Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
TOÀN CẦU HÓA VÀ XU HƯỚNG ĐA VĂN HÓA, LIÊN VĂN HÓA TRONG VĂN HỌC (NHÌN TỪ VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI)

TOÀN CẦU HÓA VÀ XU HƯỚNG ĐA VĂN HÓA, LIÊN VĂN HÓA

TRONG VĂN HỌC (NHÌN TỪ VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI)

Thái Phan Vàng Anh

 

1. Bước vào thế kỉ XXI, những trao đổi, tranh luận về toàn cầu hóa bắt đầu được diễn ra rầm rộ ở Việt Nam. Tuy vậy, câu hỏi Có toàn cầu hoá văn hoá và văn hoá toàn cầu không? vẫn còn là vấn đề đối thoại (1). Điều này cho thấy việc thừa nhận/chấp nhận quá trình toàn cầu hóa trong văn hóa, văn học vẫn gây nhiều băn khoăn, tranh cãi hơn so với toàn cầu hóa về kinh tế. Sau gần 10 năm, bước sang thập niên thứ hai của thế kỉ XXI, người ta không còn nói nhiều đến khái niệm toàn cầu hóa trên các lĩnh vực. Bởi toàn cầu hóa không còn là xu thế, là triển vọng hay là hiện thực đang vừa đến mà đã là môi trường, khí quyển của mọi quốc gia, dân tộc. Nhân loại không còn hoài nghi về chuyện có hay không hiện tượng toàn cầu hóa. Nói như Michael Denning, toàn cầu hóa “không phải là cái gì người ta có thể theo hay chống. Nó chỉ là một nỗ lực đặt tên cho hiện tại” (2). Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam cũng đã bộc lộ rõ và được thừa nhận, trên cả hai phương diện thuận lợi và thách thức. Tuy vậy, xem toàn cầu hóa như là một yếu tố để lí giải (chứ không phải để “đổ lỗi”) cho những căn nguyên, những xu hướng, hay những vận động, biến đổi của đời sống xã hội đương đại vẫn là một hướng đi cần thiết để nhận diện rõ hơn những đặc điểm văn hóa, văn học Việt Nam, nhất là trong bối cảnh của những môi trường đa văn hóa, liên văn hóa.

Toàn cầu hóa “khởi động” vào những thập niên cuối thế kỉ XIX khi nhiều hàng rào thương mại được xóa bỏ cùng với sự phát triển vượt trội của giao thông vận tải, dẫn đến những cuộc di dân trên diện rộng diễn ra trên toàn thế giới. Song, tính chất hội nhập như là hệ quả của toàn cầu hóa chỉ thực sự đạt được với làn sóng toàn cầu hóa lần thứ hai, từ 1950 đến 1980, khi nhiều nền kinh tế lớn, nhiều quốc gia chủ trương đa phương hóa trên nhiều lĩnh vực. Thời kì này, do những điều kiện lịch sử dân tộc đặc thù, Việt Nam chưa thực sự gia nhập vào ngôi làng toàn cầu, chưa chịu nhiều ảnh hưởng của bối cảnh toàn cầu hóa. Phải đến làn sóng toàn cầu hóa lần thứ 3 vào hai thập niên cuối thế kỉ XX, đúng thời điểm Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới, những hệ quả của toàn cầu hóa mới thật sự được bộc lộ ở mọi khía cạnh của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Khái niệm toàn cầu hóa cũng chỉ được nhắc đến nhiều ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, và dĩ nhiên, được nhắc đến trong văn học muộn hơn so với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa...

