Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
GIÁO DỤC Ý THỨC SINH THÁI THÔNG QUA VĂN HỌC


GIÁO DỤC Ý THỨC SINH THÁI THÔNG QUA VĂN HỌC

TS. Trần Thị Ánh Nguyệt

Trường Đại học Duy Tân

Vấn đề môi trường không phải là vấn đề mới mẻ, tôi cũng tin rằng không ai không ủng hộ quan điểm bảo vệ môi trường. Nhưng vấn đề lại ở chỗ, tại sao môi trường ngày càng trở nên xấu đi, chúng ta đã thực hiện nhiều biện pháp mà rốt cuộc không đạt được những chuyển biến có hiệu quả? Điều này là do vấn đề khủng hoảng sinh thái không chỉ là vấn đề của sự phát triển kĩ thuật, vấn đề đạo đức, vấn đề của các nhà chính trị mà là cách nhìn nhận của văn hóa. Trước tình hình đó, tôi cho rằng sự nối kết liên ngành trong việc bảo vệ môi trường sinh thái trở thành một công việc cấp bách. Nếu không có một nỗ lực toàn diện cho vấn đề này, nền văn minh mà chúng ta đang sống sẽ trở thành “nền văn minh không thể chế ngự”.

1. Phê bình sinh thái và hướng nghiên cứu liên ngành

Trước tình trạng khủng hoảng môi trường toàn cầu, có rất nhiều động thái trên thế giới thể hiện sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đến các vấn đề sinh thái nhằm thức tỉnh nhân loại trước những nguy cơ đe dọa của khủng hoảng môi trường. Theo Cheryll Glotfelty, từ các sử gia đến các nhà tâm lí học, các triết gia và các nhà hoạt động tôn giáo đều đã đặt ra những vấn đề môi trường từ những năm 1970. Các nhà sử học kêu gọi “đừng coi tự nhiên như là sân khấu cho vở diễn của con người, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch ấy. Họ tìm thấy nguồn gốc của các mối quan hệ giữa hoàn cảnh môi trường với các phương thức sản xuất kinh tế và các ý tưởng văn hóa xuyên thời gian”; các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và địa lí; các nhà tâm lí học thừa nhận sự bất hòa giữa con người và thiên nhiên là nguồn gốc của các căn bệnh xã hội, bệnh tâm líkhám phá ra sự nối kết giữa hoàn cảnh môi trường và sức khỏe tinh thần, một số liên quan đến sự xa rời hiện tại đối với tự nhiên như căn bệnh cơ bản của tâm lí và xã hội chúng ta; thậm chí, các nhà thần học xác quyết môi trường là một vấn đề của tôn giáocố gắng tìm kiếm các cứ liệu trong kinh thánh chứng minh con người đã từng làm chủ trái đất một cách khôn ngoan, hợp lý”, họ cũng tìm đến những tôn giáo của người Mỹ bản địa hay các tôn giáo Phương Đông được coi là “hệ thống tôn giáo chứa đầy các tín điều sáng suốt về tự nhiên và thế giới tinh thần(1). Các nhà triết học đề xuất các vấn đề về sinh thái học xã hội, sinh thái học luân lí học với những nhánh nghiên cứu khác nhau như đạo đức môi trường (environment ethics), sinh thái bề sâu (deep ecology), sinh thái nữ quyền (ecofeminism), sinh thái xã hội (social ecology)... Phê bình sinh thái (ecocriticism) nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp về môi trường không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc nữa, nó ảnh hưởng đến sự sống mà văn học qua tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt của nó xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học. Trong truyền thống, văn học cũng đã có nói đến về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên nhưng chỉ là thể hiện tình yêu với thiên nhiên. Tuy nhiên đã đến lúc cần phát huy vai trò của văn học trong giáo dục môi trường, đưa ra những cảnh báo về sự khủng hoảng sinh thái: “hầu hết tác phẩm phê bình sinh thái chia sẻ một động cơ chung: sự lo lắng về việc chúng ta đã đi đến giới hạn của thời đại môi trường, thời điểm mà những hậu quả của hành vi con người đang tàn phá hệ thống sự sống cơ bản của hành tinh”(2).

