Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA JULIA KRISTEVA

TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA JULIA KRISTEVA

                                                                                                                                                           TS. Nguyễn Văn Thuấn
                                                                                                                                          Khoa Ngữ văn – ĐHSP – Đại học Huế

 

Julia Kristeva (1941 - ) là nhà triết học, phân tâm học, nữ quyền luận và là nhà tiểu thuyết Pháp gốc Bulgaria. Bà là người đầu tiên đặt ra và sử dụng thuật ngữ tính liên văn bản (intertextuality) mà giờ đây đã trở nên phổ biến như một công cụ chủ yếu trong phê bình, nghiên cứu văn học và văn hóa đương đại. Quan niệm về tính liên văn bản của Kristeva không tách rời những tư tưởng Hậu cấu trúc luận được hình thành ở Pháp vào nửa cuối những năm 1960 gắn liền với hoạt động của các nhà nghiên cứu quanh tạp chí Tel Quel (Đúng như thế). Có thể nói, phiếm ngữ luận và phiếm văn bản là tư tưởng chung của các nhà Hậu cấu trúc luận quanh tạp chí này như J.Derrida, R.Barthes, J.Kristeva, P.Sollers, M.Foucault,…Họ đồng nhất ngôn ngữ với tư duy, tư duy với văn bản viết, văn bản viết với chủ thể tư duy. Họ tuyên cáo “cái chết của chủ thể” (Foucault), “cái chết của tác giả” (Barthes), “cái chết của độc giả” (Catherine Belsey). Với họ, thế giới là một văn bản và “không có gì ở ngoài văn bản” (Derrida). Lí thuyết về tính văn bản/liên văn bản của họ cũng là lí thuyết về tính chủ thể/liên chủ thể. Khảo sát thực tiễn diễn ngôn/văn bản đối với các nhà Hậu cấu trúc trở thành khảo sát thực tiễn ý thức, tinh thần, văn hóa và văn minh nhân loại. Kristeva là một trong những bậc tiên khởi, người mở lối cho Hậu cấu trúc luận. Lí thuyết về tính liên văn bản của bà đồng bộ với tư tưởng của phong trào Hậu cấu trúc luận.

1.      Từ tính đối thoại của (nhóm) Bakhtin đến tính liên văn bản của Kristeva

Thuật ngữ tính liên văn bản được Kristeva(*) đặt ra và sử dụng lần đầu vào mùa thu năm 1966 trong tham luận về M.Bakhtin trình bày tại xêmina do R.Barthes chủ trì. Mùa xuân năm 1967, bài thuyết trình này được công bố như một tiểu luận khoa học trong tạp chí Critique (Phê bình) mang tên Bakhtine, le mot, le dialogue et le roman. Đến năm 1969, nó được in trong quyển sách quan trọng đầu tiên của Kristeva: Sèméiôtikè. Recherches pour une sémanalyse (Sèméiôtikè. Nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ phân tích ngữ nghĩa). Dù vậy, mãi đến tận năm 1980 tiểu luận này mới được chuyển ngữ sang tiếng Anh với tên là Word, Dialogue and Novel (Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết), làm thành chương 3 của cuốn sách Desire in Language: a semiotic approach to literature and art (Dục vọng trong ngôn ngữ: một tiếp cận kí hiệu học đối với văn chương và nghệ thuật). Kể từ đây, lí thuyết của Kristeva đã được Anh – Mỹ hóa và có vị thế trong thế giới toàn cầu hóa của nghiên cứu văn học, văn hóa.

Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của Kristeva với tư cách là “lí thuyết gia người Paris”. Đây cũng là một trong những công trình đầu tiên giới thiệu tư tưởng Bakhtin đến với độc giả phương Tây(1). Nhiều tư tưởng của Bakhtin như tính đối thoại, sự đối lập giữa đối thoại và độc thoại, đa thanh/phức điệu, siêu ngôn ngữ, carnival, trào phúng Menippean, giễu nhại, lưỡng trị, sự khác biệt giữa sử thi và tiểu thuyết đã được Kristeva chuyển dịch, tóm lược, bình luận, diễn giải, tinh chế, biến đổi, làm khác, bổ sung và vận dụng. Có cơ sở để đồng ý rằng tiểu luận này là “cuộc đối thoại xuyên ngôn ngữ giữa hai tình thế liên văn hóa”(2): đó là đối thoại giữa Kristeva với Bakhtin trên cơ sở di sản Hình thức luận Nga (mà Kristeva đã thu nhận trực tiếp ở quê hương Đông Âu) và Lí thuyết Pháp đương đại mà Kristeva tiếp thu và phát triển cùng những bậc thầy và đồng nghiệp khác như L.Goldman, R.Barthes, E. Benveniste, J.Lacan, M.Foucault, J.Derrida…Trên đại thể, việc Kristeva sáng tạo ra thuật ngữ tính liên văn bản để thay thế cho quan niệm về tính đối thoại/tính liên chủ thể của Bakhtin không phải là sự chuyển dịch “không trung thành” sang tiếng Pháp, cũng không phải là sự “bóp méo” đơn thuần mà là “một chiến lược cố ý”, một sự “đọc sai” (misreading)/tái diễn giải mới theo lối Hậu cấu trúc luận. Theo Celia Britton, ở Bakhtin, tính đối thoại/tính liên chủ thể biểu hiện qua ba cấp độ: 1, đề cập đến sự trao đổi bằng lời thực thụ giữa ít nhất hai người đang hiện diện sống động và những người này là những chủ thể ý thức; 2, đối thoại “tách rời” giọng nói, “có thể được chuyển nhượng cho một điểm tham chiếu cụ thể, điểm tham chiếu này không còn là một cá thể, mà là một chuỗi những nguyên tắc, những mối quan tâm và thái độ được liên kết khá chặt chẽ với nhau”; 3, “đối thoại chỉ bao gồm sự tác động lẫn nhau của vô số những giọng nói tự do, khác nhau rõ rệt, tuy nhiên, những đặc tính riêng biệt đa dạng của chúng không bồi đắp thêm lên để tạo thành một phần ý kiến cụ thể, mà thay vào đó, tạo thành một sự khuếch tán nhiều hơn ngữ cảnh gốc”(3). Kristeva đã bỏ qua hai cấp độ đối thoại đầu có tính chất thực tiễn sinh tồn và thống nhất biện chứng để tập trung khuếch đại cấp độ sau cùng vốn mang tính đa bội (plurality) nhằm hình thành lí thuyết liên văn bản. Cụ thể, Kristeva đề xuất ba chiều kích (hay ba sự phối hợp) có tính đối thoại gồm chủ thể viết (writing subject), người nhận (addressee) và ngữ cảnh (context). Vị trí của các từ/văn bản được xác định trên hệ tọa độ gồm trục ngang và trục dọc. Trục ngang biểu thị việc từ/văn bản phụ thuộc vào mối quan hệ đối thoại giữa chủ thể viết và người nhận. Trục dọc biểu thị rằng từ/văn bản được định hướng đối thoại với tập hợp văn học/văn bản trước đó hay đồng thời:

“Trục ngang (chủ thể viết – người nhận) và trục dọc (văn bản – ngữ cảnh) cùng hiện diện, làm sáng rõ một thực tế quan trọng: mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ (các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đã được đọc rồi. Trong tác phẩm của Bakhtin, hai trục đó, được ông gọi là đối thoại (dialogue) và lưỡng trị (ambivalence) không được ông phân biệt rõ ràng. Tuy nhiên, cái xuất hiện như là thiếu tính nghiêm ngặt chính xác trong thực tế lại là sự khám phá mà Bakhtin chính là người đầu tiên đưa vào trong lí thuyết văn chương: bất kì văn bản nào cũng được kiến tạo như một bức khảm các trích dẫn; bất kì văn bản nào cũng là sự hấp thu và biến đổi các văn bản khác. Quan niệm về tính liên văn bản thay thế quan niệm về tính liên chủ thể, và ngôn ngữ thi ca được đọc ít nhất cũng kép

Tại thời điểm Kristeva viết tiểu luận này, lập trường Cấu trúc luận và Phân tâm học đang bị công kích dữ dội để chuyển dần sang cái sau này được gọi là Hậu cấu trúc luận. Bởi thế, khái niệm chủ thể viết, người nhận mà bà nêu ra, trên thực tế không hoàn toàn là chủ thể-cá nhân-ý thức sử dụng ngôn từ như một công cụ mà được kiến tạo bởi ngôn từ mà anh/cô ta sử dụng. Chủ thể viết, người nhận và ngôn từ/văn bản trong lí thuyết Hậu cấu trúc luận đều là những hiện tượng “hai trong một”, nơi chủ thể đã bị văn bản ngốn nuốt, tức là, biến động và biến mất trong ngôn ngữ(4). Chiến lược làm biến động/biến mất tính chủ thể và theo đó, tính liên chủ thể (vốn đặc trưng trong các công trình của Bakhtin) biểu hiện trước hết ở chỗ: Kristeva thay thế khái niệm lời nói/ngôn từ thường được dùng trong các công trình của Bakhtin bằng khái niệm văn bản (xuất hiện hơn 50 lần/25trang tiểu luận này). Khái niệm lời nói/ngôn từ thường gợi cảm giác về mối quan hệ trực tiếp của nó với chủ thể, tức là, gợi ra sự hiện diện của chủ thể-cá nhân-ý thức sử dụng ngôn ngữ. Ngược lại, khái niệm văn bản không gợi ra một kết nối trực tiếp nào đến cái chủ thể-cá nhân-duy nhất ấy. Tiếp đó, bà đồng nhất tác giả với người đọc và văn bản, đồng thời xem văn bản như một sự đọc lại/viết lại khi phân tích mối quan hệ đối thoại giữa chủ thểngười nhận. Cụ thể, bà viết rằng, trong cấu trúc đa thanh của mỗi tiểu thuyết, người đối thoại của nhà văn “là chính nhà văn, nhưng như là độc giả của văn bản khác. Người viết đó giống như người đọc. Vì người đối thoại của anh ta là một văn bản, bản thân anh ta không quá hơn bản thân một văn bản được đọc lại như chính nó được viết lại. Cấu trúc đối thoại, vì vậy, chỉ xuất hiện trong ánh sáng của bản thân sự biến đổi, tinh chế văn bản như là sự lưỡng trị trong quan hệ với văn bản khác”. Cuối cùng, chịu ảnh hưởng của nhà ngôn ngữ học Benveniste về những từ thả nổi (shifters), về tính chất rỗng của các đại từ tôi, anh, nó (Benveniste: “Ai xưng tôi thì người ấy là tôi”)(5), Kristeva đặt ra hai thuật ngữ mới: subject of utterance (chủ thể phát ngôn) và subject of enunciation (chủ thể hành ngôn) nhằm làm rõ sự biến đổi của chủ thể khi nói và sự biến mất của chủ thể khi viết. Trong tiểu thuyết, chủ thể phát ngôn (được chấp nhận như là nhân vật nói) và chủ thể hành ngôn (được chấp nhận như là chủ thể của hành vi trần thuật) không tách biệt nhau mà cùng tồn tại, chuyển hoán, biểu hiện phương thức quan hệ đối thoại giữa chủ thể người nhận. Kristeva chỉ ra 4 trường hợp biểu hiện: a, chủ thể phát ngôn trùng khớp với độ không của chủ thể hành ngôn được xác định hoặc bởi đại từ vô nhân xưng () hoặc một tên gọi xác định, đây là kỹ thuật đơn giản nhất được thấy trong tự sự; b, chủ thể phát ngôn trùng khớp với chủ thể hành ngôn, được thực hiện ở trần thuật ngôi thứ nhất (tôi); c, chủ thể phát ngôn trùng khớp với người nhận, sản sinh bởi trần thuật ngôi thứ hai (anh) mà ngôn từ-định hướng đối tượng của Raskolnikov trong Tội ác và trừng phạt (Dostoievsky) và kỹ thuật trần thuật ngôi thứ hai trong Thay đổi (Butor) là những ví dụ; và d, chủ thể phát ngôn trùng khớp với cả chủ thể hành ngônngười nhận “trong trường hợp này tiểu thuyết trở thành một vấn đề của sự viết và biểu thị việc dàn dựng cấu trúc đối thoại của nó. Đồng thời, văn bản trở thành một sự đọc (sự trích dẫn và bình luận) tập hợp văn bản văn chương ngoài nó, và do vậy được kiến tạo như là sự lưỡng trị. Thông qua cách dùng những đại từ nhân xưng và trích dẫn nặc danh, tiểu thuyết Tấn kịch (Drame) của Philippe Sollers là một ví dụ về khả năng thứ 4 này”. Tuy nhiên, Kristeva không dừng lại ở sự phân đôi của chủ thể thành chủ thể phát ngônchủ thể hành ngôn, cũng không dừng lại ở sự biến đổi của chủ thể “qua cách dùng những đại từ nhân xưng” tôi, anh, nó; ở các công trình sau, bà hướng đến sự biến mất của chủ thể trong sự viết, với hàm ý rằng, chủ thể phát ngôn là chủ thể của hành vi tạo lời gắn với thời khắc phát ngôn trong khi chủ thể hành ngôn tập trung vào bản thân thực thể lời, cái kết quả thoát khỏi mọi sự ràng buộc thời gian cũng như sự sở hữu cá nhân và sự hồi đáp lập tức, nghĩa là, được thả nổi trong biển cả diễn ngôn xã hội. Vì vậy, tính đối thoại/tính liên chủ thể ở Bakhtin được thay thế bằng tính liên văn bản ở Kristeva tất yếu cần đến “cái chết của chủ thể/tác giả/độc giả” như các nhà Hậu cấu trúc đã tuyên cáo(6).