Nhìn bên ngoài, toàn cầu hóa trong văn học thể hiện chủ yếu qua các hoạt động giao lưu, trao đổi, quảng bá, giới thiệu văn học thế giới với Việt Nam và ngược lại. Những hoạt động này thường mang tính chất xã hội, lôi kéo nhiều đối tượng cùng tham gia (nhà quản lí, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà phê bình, nhà dịch thuật...). Tuy nhiên, khi xem dịch văn học như một yếu tố quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa văn học, cán cân dịch thuật vẫn nghiêng về phía dịch tác phẩm nước ngoài, cũng giống như xu hướng “nhận” nhiều hơn “cho” của văn hóa Việt Nam trong quá trình tương tác với thế giới. Vì lẽ đó, khát vọng tham gia vào quá trình toàn cầu hóa văn học, đưa văn học Việt Nam gia nhập sân chơi quốc tế còn được thể hiện qua những cuộc tọa đàm, hội nghị, hội thảo “giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài", “quảng bá văn học Việt Nam” hay qua những trao đổi, bàn luận, tìm kiếm “con đường cho xuất ngoại văn học”(3)...Một cách thầm lặng hơn, nhìn từ phía sau các hoạt động văn học, từ các văn bản văn học, toàn cầu hóa đã và đang từng bước thay đổi ý thức nghệ thuật và “lối viết” của nhiều tác giả; cũng như thay đổi các phương thức tiếp cận văn học của độc giả. Thay vì “ổn định” từng hàng thập kỉ như những giai đoạn trước, diện mạo văn học Việt Nam đang thay đổi dần từng tháng, năm. “Dáng dấp” dân tộc cũng ít nhiều bị biến đối theo hướng Âu hóa, Mĩ hóa, quốc tế hóa... bởi những pha trộn văn hóa, những hấp lực từ cái mới, cái lạ.

“Là một quá trình xác lập, phổ biến, quốc tế hóa các giá trị, các chuẩn mực trên phạm vi toàn cầu” (4), toàn cầu hóa hướng đến những điểm chung, khiến những cái mang bản sắc riêng bị thay thế bởi những cái phổ quát chung mang tính nhân mẫu, hàng loạt. Song, nhờ vào những đối thoại văn hóa, thế giới hẳn sẽ không bị nhất thể hóa bởi toàn cầu hóa. Thay vào đó, đa văn hóa, liên văn hóa sẽ làm nên diện mạo mới của văn hóa toàn cầu, nơi mà cả cái phổ quát lẫn cái riêng/khác đều có thể cùng tồn tại. Thế nên, thay vì nghi ngại việc đánh mất bản sắc dân tộc, đồng nhất hóa các giá trị văn hóa toàn cầu, cần chú ý nhiều hơn đến sự quy hợp các tinh hoa văn hóa, các đối thoại, tương tác văn hóa. Văn học nghệ thuật có lẽ là lĩnh vực mà những đối thoại, giao thoa văn hóa được diễn ra êm thấm nhất. Nói như Orhan Pamuk: “Cái quan trọng không phải là sự đụng độ của các phe phái, các nền văn minh, các nền văn hóa, đụng độ giữa Đông và Tây hay bất cứ cái gì đại loại như thế. Nhưng hãy nghĩ rằng những người khác trong các lục địa khác và nền văn minh khác đều rất giống quý vị và quý vị có thể học hỏi điều này xuyên qua văn chương” (5). Những đổi thay từng ít một, những đối thoại ngầm không quá gay gắt nhưng bền bỉ, lâu dài, đã dần đưa văn học nghệ thuật Việt Nam tiến đến sân chơi chung. Ở đó đa văn hóa, liên văn hóa trở thành một tính chất tất yếu của văn học nghệ thuật thời toàn cầu hóa; và văn học Việt Nam cũng không thể phát triển ngược dòng.

2.Đa văn hóa, liên văn hóa trong văn học xuất phát từ sự dung hợp, đối thoại giữa những “cái khác” trong văn hóa. Đầu thế kỉ XXI, nhờ môi trường toàn cầu hóa, tính đa văn hóa, liên văn hóa vốn tiềm tàng trong văn học Việt Nam bao đời nay (do Việt Nam là quốc gia rất chủ động trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa, ngay cả trong những lần bị “cưỡng bức” văn hóa) lại càng có cơ hội bừng nở. Tính đa văn hóa, liên văn hóa trong văn học Việt Nam đương đại là hệ quả tất yếu của sự bùng nổ của truyền thông, internet; sự phì đại của hiện thực, thông tin; sự đổ vỡ của các hệ chuẩn duy nhất; sự lên ngôi của các yếu tố ngoại biên hay sự xóa nhòa của những đường biên ranh giới thông thường... Truyền thống “viện dẫn” tinh hoa văn hóa nhân loại trong văn học quá khứ cũng là một yếu tố khiến tinh thần đa văn hóa, liên văn hóa hầu như không tạo nên những cú sốc văn hóa lớn trong quá trình tiếp nhận của độc giả Việt Nam.