Thực ra, không phải đến bây giờ chúng ta mới quan tâm đến vấn đề môi trường, mà những nghiên cứu về môi trường khá nhiều. Khoa học chỉ đưa ra những con số, làm thế nào để những con số tác động vào nhận thức của mọi người? Nó phải thông qua tình cảm. Những biện pháp giáo dục môi trường nếu chỉ tác động vào lí trí rất khó thay đổi, mà cần phải làm thế nào để tác động vào tình cảm, khiến mỗi người có trách nhiệm với môi trường từ ngay trong tâm thức mình. Đã đến lúc những nghiên cứu về môi trường không chỉ giản đơn là những con số mà cần tích hợp với ngành văn học để đưa ra những cảnh báo. Lợi thế của văn học là tác động về mặt tình cảm vậy nên ý nghĩa của văn học ở đây là tạo nên nội hàm mới của tính nhân văn cho lí thuyết. Cheryll Glotfelty đã đề xuất hướng liên ngành cho những vấn đề sinh thái: “Trong tương lai, chúng ta có thể mong rằng phê bình sinh thái trở thành liên ngành, đa văn hóa và mang tính quốc tế chưa từng thấy từ trước tới nay. Công tác liên ngành cũng được tiến hành và có thể được tạo điều kiện hơn nữa bằng cách mời các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực để làm diễn giả tại các hội nghị văn học và bằng việc đăng cai nhiều hơn những hội thảo liên ngành về các vấn đề môi trường”(3).

2. Giáo dục ý thức phản tư sinh thái

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khủng hoảng sinh thái hiện tại mà chúng ta đang đối mặt không phải ở bản thân hệ sinh thái mà ở cách hành xử của chúng ta. Donald Worster chỉ ra:

Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa của chúng ta. Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên. Nhà sử học, nhà phê bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa(4).

Vậy thì, văn học là nơi thích hợp nhất để thảo luận và phản biện những thói quen văn hóa và xã hội của tư duy, do đó cần thông qua nghiên cứu văn học để nhìn nhận lại toàn bộ văn hóa: Chính thái độ ngạo mạn của con người đối với tự nhiên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Thuyết loài người là trung tâm (anthropocentrism) đã tồn tại một cách thâm căn cố đế trong văn hóa phương Tây, coi con người là tinh hoa “Con người là kiểu mẫu của muôn loài” mà bỏ qua lợi ích của môi trường. Văn học phương Tây coi trọng lí tính nên hầu hết tác phẩm sử thi ca ngợi sức mạnh, trí tuệ, tài năng của con người. Các anh hùng Hi Lạp, La Mã (Iliat, Ôđixê) đều được ngợi ca với chiến thắng trên chiến trận hoặc khả năng chinh phục thiên nhiên. Văn học thời kì Phục Hưng, Ánh Sáng đều coi trọng lí tính, đồng loạt ca ngợi trí tuệ, ý chí của con người như định đề nổi tiếng của Decarter “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”. Nhìn một cách tổng thể, văn học từ cổ đại đến văn học cổ điển phương Tây đều chỉ có một nhân vật trung tâm duy nhất: con người. Khi con người lên tiếng, thiên nhiên im lặng. Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng, tất cả các phong trào nghiên cứu văn học từ trước đến nay đều lấy “con người làm trung tâm”, còn phê bình sinh thái lấy “sinh thái làm trung tâm”.

Điều này đã được Joseph Meeker chỉ ra trong công trình “Hài kịch của sự sinh tồn” (The Comedy of Survial, 1974), về sau vấn đề này trở thành cốt yếu của phê bình sinh thái và triết học môi trường: cuộc khủng hoảng môi sinh chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống văn hóa phương Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự nhiên và dành cho văn hóa thế ưu trội. Bởi vậy, phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm để nghiên cứu văn học của phê bình sinh thái đã chỉ trích lí tưởng đề cao cá nhân từ đó tạo ra một phản đề đối với tư tưởng đã ăn sâu cắm rễ vào tư duy nhân loại, để đề xuất quan niệm đề cao tính tương quan giữa cá nhân và môi trường. Và như vậy phê bình sinh thái cũng mong muốn chấm dứt tình trạng li khai hàng nghìn năm nay giữa văn hóa và tự nhiên như kiến nghị cuả Cheryll Glotfelty “Phê bình sinh thái đặt ra vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học. Như là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất; như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người và (thế giới) phi nhân(5).