Sau khi tước bỏ sự thiên vị mà Bakhtin dành cho lời nói bằng cách thay thế vào đây khái niệm văn bản, đến lượt khái niệm văn bản cũng thay đổi nội hàm. Trong bài báo của Kristeva, văn bảnliên văn bản, được xác định như là “bức khảm các trích dẫn”, kết quả của “sự hấp thu và biến đổi các văn bản khác”. Kết hợp với sự giảm trừ và biến mất của chủ thể trong ngôn ngữ, văn bản trở thành hiện tượng phi cá nhân, phi nguồn gốc. Văn bản không tồn tại biệt lập mà phối kết, tương tác trong viễn cảnh mênh mông của cái gọi là ngữ cảnh được Kristeva đưa ra nhằm thay thế khái niệm hoàn cảnh xã hội ở Bakhtin. Nếu khái niệm hoàn cảnh xã hội mở cánh cửa thông ra thế giới, thì khái niệm ngữ cảnh ở Kristeva đã khép chặt cánh cửa này, đưa mỗi văn bản vào không gian mênh mông các văn bản khác nơi mà văn bản không chỉ thay thế chủ thể mà còn thay thế chính thực tại(7). Với quan điểm này, văn bản “ngốn nuốt” người khai sinh nó, rời khỏi tình huống xã hội cụ thể mà nó được kiến tạo, rời khỏi sự hồi đáp trực tiếp, tức thời của người nhận (vì người nhận trùng khớp với chủ thể/văn bản và/hoặc được văn bản hóa); văn bản quy chiếu các văn bản khác mà không quy chiếu thực tại, nó tất yếu gia nhập vào cuộc đối thoại giữa các văn bản, trở thành giao tuyến năng động của vô số văn bản, “nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đã được đọc rồi”.

Một luận điểm quan trọng nữa mà Kristeva thể hiện trong Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết là tính chất kép của cái gọi là ngôn ngữ thi ca (poetic language). Trong các công trình của Bakhtin, ngôn từ tiểu thuyết mang các đặc tính lai ghép, nhị trùng thanh và dị hành ngôn. Tức là, một kiểu ngôn từ mang bản chất đối thoại, lưỡng trị và carnaval hóa, luôn chứa đựng một “tha tính” trong lòng nó. Với Kristeva, ngôn ngữ thi ca không chỉ là ngôn từ trong tiểu thuyết mà còn mở rộng sang thơ ca và các kiểu loại văn bản khác miễn là những sự thực hành ngôn từ đó từng bước thoát khỏi tính logic, tính thống nhất, tính đơn trị, tính độc thoại, nhằm đến sự phi logic, tính đa bội, tính lưỡng trị và tính đối thoại. Tính kép như là bản chất của ngôn ngữ thi ca chính là cái trạng thái đối thoại/lưỡng trị của mỗi văn bản. Bà viết: “Đối thoại và lưỡng trị dẫn tôi đến kết luận là, bên trong không gian nội tại của văn bản cũng như bên trong không gian của các văn bản, ngôn ngữ thi ca là kép” và, “Tính kép đó sẽ là sự tương hợp tối thiểu thuộc một kí hiệu học rối ngữ pháp (paragrammatic) được khai triển bắt đầu từ tác phẩm của Saussuare (về “Phép đảo tự/Anagrams”) và Bakhtin”. Tính kép này là sự vận dụng và phát triển các quan điểm của Saussure về phép đảo tự thi ca và của Bakhtin về tiểu thuyết đa thanh và diễn ngôn Menippean, là sự công kích chống lại những nền tảng của logic học phương Tây cũng như phép biện chứng nhằm đề xướng một logic khác [tức (logic 0-2) thuộc về triết học đa bội, đối lập với kiểu logic Aristotle, Hegel (logic 0-1) thuộc về triết học thống nhất, biện chứng]. Theo đó, ngôn từ thi ca hay văn bản văn chương vừa thuộc về “một sự sắp đặt văn bản” nhất thời, vừa thuộc về văn bản xã hội và lịch sử, tức là mang tha tính tự bản chất. Vì là hiện thân của tha tính, ngôn từ thi ca ngầm chứa sức mạnh kháng cự, nổi loạn, lật đổ mọi quyền uy độc thoại, do đó nó có tính cách mạng.