Thật ra, đều là hệ quả của toàn cầu hóa, đa văn hóa và liên văn hóa “chỉ là cách nhìn từ các góc độ khác nhau của cùng một vấn đề” (6), hoặc chú ý đến sự lai ghép hoặc nhấn mạnh đến sự tương liên. Đa văn hóa đề cập sự tham gia đồng thời của nhiều yếu tố thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau; trong khi liên văn hóa chú ý sự tương tác giữa tối thiểu hai nền văn hóa. Đa văn hóa tất yếu dẫn đến liên văn hóa. Liên văn hóa cũng chỉ có thể đạt được trên nền tảng của những đa dạng văn hóa vốn vừa giao thoa vừa biệt lập. Trong văn học, đa văn hóa và liên văn hóa là một xu thế không thể khác khi các nhà văn chuyển từ việc nhận thức đời sống chỉ từ góc nhìn dân tộc tính sang một cái nhìn đa chiều hơn, ưu tiên hướng đến đến những giá trị mang tầm nhân loại. Mĩ học hiện đại, hậu hiện đại với việc đề cao tính phản truyền thống, phản quy phạm, phi trung tâm, đại chúng hóa; chú trọng đến tính liên văn bản, đan kết nhiều lớp diễn ngôn trong một văn bản văn học... cũng là những tiền đề quan trọng khiến văn học ngày càng hiển lộ rõ tính đa văn hóa, liên văn hóa. Văn hóa đọc trong thời đại toàn cầu hóa cũng đã khiến quan niệm hoặc tương đối văn hóa chủ nghĩa (cho rằng những người thuộc về những nền văn hóa khác nhau sẽ không thể hiểu nhau); hoặc phổ quát văn hóa chủ nghĩa (tin rằng con người ở bất kì một nền văn hóa nào cũng có thể hiểu nhau dựa trên những đặc điểm phổ quát về nhân học), bị lung lay ở tận gốc rễ. Cách đọc hoặc “lấy mình làm trung tâm” để nhận thức một nền văn hóa khác với kiểu tư duy của “chủ nghĩa duy ngã văn hóa”, hoặc đọc từ những “điểm mù văn hóa”, trở nên không còn phù hợp để tiếp cận các hiện tượng văn học đa dạng/khác biệt trên toàn thế giới. Đọc như là hình thức “giao tiếp liên văn hóa” trở thành cách đọc cần thiết trong thời đại mỗi độc giả đều có thể được khoác danh xưng độc giả toàn cầu. Giao tiếp liên văn hóa thông qua hoạt động đọc, mặt khác cũng lại là yếu tố khiến văn học hướng dần đến những giá trị mang tầm nhân loại thông qua các đối thoại văn hóa, khẳng định tính đa văn hóa của văn học.

3.Trước hết, nói về tính đa văn hóa. Ban đầu, khái niệm tính đa văn hóa (multicultural) thường được dùng ở Canada gắn liền với bối cảnh văn hóa của quốc gia này những năm đầu thập niên 40 của thế kỉ XX. Đến thập niên 80, các nhà giáo dục Mĩ đã lựa chọn và sử dụng trong các công trình của họ và góp phần khiến thuật ngữ này ngày càng phổ biến, nhất là kể từ cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI. Tính đa văn hóa thường được sử dụng để nói đến một nền văn hóa của nhiều chủng tộc khác nhau, bao gồm/liên quan đến, hay đại diện cho nhiều yếu tố văn hóa/nền văn hóa. Tính đa văn hóa thể hiện rõ ở các quốc gia có nhiều chủng tộc, nhiều nền văn hóa hay có sự hiện diện của nhiều người nhập cư; gắn liền với các lí thuyết xã hội và giáo dục vốn khuyến khích sự quan tâm đến nhiều nền văn hóa trong một xã hội hơn là chỉ quan tâm đến một nền văn hóa chính thống/chủ đạo. Đa văn hóa tạo ra một môi trường giao tiếp thú vị nơi người ta có thể chia sẻ với nhau những quan niệm, những ý tưởng xuất phát từ hơn một nền văn hóa. Với những đặc điểm ấy, đa văn hóa trở thành tính chất tất yếu của văn hóa, văn học trong thời đại toàn cầu hóa.