Từ lâu, chúng ta đã bị mài mòn với quan niệm “con người là thước đo của vạn vật”, trong các loài, con người là kiểu mẫu, là sinh vật cao cấp, bằng trí tuệ và khả năng của mình con người có thể chinh phục, cải tạo tự nhiên. Tư tưởng đó đã khiến cho tự nhiên bị bóc lột ngày một cạn kiệt. Phải chăng, đó là căn nguyên của những vấn đề hết sức cấp bách mà chúng ta vẫn chưa giải quyết được ví dụ như nạn phá rừng. Theo thống kê của Jacques Vernier, có “hơn nửa tổng diện tích rừng nhiệt đới đã và đang bị phá hủy”, nhiều hơn các loài được đưa vào sách đỏ, nhiều hơn những loài trong sách đỏ bị tiêu diệt “Vào thế kỉ XVI, người ta ước tính rằng cứ 100 năm chúng ta mất đi một loại động vật ; năm 1900, mỗi năm ta mất đi một loài, và đến ngày nay người ta cho rằng ít ra mỗi ngày chúng ta mất một loài”(6). Những số phận của rừng, của người gắn bó với rừng trong các truyện của Nguyễn Trí trong tập Bãi vàng, đá quý, trầm hương và tập Đồ tể; trong Tìm trầm của Hoa Ngõ Hạnh hay trong một cuốn tiểu thuyết đầy bạo liệt về rừng Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên, trong một nỗ lực đầy khắc khoải của kiểm lâm đối với lâm tặc của Nguyễn Khắc Phê trong Thập giá giữa rừng sâu… khắc phục tư tưởng ngự trị một thời “rừng vàng biển bạc” rồi mặc sức khai thác nó mà không đếm xỉa gì đến việc phát triển bền vững.

Nếu như, trong văn học Việt Nam trước đó, motif cốt truyện đi săn thường thiên về cảm hứng ca ngợi sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên hoang dã, dữ dằn (Bắt sấu rừng U Minh hạ, Con heo khịt, Sơn Nam; bắt cá sấu, bắt rắn trong Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi…) thì văn học sinh thái tô nhấn về cảm giác khi tàn sát tự nhiên con người sẽ mất hết tất cả: Ông Diểu đi săn nhưng cuối cùng súng mất, ông tha bổng con khỉ, áo quần và thức ăn để lại bị tổ mối đùn hết, ông trần truồng trở về nhà (Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp); đoàn người đi săn voi, đạn lạc khiến một người chết, con voi đầu đàn bị thương được những con voi đực hợp sức đưa vào rừng sâu (Mưa đỉnh núi xa, Hoa Ngõ Hạnh); hai anh em rủ nhau đi săn, đêm tối, ngỡ tiếng chân nai Dần bắn nhầm anh Sinh (Nghiệp rừng, Triệu Hoàng Giang), … Motif truyện đi săn đương đại Việt Nam toát lên ý niệm, nếu như anh chống lại tự nhiên sinh thành ra anh thì cuối cùng sẽ trở nên trắng tay. Các nhân vật làm nghề giết hại muôn loài trong Nơi hoang dã đồng vọng (Sương Nguyệt Minh) đều bị quả báo: bố Lài làm nghề bắt rắn, sơ ý để rắn sổng hom cắn chết mẹ Lài khi cô còn ẵm ngửa, ông bỏ nghề nhưng có truyền lại cho một người học trò, anh này cũng bị rắn cắn phải chặt đứt ngón tay, bà chủ nhà hàng bị rắn cắn phải cưa chân mới cứu được mạng sống. Giết rắn, giết mèo để ăn thịt còn để lại một hậu quả dài lâu hơn, không còn loài nào để bắt chuột, nông thôn lâm vào cảnh mất mùa thê thảm, thành phố bị chuột hoành hành “Dạo này cúm gà cả nước, người ta sợ vi rút H5N1, các quán ăn nhậu dính dáng đến gà đều đóng cửa. Người ta quay sang ăn thỏ, ăn mèo. Quán Tiểu hổ mọc lên như nấm trong thành phố. Mèo ít đi thì chuột nhiều lên, đúng là một sự mất cân bằng sinh thái tai hại”, chúng thậm chí còn gặm nhấm chân đôi chân bại liệt của bà chủ chỉ còn trơ xương trắng hếu. Câu chuyện thật bạo liệt nhưng nó là lời cảnh tỉnh thật sâu sắc.