2.      Tính liên văn bản là tính năng sản văn bản

Những quan niệm về ngôn ngữ, chủ thể, văn bản và tính liên văn bản được Kristeva triển khai trong tiểu luận Ranh giới văn bản (The Bounded Text – tên chương 2 cuốn sách Desire in Language: a semiotic approach to literature and art, nguyên tên là Le Texte clos (“The closed text”) trong cuốn Sèméiôtikè) đóng vai trò bổ sung cho tiểu luận Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết trong việc định hình lí thuyết liên văn bản. Cụ thể trong tiểu luận này Kristeva diễn giải rõ hơn cách thức mà một văn bản được tạo dựng từ những diễn ngôn đã tồn tại sẵn rồi cũng như cách thức nó tương tác, chuyển hoán, rời chỗ ra sao trong phạm vi của cái bà gọi là văn bản xã hội-lịch sử (historical-social text). Bà viết:

“văn bản có tính sản xuất (productivity), và điều này có nghĩa: thứ nhất, quan hệ của nó đối với ngôn ngữ nơi nó bị đặt định là sự tái phân bổ (kiến tạo – giải kiến tạo), và vì vậy có thể được tiếp cận thông qua các phạm trù logic tốt hơn là các phạm trù ngôn ngữ học; và thứ hai, văn bản là một sự chuyển hoán (permutation) của các văn bản, một tính liên văn bản: trong không gian của một văn bản, một số phát ngôn, rút ra từ những văn bản khác, giao hoán (intersect) một văn bản khác và trung giới hóa (neutralize) một văn bản khác nữa”.

Tức là, văn bản có đời sống năng động trong ngôn ngữ, được hình dung như một tính năng sản văn bản. Văn bản luôn được tái phân bổ, hoán đổi, bao gồm trong nó tiến trình chuyển hoántrung giới hóa. Sự trung giới hóa không phải là sự hủy bỏ, triệt tiêu lẫn nhau mà đúng hơn là sự tương tác cân bằng, “bằng sự chuyển hoán với các văn bản khác trong trao đổi liên văn bản, các vật liệu văn bản trước đó mất trạng thái đặc biệt, bởi vì mọi liên văn bản là quan trọng ngang nhau trong tiến trình liên văn bản”(8). Trong ý nghĩa này, văn bản không phải là một khách thể mang tính cá nhân, cô lập, trọn vẹn, khép kín, đông cứng, tĩnh tại, định tâm, theo trật tự tôn ti thứ bậc bất bình đẳng mà là một liên văn bản, sản phẩm của một sự chuyển hoán, trung giới hóa các văn bản khác. Trong cách nhìn giải trung tâm (decentering) này, văn bản thoát khỏi phạm trù ngôn ngữ học của quan hệ cái biểu đạt/cái được biểu đạt khép kín và thuộc về các phạm trù logic xuyên ngôn ngữ (translinguistics). Để kết nối văn bản với văn hóa và lịch sử, với phạm trù logic xuyên ngôn ngữ như một hệ thống mở, Kristeva xem văn bản có “chức năng phối kết”, cái mà bà gọi là ideologeme. Bà viết:

“Ideologeme là sự giao hoán của một sự sắp đặt văn bản (một thực tiễn kí hiệu) với những phát ngôn (những chuỗi) mà nó hoặc đồng hóa thành không gian của chính nó hoặc thành không gian mà nó tham chiếu trong không gian của các văn bản bên ngoài nó (những thực tiễn kí hiệu). Cái ideologeme này có chức năng liên văn bản được cho là “vật liệu hóa” tại các cấp độ cấu trúc khác nhau của mỗi văn bản, và giản nở theo toàn bộ chiều dài quỹ đạo của nó, cấp cho văn bản ấy những sự phối kết lịch sử và xã hội. Đây không phải là bước diễn giải đến sau sự phân tích nhằm giải thích “như là ý thức hệ” cái đã được “nhận thức” đầu tiên “như là ngôn ngữ học”. Quan niệm về văn bản như là ideologeme xác định rõ phương thức của một kí hiệu học mà, bằng việc nghiên cứu văn bản như là tính liên văn bản, xem xét nó trong lòng (văn bản của) xã hội và lịch sử. Cái ideologeme này của một văn bản là sự nhấn mạnh vào chỗ biết nắm bắt thích đáng không những sự biến đổi của các phát ngôn (đối với chúng văn bản không thể giản lược) cài lồng trong một tổng thể (văn bản) mà còn cài lồng tổng thể đó vào trong văn bản lịch sử và xã hội”