So với liên văn hóa, đa văn hóa vẫn là tính chất dễ được nhận thấy hơn trong văn học. Trong các văn bản, đa văn hóa biểu hiện rõ ở tính lai ghép văn hóa. Khảo sát văn học Việt Nam đương đại, có thể thấy tính đa văn hóa tập trung nhiều ở sáng tác của các cây bút hải ngoại. Hoặc viết bằng ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ (các nhà văn gốc Việt như Nam Lê, Nguyễn Thanh Việt, Linda Lê, Dương Như Nguyện,  Barbara Tran, Andrew Lâm, Monique Truong...); hoặc viết cho độc giả Việt từ phương trời Tây (như Thuận, Đoàn Minh Phượng, Minh Thùy, Lê Minh Hà, Lê Ngọc Mai, Thế Dũng, Phạm Hải Anh, Mai Ninh, Nguyễn Văn Thọ...); các cây bút hải ngoại luôn đem vào trang văn sự lai ghép và những “dùng dằng” văn hóa. Có cái trì níu từ nguồn cội của văn hóa Việt trước văn hóa phương Tây. Cũng có cái hụt hẫng, đổ vỡ khi từ những quan niệm văn hóa “khác”, từ cái nhìn văn hóa “bên ngoài” để nhận diện về văn hóa Việt. Bản thân việc xem văn học hải ngoại là một bộ phận của văn học Việt Nam hay thuộc về nền văn học của các nước sở tại cũng đã cho thấy tính giải lãnh thổ hóa của văn học thời toàn cầu hóa. Dù không thuộc hẳn về bất kì đâu (7) (bộ phận viết bằng Tiếng Việt khó được tiếp cận ở nước sở tại, bộ phận viết bằng tiếng nước ngoài lại vướng rào cản ngôn ngữ khi về Việt Nam), văn học hải ngoại vẫn là một kênh quan trọng kết nối văn hóa toàn cầu và văn hóa địa phương, nhờ vào sự lai ghép của nhiều không gian, thời gian văn hóa. Trong tiểu thuyết Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư của Thuận, đằng sau câu chuyện một người đàn ông Việt Nam sống ở Pháp có thể vừa hoài niệm về sự kiện 30.4.1975 ở cố hương và thương nhớ người tình da vàng, vừa quan hệ với người vợ da trắng... là biết bao câu chuyện văn hóa. Đằng sau triết lí sống Tây phương của An Mi trong Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng) chính là những gốc rễ văn hóa phương Đông, níu kéo khát vọng sống của một thân phận con người... Bằng cách miêu tả con người trong các không gian, thời gian xuyên biên giới, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI, nhất là bộ phận văn học hải ngoại, đã đem đến cho độc giả ngày càng nhiều những trải nghiệm văn hóa. Tuy phản ứng của người đọc có thể khác nhau, tùy vào tính đề kháng và khát vọng đón nhận “cái khác”, song, không thể không thừa nhận rằng toàn cầu hóa trong văn học buộc người ta phải có cách đối diện mới với những pha trộn văn hóa. Những độc giả toàn cầu phải là những người biết chấp nhận các khác biệt văn hóa, trước khi tìm kiếm những đối thoại văn hóa.

4. Liên văn hóa dựa trên yếu tố cốt tử là đối thoại văn hóa, với đích đến là sự quy tụ văn hóa. Đối thoại văn hóa xuất hiện ngay khi có hơn hai nền văn hóa cùng hiện diện (văn hóa giữa các tộc người, văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc trong các mối quan hệ bang giao, trong nỗ lực xâm chiếm, đồng hóa của nước lớn đối với nước bé...). Tuy vậy, đối thoại văn hóa chỉ thực sự trỗi dậy đặc biệt mạnh mẽ vào cuối thể kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, khi thế giới trở nên đa cực, khi đối thoại là hình thức duy nhất để nhân loại cùng tồn tại, phát triển trong một “thế giới phẳng”, một môi trường đa văn hóa và quy tụ về văn hóa, hướng đến những giá trị phổ quát. Đây chính là lí do khiến sự xuất hiện của triết học liên văn hóa (vốn chỉ mới được hình thành vào cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX) nhanh chóng được đón nhận và vận dụng trong nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật.