Trước tình trạng môi trường toàn cầu ngày một tồi tệ đi, một trong những vấn đề cấp thiết mà văn học đặt ra là cảnh báo về sự hủy hoại tự nhiên, sự biến đổi của môi trường sinh thái. Ứng xử ngỗ ngược của của con người với bà mẹ Trái đất đã gây ra nhiều tai họa. Con người đang phải trả giá rất đắt cho việc chúng ta trở nên tự phụ đến mức quên cả cảm thông với thiên nhiên. Vấn đề thời sự này đã được nhiều tác giả đề cập như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Ngọc Tư… đặt ra một cách bức thiết, trực diện và tha thiết. Tác giả đã phát hiện ra một chân lí thật giản dị mà nghiêm trọng: “Con người trừng trị thiên nhiên bằng cách hạ nhục, hủy hoại nó, còn thiên nhiên trả thù bằng cách: Nó biến mất” (Khói trời lộng lẫy, Nguyễn Ngọc Tư).

3. Xây dựng cảm quan đạo đức sinh thái

Chúng ta hành động như thế nào tùy thuộc vào việc chúng ta nói như thế nào. Đã đến lúc, con người cần từ bỏ thái độ bóc lột tự nhiên, tự thu nhỏ mình lại để phát triển ý thức sinh thái: tôn trọng đại tự nhiên “Ứng xử với tự nhiên phải được nâng lên thành văn hóa môi trường, thành đạo đức sinh thái”(7). Đó không phải là thái độ hạ thấp con người mà giúp con người biết sống hài hòa với tự nhiên thì mới có hạnh phúc và yên ổn. Chủ nghĩa nhân văn mới do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời thiên nhiên và văn hóa mà nối lại mạch sống ngàn đời của con người với tự nhiên, coi con người là một phần cộng sinh của tạo hóa. Văn học tác động vào tình cảm vì vậy những thông điệp mà nó mang tới sẽ đi thẳng vào tâm hồn.

Văn học từ xưa đến nay ngợi ca bao nhân vật mang vị thế chúa tể muôn loài bằng khát vọng chinh phục tự nhiên: từ Prômêtê, Hecquyn, Uylitxơ đến Hậu Nghệ, Nữ Oa, Ngu công, Sơn Tinh… Vậy nên văn học cũng có lỗi trong việc khiến cho trái đất đang ngày một kiệt quệ. Bởi vậy, sự thay đổi trong suy nghĩ liên quan đến con người với môi trường cần được đổi thay từ chính văn học, nơi thích hợp để phản biện lại những thói quen của tư duy. Để làm được điều đó, cần xây dựng chủ nghĩa nhân văn sinh thái (Ecological humanism) trong văn học: con người phải được miêu tả hài hòa trong chỉnh thể sinh thái, giúp cho tâm hồn con người trở nên phóng khoáng, rộng rãi hơn, biết yêu thương và san sẻ, nâng lên cái giá trị làm người “có khả năng giúp con người khám phá thế giới ngoài thế giới của mình, khiến con người nhạy cảm hơn với tiếng chim ngoài cửa sổ, với tiếng xao xác mơ hồ của chiếc lá lìa cành, với sự hoàn hảo của tạo hoá đối với mỗi loài và cuối cùng, là niềm kiêu hãnh thanh cao vì mình là con người, là chúa tể của muôn loài có khả năng chinh phục nó, bảo tồn nó và ban bố cho nó tấm lòng bao dung chỉ có ở con người!” (Tre hoa nở, Quế Hương)…