Chức năng phối kết của văn bản cho thấy, không văn bản nào tồn tại độc lập, ổn định, cố định, nhất quán. Sự tồn tại của mỗi văn bản mang tính kép và rất năng động: vừa ở sự phối kết các phát ngôn thành “một sự sắp đặt văn bản”, vừa ở tiến trình phối kết văn bản đó với “lịch sử và xã hội” – cái “lịch sử và xã hội” mang tính văn bản. Nghiên cứu văn bản như chức năng phối kết qua tiểu thuyết Jehan de Saintré của Antoine de La Sale viết từ 1456, Kristeva nhận thấy, văn bản tiểu thuyết này là một liên văn bản, một “bức khảm không đồng nhất các văn bản”. Jehan de Saintré không chỉ là sự phối kết giữa các phát ngôn tạo thành “một sự sắp đặt văn bản” (của La Sale hướng tới độc giả, của nhân vật hướng tới tác giả - chủ thể phát ngôn [thuộc] tiểu thuyết và hướng tới độc giả - người nhận phát ngôn [thuộc] tiểu thuyết v.v, ) mà còn là sự phối kết văn bản trước đó của La Sale (những văn bản mang dấu vết “khoa học” hoặc những ghi chép về các chuyến du hành) và các tác phẩm, thể loại, hình tượng thuộc về lịch sử văn chương trung đại chứa các văn bản kinh viện, văn bản thơ ca cung đình, văn bản văn chương truyền khẩu thị dân và diễn ngôn carnaval(9). Như vậy, với chức năng phối kết, chuyển hoán và trung giới hóa, ranh giới văn bản không khép kín ở các quan hệ nội văn bản mà ở văn bản xã hội và lịch sử.

Cũng như các nhà Hậu cấu trúc luận khác, Kristeva phê phán quan niệm Cấu trúc luận xem ngôn ngữ như là một hệ thống biểu nghĩa ổn định, cố định, có thể truyền tải rõ ràng các ý tưởng, tri thức và vì thế có thể được giao tiếp, mua và bán như là hàng hóa (lưu ý rằng, trong tiếng Pháp, chữ commerce có nghĩa là sự giao tiếp, sự mua bán). Trong công trình Cách mạng Ngôn ngữ Thi ca (Revolution in Poetic Language, 1984), Kristeva dành toàn bộ phần I quyển sách để tập trung làm rõ mối quan hệ giữa hai mô thức biểu nghĩa không hoàn toàn tách biệt: cái kí hiệu (the semiotic) và cái biểu tượng (the symbolic) trong tiến trình biểu nghĩa (signifying process). Cái kí hiệu tương ứng với sự biểu đạt được thấy trong âm nhạc, vũ đạo và thơ ca, có nguồn gốc từ cảm giác, ham muốn, xung năng vô thức của chủ thể thời kì tiền-Oedipus (infant) và không phải là đối tượng cho những quy tắc cú pháp thông thường. Ngược lại, cái biểu tượng có nguồn gốc trong ý thức sau thời kì infant, là sự biểu nghĩa dựa vào ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống kí hiệu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp và cú pháp, mô thức này cố gắng giảm thiểu ở mức thấp nhất có thể tính lưỡng lự, mơ hồ của sự biểu đạt – thường thấy trong diễn ngôn của các nhà khoa học và logic học. Cái biểu tượng hướng tới sự biểu nghĩa ổn định, xác định, rõ ràng, ngược lại, cái kí hiệu có khả năng gây bất ổn chính sự biểu nghĩa ổn định, xác định, rõ ràng đó. Trong nhãn quan Cấu trúc luận, cái biểu tượng thuộc về cực văn hóa, tinh thần, ý thức, lí tính trong sự đối lập hoàn toàn với cực bên kia: cái kí hiệu, tự nhiên, thân xác, vô thức, cảm tính. Ngược lại, trong nhãn quan Hậu cấu trúc, hai cực đối kháng trên đây lại tương hợp và gắn bó với nhau trong thế lưỡng trị. Kristeva cố gắng chỉ ra sự tương tác, trơn trượt, chao đảo giữa hai cực biểu nghĩa trong thế lưỡng trị đặc trưng cho tính kép của ngôn ngữ thi ca. Chúng ta có thể hình dung đời sống của cái kí hiệu cái biểu tượng cũng như mối quan hệ của chúng qua diễn ngôn của Molly ở phần cuối tiểu thuyết Ulysses của J.Joyce:

“Ô dòng chảy xiết thẳm sâu kinh khủng ấy và biển biển đỏ thắm như lửa và những hoàng hôn huy hoàng và những cây sung ở những khu vườn Alameda ờ phải và tất cả những con phố nhỏ kì dị và những ngôi nhà hồng và xanh và vàng và những vườn hoa hồng hoa nhài và cây phong lữ và xương rồng và Gibraltar hồi con gái mình đã là một Bông Hoa núi ờ phải khi mình cài bông hồng lên tóc giống như con gái miền Andalusia hay mình lẽ ra đã cài một bông màu đỏ ờ phải và khi anh hôn mình dưới bức tường thành kiểu Moorish mình tự nhủ anh ấy hay một anh khác cũng thế thôi và rồi mình đưa mắt ra ý bảo anh hãy cứ nài nữa đi ờ phải và rồi anh hỏi xem mình có muốn ờ phải muốn nói ờ được không bông hoa núi của anh và trước tiên mình vòng tay quanh người anh ấy ờ phải và mình đã níu anh ấy xuống để anh hít hà cặp vú mình thơm phức ờ phải và trái tim anh ấy đập như điên và ờ phải mình nói ờ phải em muốn lắm ờ phải” (dựa theo trích dịch của Đặng Anh Đào trong Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại,  NXB ĐHQG, Hà Nội, 2001, tr75)

