Tâm điểm đó đã trượt từ cõi thực với những nhọc nhằn, vô cảm trong cuộc sống hờ với người chồng hèn hạ, về với cõi mơ của tinh thần, của những điều tốt đẹp tồn tại mãi trong quá khứ. Nó định vị tâm điểm cuộc sống của cả Vương và Diệu vào một cuộc sống bình thường với những hoài niệm lung linh, đẹp đẽ mà cả hai đều gìn giữ, trân quý. Hành trình quay về quá khứ của Vương được tái hiện từ nhiều điểm nhìn, xen những lời thoại một phía, những độc thoại, truy tìm câu trả lời cho quá khứ ám ảnh, day dứt, nhiều tiếc nuối. Đó cũng là hành trình tìm kiếm giá trị sống, chất lượng sống, khám phá bản thể trong một không gian thấm đẫm những trải nghiệm, những ngọt đắng của tình yêu nồng nàn, bí ẩn.

Yêu thương và trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm khiến Vương và Diệu như hai đầu xa cách, chỉ một sợi dây vô hình nối kết họ là sự cảm thông, tình yêu từ ngày xưa giờ đã chuyển thành những đồng cảm, thấu hiểu thầm lặng. Để rồi, họ cùng thận trọng chở che cho những kỷ niệm. Tuổi tác và thời gian, ý thức trách nhiệm đã khiến hai người bình tâm lặng lẽ rời khỏi nhau. Những ứng xử đẹp đẽ cao thượng đó chỉ có ở những tâm hồn thuần khiết, chưa bị vấy bẩn bởi những lợi danh, dục vọng đời thường. Ở Vương và Diệu, người đọc bắt gặp nét tinh tế, đẹp đẽ, thuần hậu trong tâm hồn của những con người thánh thiện. Tình yêu được xây dựng như một cứu cánh của tâm hồn, là chìa khoá mở cánh cửa của những khát khao kẹt trong vô thức, mở những bí ẩn của bản thể khoá kín bên trong mỗi nhân vật, hoá giải những trống rỗng và bất an, đem lại sự cân bằng thẳm sâu bên trong mỗi con người. Ý nghĩa của tồn tại hay bản thể đích thực của mỗi con người, bản chất đời sống nằm trong sự chuyển động, trong hành trình khám phá và xác lập nó. Sống là khám phá và khẳng định bản thể.

Tiểu thuyết Đàn trời không tập trung vào đề tài tình yêu, nhưng những vấn đề nhà văn đặt ra là những vấn đề của con người thời kinh tế thị trường. Những xung đột nội tâm nhân vật, những giằng xé trong tình yêu của Vương và Diệu, đấu tranh giữa giữ gìn tình cảm, bổn phận và trách nhiệm, với việc được sống với tình yêu, sống thật với mình hay sống như bổn phận của mình trong tình yêu quá khứ với Diệu, cũng là những xung đột của con người hiện đại. Khao khát được là chính mình, khám phá bản thể, là khao khát muôn đời của nhân loại, trong xã hội hiện đại, mong ước đó càng bức thiết. “Lịch sử loài người đã từng chứng kiến hai quá trình hy sinh nhân cách lớn. Quá trình đầu tiên nhân cách bị hy sinh cho quyền uy, quyền lực tôn giáo, chính trị, tinh thần. Nhân loại đã giải phóng cho sự tha hoá này bằng cách đưa con người trở lại với bản thân mình”(11) . Những cá nhân hiện đại, trong ứng xử với bản thân và xung quanh, họ “vừa tự bày ta lên trình loài người” (Trần Minh Hải), vừa tự điều chỉnh để thích nghi, phù hợp với văn hoá dân tộc, nhân loại. Xã hội cần sự sáng tạo của mỗi cá nhân, giải phóng cho mỗi cá nhân là cơ sở cho sự giải phóng cho con người (Karl Marx). Nền kinh tế thị trường với khát vọng làm giàu, lối sống thực dụng cũng có nguy cơ làm tha hoá nhân cách. Con người có thể sẽ bị hy sinh bởi quyền lực kinh tế, giá trị đạo đức cao cả, tình yêu, sức sống sẽ bị vắt cạn kiệt nếu duy nhất hoá kinh tế. Nhưng bên cạnh đó, khi mọi lằn ranh và ràng buộc dường như đã được nới lỏng, con người được tự do là mình hơn, những thử thách và cám dỗ cũng trở nên khó vượt qua hơn, thì việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống là vô cùng cần thiết. Đó là vấn đề tác giả muốn chuyển tải trong tiểu thuyết Đàn trời.

 

--------------------------

(1) Vladimir Soloviev - Siêu lý tình yêu - Nxb Văn hóa Thông tin H, 2005, tr.76.

(2) Rirchard David Precht (2011), Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu, Nxb Dân trí, Hà nội.

(3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10)  Cao Duy Sơn, Đàn trời, Nxb Văn hóa Dân tộc Hà Nội, 2006, tr.406, 191, 191, 8, 191, 191, 48, 193.

(11) Nguyễn Duy Bắc (2008) (Chủ biên), Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường hiện nay, Nxb Từ điển bách khoa và Viện Văn hoá, Hà nội, tr.131.

 


Bài khác