Đối với trẻ nhỏ, việc giáo dục môi trường thông qua tác phẩm văn học là rất dễ dàng. Trong văn học truyền thống, những câu chuyện đồng thoại (Cái tết của mèo con – Nguyễn Đình Thi, Câu chuyện của Văn Ngan tướng công – Võ Quảng, Cây lá trong vườn – Vũ Tú Nam…) đã nuôi dưỡng tình yêu của trẻ nhỏ với loài vật, cây trái xung quanh mình. Văn học ngày nay cần vận dụng những câu chuyện đồng thoại, thêm vào đó những cảnh báo môi trường để giáo dục trách nhiệm của trẻ nhỏ với trái đất. Ngày hội cuối cùng, Tạ Duy Anh; Tí “bụi”, Ả Ìa Âu, Hoa tre nở, Quế Hương, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Nguyễn Ngọc Thuần; Bầy chim chìa vôi, Nguyễn Quang Thiều… là những câu chuyện sinh thái dành cho thiếu nhi như vậy.

Khi nói đến đạo đức, chúng ta chỉ chú ý tới quan hệ con người với nhau mà ít chú ý tới quan hệ với tự nhiên. Thực chất, con người cần phải giao tiếp với cái ngoài nó, với cái phi nhân loại (nonhuman) để điều chỉnh đạo đức của mình mới có thể sống yên ổn và hạnh phúc. Cách ứng xử với tự nhiên trở thành tiêu chuẩn để đánh giá về đạo đức, trình độ văn minh, phẩm chất của nhân vật: Bác Thông một người trồng cây, chăm sóc cây xanh cho thành phố (Sống mãi với cây xanh), Đức được ca ngợi như là cứu thế của rừng (Thập giá giữa rừng sâu), bà cụ Cần mang đến niềm tin về một thế giới huyền nhiệm cứu rỗi của thiên nhiên (Bà cụ Cần và đàn chim sẻ). Những kiểu nhân vật biết lắng nghe tiếng nói của thế giới tự nhiên, biết che chở và đồng cảm với những thân phận tự nhiên câm lặng như ông lão (Cái nhìn khắc khoải, Nguyễn Ngọc Tư), ông Sáu (Biển người mênh mông, Nguyễn Ngọc Tư), Nương và Điền (Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư), em (Gió lẻ, Nguyễn Ngọc Tư), người vợ (Mùi cọp, Quý Thể), Đoan (Con chó và vụ li hôn, Dạ Ngân), Lão Sìn (Lão Sìn và con khỉ, Phạm Xuân Hiếu)… là những nhân vật cần được văn học khai thác.