Chúng ta có ở đây một chuỗi ngôn từ không hoàn toàn logic nhưng cũng không hoàn toàn là nhịp điệu âm nhạc. Mỗi từ vẫn có một ranh giới và ý nghĩa rõ ràng trong một trật tự cú pháp bị đảo lộn hoàn toàn. Như vậy, cái kí hiệu vẫn sẽ như một hằng số đồng hành cùng cái biểu tượng trong mọi sự giao tiếp. Nói cách khác, mỗi văn bản là một vũ đài tranh đấu giữa hai địch thủ mà không ai bị đẩy hoàn toàn khỏi sàn đấu: một bên có xu hướng ổn định, rõ ràng, logic; bên kia, bất ổn, mơ hồ, phi logic. Tính kép này không chỉ trong phạm vi nội tại của “sự sắp đặt văn bản”, nơi cái biểu đạt vừa tuân phục vừa chống đối cái được biểu đạt, mà còn trong phạm vi của vô số mối quan hệ trải dài bên ngoài văn bản, trong những mã ý thức hệ của diễn ngôn tập thể (ideological codes of collective discourse), của văn bản xã hội-lịch sử. Kristeva làm rõ thêm điều này ở chương 12, Genotext Phenotext. Khái niệm phenotext (văn bản đã thành) nhằm chỉ một cấp độ của văn bản văn chương có cấu trúc rõ ràng, mang tính giao tiếp, biểu hiện tiếng nói của một chủ thể nhất quán, đơn nhất. Khái niệm genotext (văn bản đang thành) là cấp độ văn bản bắt nguồn từ cảm giác, xung năng và ham muốn vô thức, được nhận ra trong phạm vi của các phương tiện mang tính âm vị học như ngữ điệu, nhịp điệu và có thể cả trong sự tổ chức văn bản. Như vậy, mỗi văn bản văn chương mở ra hai cấp độ: cấp độ cái kí hiệu – genotext là một tiến trình mà tác giả tổ chức, biểu hiện xung năng kí hiệu và cấp độ cái biểu tượng – phenotext là một phần giao tiếp được cấu trúc và sơ đồ hóa. Mallarmé, Lautréamont – “những thi sĩ bị nguyền rủa” được Kristeva phân tích trong công trình này đích thực là những nhà cách mạng ngôn ngữ thi ca. Họ vứt bỏ cách sử dụng thông thường của ngôn ngữ mà theo họ chỉ nhằm hướng đến chức năng giao tiếp vị lợi, hướng đến quy chiếu hiện thực hời hợt. Thay vào đó, họ sử dụng một thứ từ vựng đặc sắc, đa nghĩa trong một cú pháp đảo lộn, rối tung; kết hợp giữa những con chữ vừa rất cân nhắc vừa có sự ngẫu nhiên tình cờ; phá bỏ các quy tắc về ý nghĩa, thoát khỏi mọi sự kiểm soát của lí trí, biến thơ ca thành trò ảo thuật các kí hiệu, ma thuật của ngôn từ, của sự phối trộn hình ảnh, cảm giác, nhịp điệu…nhằm “thể hiện cái điều chưa được biết đang thức tỉnh trong thời đại của họ”. Theo Kristeva, Mallarmé, Lautréamont cũng như Joyce, Proust, Kafka, Beckett, Sollers…là những nghệ sĩ tự ý thức tháo gỡ sức mạnh của cái kí hiệu, còn văn chương trước đó, ngay cả với Dostoievsky, dù là đại diện ưu tú nhất của tiểu thuyết đa thanh, vẫn chủ yếu thuộc về cái tượng trưng. Điều này không mâu thuẫn, bởi vì mặc dù tính liên văn bản là một hiện tượng mang tính phổ quát (thuộc ngôn ngữ), không nảy sinh ở một thời khắc nhất định nào trong lịch sử văn học, nhưng đặc tính rõ rệt nhất của tiến trình liên văn bản lại kết tinh ở văn học tiền phong, ở các nhà hiện đại – hậu hiện đại.

3.      Tính liên văn bản/sự chuyển vị

Để thuật ngữ tính liên văn bản không bị hiểu lầm chỉ như là nghiên cứu ảnh hưởng/nguồn gốc” hoặc chỉ như là cách thức các văn bản giao cắt nhau, trong chương 8 phần I công trình nêu trên, Kristeva đề nghị dùng thuật ngữ sự chuyển vị (transposition) để thay thế. Bà viết:

“Thuật ngữ tính liên-văn bản biểu thị sự chuyển vị của một (hay nhiều) hệ thống ký hiệu vào trong hệ thống ký hiệu khác; nhưng vì thuật ngữ này thường dẫn đến cách hiểu quen thuộc như là “nghiên cứu nguồn gốc”, chúng tôi đề nghị thuật ngữ sự chuyển vị (transposition) bởi vì nó chỉ định rằng hành trình từ một hệ thống biểu nghĩa này đến hệ thống biểu nghĩa khác yêu cầu một sự khớp nối mới đối với chủ đề này – về tình thế hành ngôn và biểu niệm. Nếu thừa nhận rằng mỗi thực tiễn biểu nghĩa (signifying practice) là một khu vực chuyển vị của vô số hệ thống biểu nghĩa (một liên-văn bản), thì điều này có thể hiểu là chính “không gian” hành ngôn và “đối tượng” được biểu thị không bao giờ đơn độc, hoàn tất, đồng nhất mà luôn luôn đa bội, biến động, có khả năng kiến tạo. Trong phương cách này tính đa nghĩa [các cấp độ hoặc các kiểu loại ý nghĩa] cũng có thể được xem như là kết quả của một sự đa trị [thuộc] kí hiệu học (a semiotic polyvalence) – một sự kết dính các hệ thống kí hiệu khác”.