Đề cao tiếp biến hơn là chối bỏ hay thụ động chịu sự đồng hóa, Việt Nam có truyền thống dung hòa, hòa hợp văn hóa. Điều này cũng có phần do Việt Nam là quốc gia có nhiều tộc người, nhiều vùng văn hóa khác nhau. Vậy nên, tư tưởng của L. Wittgenstein với chủ trương tìm kiếm cách thức đạt đến sự thống nhất trong những đa dạng của các quan niệm, các biểu hiện văn hóa giữa nhiều quốc gia, dân tộc dễ dàng được chấp nhận. Vừa trùng hợp về quan niệm, vừa có phần tiếp thu tinh thần của triết học liên văn hóa, nhiều nhà văn Việt Nam, nhất là các nhà văn đương đại đã rất có ý thức trong việc đưa văn hóa Việt Nam ra với thế giới, đối thoại với các nền văn hóa khác, thông qua ngôn ngữ văn chương. Nhiều tác giả, tác phẩm trở thành những nhịp cầu văn hóa kết nối Việt Nam với Asean, với vùng Đông Á, với phương Tây hay với toàn thế giới (tiêu biểu có thể kể đến tác phẩm của một số nhà văn trong nước và hải ngoại như Hồ Anh Thái, Irasara, Trần Thùy Mai, Nguyễn Xuân Khánh, Phan Việt, Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê, Nguyễn Hữu Nam, Lê Ngọc Mai, Phạm Hải Anh, Mai Ninh....). Văn học, nhất là văn xuôi, mang tính liên văn hóa tuân theo quy luật vận động của văn học hiện đại/hậu hiện đại trong nỗ lực hòa vào dòng chảy chung của văn học thế giới.

Trước hết liên văn hóa thể hiện cái nhìn chủ động trong đối thoại văn hóa của chính nhà văn. Trong số những nhà văn cùng một thời đại, cùng một quốc gia, cùng một phông văn hóa chung, vẫn có một số tác giả “nổi lên” như những nhà văn toàn cầu, nhờ một số điều kiện, đặc điểm riêng trong đời sống, trong sự nghiệp hay trong việc lựa chọn đối tượng phản ánh. Các nhà văn hải ngoại tỏ ra có những thuật lợi nhất định trong việc miêu tả một xã hội đa văn hóa, và đem lại những cơ sở của đối thoại liên văn hóa khi “có hai lần kinh nghiệm trực tiếp về toàn cầu hoá: qua kinh nghiệm sống ở các thành phố toàn cầu (global cities) ở Tây phương và qua kinh nghiệm lưu vong vốn mang bản chất vượt biên giới và xuyên quốc gia của họ” (8). Cho dù không phải lúc nào cũng đạt đến sự bình đẳng văn hóa như quan niệm lí tưởng của thuyết liên văn hóa, song, trong thực tế, bằng cách “trưng” ra các phương diện văn hóa khác biệt, soi chiếu từ cái nhìn dung hòa của chủ nghĩa khái quát văn hóa và chủ nghĩa tương đối văn hóa; các nhà văn hải ngoại đã ít nhiều tạo nên những cuộc tranh luận, đối thoại văn hóa bằng văn chương; đưa văn chương Việt đến gần hơn với thế giới và hòa vào quỹ đạo chung của văn học thế giới.

Không “tất yếu” như các nhà văn sống ở hải ngoại, song các nhà văn trong nước vẫn có thể mang một trường nhìn liên văn hóa nếu biết vượt qua những “điểm mù văn hóa” và chủ động trong giới thiệu, đối thoại và hội nhập. Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Xuân Khánh, Sương Nguyệt Minh, Irasara, Đặng Thân, Y Ban, Phan Việt, Võ Thị Xuân Hà, Di Li, Phan Hồn Nhiên, Phạm Duy Nghĩa... là những kiểu tác giả liên văn hóa tiêu biểu (do được sống, học tập, trải nghiệm từ nhiều môi trường văn hóa khác nhau, do có khả năng ngoại ngữ đủ để thông hiểu nhiều nền văn hóa...). Tiểu thuyết của các nhà văn này thường tràn ngập các thông tin văn hóa với không ít những tranh luận, đối thoại/đa thoại về văn hóa. Có những đối thoại về tôn giáo, triết học, lịch sử (văn xuôi Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Sương Nguyệt Minh...). Có những đối thoại về quan niệm, lối sống của con người, xuất phát từ những xung đột về môi trường, chủng tộc, thế hệ... (tác phẩm của Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Duy Nghĩa...). Những đối thoại văn hóa thông qua kiểu nhân vật cô đơn, lạc lõng, song từng bước vươn lên khẳng định bản thân, hoặc xuất phát từ những bệ đỡ của văn hóa dân tộc để vượt qua những cú sốc văn hóa và hòa nhập ở một vùng đất mới...cũng là một chủ đề “hot” trong các sáng tác của các nhà văn đã từng sống, học tập ở bên ngoài (văn xuôi Phan Việt, Phan Hồn Nhiên, Di Li, Dương Thụy...). Đáng lưu ý là, trong những cuộc tranh luận văn hóa mà các tác giả bày biện ra, chân lí thường không được trao cho bất kì một chủ thể văn hóa nào. Nguyên tắc đa dạng, khác biệt và bình đẳng văn hóa luôn được tôn trọng; dù những đụng độ, va chạm văn hóa chưa bao giờ thôi diễn ra trong đời sống xã hội của loài người.