Học cách yêu quý muôn loài là học cách nuôi dưỡng nhân tính. Nương và Ðiền (Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư) chứng kiến cảnh những con vịt của mình bị chôn sống, cảm thấy đau đớn đến nghẹt thở  “tôi nghe vịt - của – tôi vẫn còn thoi thóp, chúng đau đớn vì những cái cổ gãy, rối quặt quẹo… cảm nhận được cái thở hướt ngắn dần, ngắn dần của con vật sau cùng”. Con người cảm nhận nỗi đau của con vật như nhận ra nỗi đau của đồng loại: “Họ phởn phơ nói bằng thứ ngôn ngữ buồn cười (bọn chăn vịt chúng tôi chẳng khi nào dùng những chữ “chỉ thị”, “loại trừ tận gốc” hay “giải quyết dứt điểm”…). Thật đơn giản, khi nói “các người phải tiêu hủy bầy vịt”. Cha tôi cáu kỉnh gật đầu. Tôi và Điền kêu lên một tiếng buốt, ôi, những bạn – bè của chúng tôi sắp bị chôn sống nữa rồi”. Ông Khúng (Phiên Chợ Giát, Nguyễn Minh Châu) cảm thấy đau đớn, ám ảnh trước những phản thịt bò bày bán ở chợ, ông không nỡ bán con bò Khoang cho người ta giết thịt mà tha bổng cho nó về rừng. Nhớ lại Vĩnh biệt Gunxarư (Aitmatov), gia đình ông Tanưbai cuống cuồng, đau đớn như thế nào khi không chăm sóc được những con cừu mới đẻ. Cái tình thế đầy đau đớn, tiếng kêu của vật, sự biểu hiện khát sữa thèm ăn… của chúng nhắc nhở con người về một trách nhiệm nặng nề mà anh ta không làm tròn. Khi vác con khỉ đực bị thương xuống núi ông Diểu (Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp) băng bó vết thương, chăm sóc cho nó rồi cuối cùng ông thả con khỉ vào rừng như là một hành động chuộc lỗi với tự nhiên và ông đã được đất trời ân thưởng gặp loài hoa tử huyền ba mươi năm mới nở một lần. Tuệ anormal (Hoa tre nở, Quế Hương) phụ cha làm nghề bắt chó giết thịt nhưng khi chứng kiến cô gái bé nhỏ, gầy nhom lấy hết sức lực của mình ra cứu con chó thì động lòng trắc ẩn thả con chó ra và từ bỏ nghề, đồng thời suốt đời giữ một tình yêu thầm lặng, câm nín, tôn thờ cô gái bé nhỏ nhưng quyết liệt và đa cảm ấy. Tình yêu đó khiến cho anh trở thành “một người yêu vô lượng, một gã đồ tể buông cây dao trong tâm”. Người vợ (Giải vía, Hà Thị Cẩm Anh) cứu con hổ khỏi làn cung tên của người chồng, chấp nhận từ bỏ hạnh phúc riêng tư, chịu đựng sự kì thị của đồng loại để cứu vớt các sinh linh trú ngụ trong rừng.

Càng ngày, con người văn minh càng phải biết cảm thông với tự nhiên, đó cũng là lí do những tổ chức bảo vệ động vật ra đời, để lên án những hành vi trái với quyền động vật như lấy mật gấu, lấy sừng tê giác, lấy ngà voi… Tại sao việc cứu lấy các động vật hoang dã lại quan trọng? Bởi vì để cứu chúng, con người sẽ phát triển tính người, mà nhân tính lại là cái chúng ta cần có để nhân loại bền vững. Từ quyền con người đến quyền của tự nhiên là bước tiến lớn trên lộ trình nhân văn hóa con người

*

Từ những năm 1960, Cheryll Glotfelty đã đưa ra dự báo “Các trường đại học và cao đẳng của thế kỉ XXI sẽ yêu cầu tất cả sinh viên hoàn thành ít nhất một khóa học liên ngành về nghiên cứu môi trường”(8). Điều đó đã thành sự thực. Nhiều trường đại học ở Châu Âu giảng dạy khóa học “Văn học và môi trường”. Trong những năm gần đây, đó cũng đã trở thành tiêu chuẩn ở các khoa tiếng Anh của các trường đại học Mỹ. Phê bình sinh thái đã trở thành một phong trào hàn lâm ở các trường đại học Âu Mĩ, trong khi đó, ở Việt Nam dường như vấn đề này vẫn còn là những nốt dạo đầu. Trong tương lai, nhất là thiên niên kỉ mà nguy cơ sinh thái đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng toàn cầu thì tôi mong rằng vấn đề giáo dục sinh thái sẽ trở thành một vấn đề được quan tâm nhiều hơn từ các nhà giáo dục, đặc biệt là cách giáo dục thông qua tình cảm bằng những tác phẩm nghệ thuật.

 

------------------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (8) Cheryll Glotfelty (1996), Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường (trong Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press), Trần Thị Ánh Nguyệt dịch (2014), Tạp chí Sông Hương, số 305 tháng 7, tr.86 – 95.

(6) Jacques Vernier (2002), Môi trường sinh thái, Trương Thị Chí, Trần Chí Đạo dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội.

(7) Trần Thúy Anh (2011), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ (chuyên khảo), Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Nxb Lao Động, Hà Nội.

 

           ---------Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Khoa Ngữ văn---------

Bài khác