Như vậy, tính liên văn bản/sự chuyển vị có lẽ không chỉ là chuyện văn bản này được nhúng trong văn bản khác, hoặc văn bản này chịu ảnh hưởng từ các văn bản khác với tư cách là nguồn/đích, có lẽ cũng không đơn giản chỉ là mạng lưới các ám chỉ và trích dẫn, thậm chí có lẽ cũng không phải chỉ là một bức chạm khảm các văn bản, một mạng lưới không giới hạn các ý nghĩa bị trì hoãn. Tính liên văn bản/sự chuyển vị “tồn tại như một siêu cấu trúc kí hiệu học, một điều kiện thiết yếu cho hệ thống ngôn ngữ thực hiện chức năng”(10), “một quan hệ logic của X và/hoặc không X, một logic khác”(11) (tức cái logic 0-2 mà Kristeva đã phân tích trong Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết, khác biệt với cái logic 0 -1 truyền thống kiểu Aristotle “X không phải là không X”). Tính liên văn bản/sự chuyển vị biểu thị khả năng trao đổi, chuyển hoán từ thực tiễn biểu nghĩa này vào trong thực tiễn biểu nghĩa khác. Đó không phải là khả năng rời chổ để được tái phân bổ, tái sử dụng trong một sự sắp đặt hiện thời mới mà phải là khả năng biểu hiện cái kí hiệu, trao đổi, chuyển hoán tình thế hành ngôn và biểu niệm, là khả năng biến đổi và biến mất của chủ thể trong ngôn ngữ nhằm đưa đến một địa vị phán truyền mới cho mỗi thực tiễn biểu nghĩa, là khả năng “nổ tung và phân tán”, “triển hạn đến vô cùng” của văn bản. Có thể hình dung sự khác biệt này qua hiện tượng sử dụng điển tích, điển cố trong văn học cổ điển (một sự rời chỗ và tái phân bổ) và hiện tượng giễu nhại/phỏng nhại trong tiểu thuyết hiện đại – hậu hiện đại (một sự chuyển hoán, biến đổi nhằm đưa đến một khả năng biểu hiện mới). Sự chuyển vị giữa các hệ thống kí hiệu khác nhau như hệ thống có tính chất ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ, thẩm mỹ hoặc phi thẩm mỹ…cho thấy rõ hơn khả năng biến đổi, chuyển hoán và biểu hiện của mỗi tiến trình liên văn bản. Chẳng hạn, sự chuyển vị từ hệ thống văn bản Kinh thánh sang hệ thống kí hiệu tranh thánh hoặc từ sáng tác văn học của Nguyễn Huy Thiệp sang điện ảnh của Đặng Nhật Minh, từ nguyên bản thơ sang nhạc phổ thơ của Phạm Duy. Sự chuyển vị trong cùng hệ thống kí hiệu ngôn ngữ nghệ thuật cũng chịu những áp lực của quy phạm thể loại tác động đến khả năng biến đổi, chuyển hoán, biểu hiện, thay thế. Từ Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân đến Truyện Kiều của Nguyễn Du tất yếu có mối quan hệ liên văn bản, nhưng từ thể loại tiểu thuyết chương hồi (đặc sắc Trung Quốc) đến truyện thơ (đặc sắc Đông Nam Á) đòi hỏi phải vượt qua những áp lực chuyển vị đặc thù. Đối với Kristeva, mỗi thực tiễn biểu nghĩa không bao giờ đơn giản và thống nhất mà là kết quả tương tác năng động của vô số nguồn gốc hoặc cảm giác, xung năng, ham muốn, do đó nó không sản sinh ý nghĩa đơn nhất, đồng dạng. Nghiên cứu sự chuyển hoán của các thực tiễn biểu nghĩa với nhau thực chất là trở về với vấn đề động năng của chủ thể tính, tức là chủ thể trong quá trình, biến động và biến mất trong ngôn ngữ(12).

Kristeva là một trong những nhà tư tưởng quan trọng trong thời đại ngày nay. Tính chất quẫy đạp, lật đổ, nổi loạn trong các công trình lí thuyết và thực hành của bà khiến nó trở thành trung tâm của các tranh luận lí thuyết ở phương Tây(13), gợi hứng cho nhiều nghiên cứu khác tiếp diễn ở phương Đông(14). Bà đã giới thiệu một phương pháp mới để phân tích các tác phẩm văn học: xem xét các văn bản như sự chuyển hoán, phối kết của các văn bản và các cũng như sự sản xuất ý nghĩa mang tính đa bội, đặt định tình thế của chủ thể trong văn bản xã hội – lịch sử. Tuy vậy, kí hiệu học của Kristeva nói chung và lí thuyết liên văn bản kiểu Hậu cấu trúc luận do bà khai sinh và thực hành nói riêng không phải đã nhận được sự thống nhất hoàn toàn. Trước hết, việc Kristeva không quan tâm đến vấn đề hình thức, thể loại đã rõ là một hạn chế, bởi mọi sự chuyển vị đều tuân phục/chống lại các luật chơi mà hình thức, thể loại chính là một biểu hiện của luật chơi đó. Thứ hai, những biến đổi rộng khắp và tinh tế mà Nguyễn Du thực hành với Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân thể hiện qua Truyện Kiều, mà Joyce thực hành với Odyssey của Homer thể hiện ở Ulysses cho thấy thiên tài và phong cách sáng tạo của Nguyễn Du, Joyce. Chủ thể/Tác giả văn chương vẫn hiện diện ở đó và vẫn là một tham chiếu cần thiết cho mọi sự diễn giải. Mặc cho mọi văn bản đều có tính liên văn bản nhưng không thể đánh tráo văn bản của mình của người, sự tan loãng trong nhau của các văn bản không xóa mất sự hiện diện của văn bản văn chương như một hiện tượng tinh thần, thẩm mỹ độc đáo. Nói cách khác, vẫn luôn có sự khác biệt giữa các phong cách cá nhân, giữa sự viết lại/đọc lại này và sự viết lại/đọc lại khác; nhà văn và độc giả của anh ta có thể đồng sáng tạo nhưng không đồng nhất, tức là luôn có sự khác biệt giữa những bộ lọc liên văn bản. Người viết là người nhận, đã đọc, đã nghe vô số văn bản khác, và văn bản hiện thời là sản phẩm của sự biên chép văn bản xã hội, là sự viết lại/đọc lại các văn bản khác,…thì vẫn luôn có ở đó bóng dáng của một nhà biên chép mà năng lực lắp ghép, chạm khảm, phối kết, chuyển hoán không hoàn toàn như các đồng nghiệp. Chính năng lực liên văn bản này tạo nên sự tinh tế liên văn bản, không chỉ là vấn đề triển hạn ý nghĩa đến bùng nổ đa bội mà còn là vấn đề sáng tạo các hình thức văn chương. Đúng là Kristeva theo tinh thần giải trung tâm đã “xây dựng một Mô hình [lí thuyết] liên văn bản đại cương”(15) cho mọi văn bản và mọi thực tiễn biểu nghĩa chứ không dành ưu thế riêng cho văn chương. Bà đề xuất một hệ thống mở mang tính cách mạng khi đề cập đến chủ thể trong quá trình và những vấn đề liên quan qua sự phân tích các văn bản văn chương, nhưng vì là một hệ thống mở không giới hạn nơi chủ thể bị đặt định trong viễn cảnh vô biên của trò chơi cái biểu đạt, điều này có thể dẫn đến phá vỡ sự diễn giải hoặc đưa sự diễn giải đến trò chơi vô tăm tích(16). Cách mạng ngôn ngữ thi ca mà bà chỉ ra và lập thuyết, ngược lại, không vô biên mà bị giới hạn, vì nó dường như lãng tránh văn học dấn thân và cách mạng xã hội thực sự(17). Do những “khoảng trống” đó, lí thuyết về tính liên văn bản của Kristeva tiếp tục là một hệ thống mở, năng động, năng sản, không ngừng mời gọi sự tái tạo và đối thoại.

Huế, 10/2016

 

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (NAFOSTED) trong đề tài mã số VII.1.99-2013.05

 

Chú thích

(1) (12) McAfee. N (2004), Julia Kristeva, Routledge, London, p.5, 26, 27.

(2) (8) (11)   Orr. M (2003), Intertextuality: Debates and Contexts, Cambridge: Polity, p.27, 28, 32.

(3) Xem Lesis – Thomas. A (2005), Behind Bakhtin: Russian Formalism and Julia Kristeva’s intertextuality, Paragraph; Nov2005, Vol. 28 Issue 3, p1-20; Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin – Nguyên lí đối thoại (Đào Ngọc Chương dịch), NXB Đại học quốc gia TpHCM

(4) McAfee. N (2004), Julia Kristeva, Routledge, London, p.14; Allen. G (2000), Intertextuality, Routledge, London, p.42

(5) Allen. G (2000), Intertextuality,  Routledge, London, p.40; Phùng Văn Tửu (2002), Tiểu thuyết Pháp hiện đại những tìm tòi đổi mới, NXB KHXH, Hà Nội, tr.50

(6) Xem Allen. G (2000), Intertextuality, Routledge, London; Lesis – Thomas. A (2005), Behind Bakhtin: Russian Formalism and Julia Kristeva’s intertextuality, Paragraph; Nov2005, Vol. 28 Issue 3, p1-20; G.K. Kosikov (2013), Văn bản – liên văn bản – lí thuyết liên văn bản (Lã Nguyên dịch), Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9&10.

(7) Xem Compagnon A. (2006), Bản mệnh của lí thuyết văn chương và cảm nghĩ thông thường (Lê Hồng Sâm – Đặng Anh Đào dịch). NXB ĐHSP

 (9) Pierre-Marc de Biasi (2011), Lí thuyết về tính liên văn bản (Bửu Nam và Phạm Anh Nga dịch, tài liệu chưa xuất bản), nguồn: Từ điển “Encyclopædia Universalis”, bản mới, 2011.

(10) Becker-Leckrone. M (2005), Julia Kristeva and Literary Theory, Palgrave Macmilan, New York, p.156

(13) (15) Juvan. M (2008), History and Poetics of Intertextuality, Timothy Pogacar (trans.) Purdue University Press.

(14) V.Kaufmann (2011), Kristeva: Không có lí thuyết mà chỉ có các sáng tạo lí thuyết, Cao Việt Dũng trích dịch từ Vincent Kaufmann, La Faute à Mallarmé: L’aventure de la théorie litéraire, Seuil, 2011, p256-263. Nguồn http://lyluanvanhoc.com

 (16) Eco U. (2004), Đi tìm sự thật biết cười (Vũ Ngọc Thăng dịch), NXB Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây

(17) Allen. G (2000), Intertextuality, Routledge, London

(*) Chúng tôi nghiên cứu, trích dẫn các công trình của Kristeva từ nguồn: Kristeva. J (1980), Derise in Language:a semiotic approach to literature and art, Thomas Gora, Alice Jardine and Leon S.Roudiez (trans.) Leon S.Roudiez (ed.), Columbia University Press, New York; Kristeva. J (1984), Revolution in Poetic Language, Margaret Waller (trans.), Leon S.Roudiez (intro.), Columbia University Press, New York; Kristeva. J (1986), The Kristeva Reader, Toril Moi (ed. 1986), New Work: Columbia University Press.


Bài khác