Một trong những phạm trù cơ bản, đầu tiên của lí thuyết liên văn hóa là sự khác biệt. Sự khác biệt văn hóa lại là tiền đề của phạm trù thứ hai, tính đối thoại về văn hóa. Trên tinh thần đối thoại, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI nói nhiều về những khác biệt này. Có những khác biệt về sắc tộc, chính trị, tôn giáo giữa các quốc gia, dân tộc (Đội gạo lên chùa, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, Cơ hội của Chúa, Mình và họ). Có những khác biệt trong nhận thức, văn hóa ứng xử với tự nhiên và xã hội giữa các cộng đồng, tộc người (Miền hoang, Ngựa thép, Người bên này trời bên ấy, Chiếc áo second-hand). Nhiều tác phẩm còn đề cập những xung đột, đối thoại giữa các giá trị văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai (Ba Ngôi của người, Mười lẻ một đêm, Trò chơi hủy diệt cảm xúc, Giữa dòng chảy lạc, Một mình ở châu Âu). Sự đấu tranh nhằm xóa nhòa những bất bình đẳng trong địa vị văn hóa Đông Tây cũng là một “đích đến” ở nhiều tác phẩm. Có thể xem tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh là một trong những tác phẩm tiêu biểu. Sự khác biệt, thậm chí đối kháng giữa phương Đông và phương Tây, hay những nét văn hóa Việt qua những cách nhìn trái ngược… đã được nhà văn lồng ghép khéo léo vào số phận của các nhân vật trong tiểu thuyết (những người phụ nữ Việt và cả những người Pháp cư ngụ trên đất Việt). Tác giả cũng đối thoại lại với nhiều quan niệm vốn được đóng khung bởi các định kiến “dĩ Âu vi trung”. Đó là sự đảo chiều trong mối quan hệ xâm chiếm, đồng hóa giữa quốc gia này với quốc gia kia, giữa con người này và con người kia; là sự hoán chuyển giữa những cái văn minh và dã man mà những đánh giá bề ngoài rất dễ rơi vào cực đoan, phiến diện (văn hóa Việt, con người Việt đã có một sự khống chế ngược đối với văn minh phương Tây, người Phương Tây, cùng những rắp ranh xâm chiếm, cai trị, đồng hóa; sự chuyển đổi từ trắng thành vàng (going yellow) trong tâm hồn của nhiều người Pháp (cha Colombert, René, Pierre…) hay “mặc cảm tự ti” của Philippe trước đàn bà Việt... ). Những cuộc chiếm đoạt, giao hoan Pháp –Việt trong Mẫu thượng ngàn trở thành những ẩn dụ, những đối thoại văn hóa về mối quan hệ giữa kẻ xâm chiếm, khai hóa và kẻ bị xâm chiếm, bị khai hóa. Những người đàn bà Việt nhỏ bé, nhu mì, tưởng như bị động, cam chịu song lại có sức sống mạnh mẽ… trở thành biểu tượng của sức mạnh thiên về âm tính phương Đông. Bằng cách để cho nhân vật ngạc nhiên, thú vị và cả bị shock về những nền văn hóa bên ngoài; Mẫu thượng ngàn thể hiện một cái nhìn bình đẳng về văn hóa. Không đúng, không sai; không hơn cũng không kém, tất cả chỉ là khác biệt. Cái nhìn liên văn hóa Đông Tây chính là cội nguồn của tính đối thoại trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, là cơ sở để Nguyễn Xuân Khánh đã xác lập những giá trị truyền thống của văn hóa Việt, khẳng định sức sống bất diệt, bền bỉ của một dân tộc vốn không bao giờ để bị đồng hóa. Tuy vậy, dù luôn có ý thức đưa các nền văn hóa, văn học trên thế giới đến gần nhau, rút ngắn khoảng cách định kiến trong những khác biệt dân tộc; những đối thoại văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cũng như nhiều nhà văn khác thường không nhằm hướng đến chân lí, đến những tương đồng phổ quát; bởi sự hòa hợp, hội tụ văn hóa hiếm khi đạt đến tận cùng.

Bình đẳng, đối thoại về văn hóa, chính trị, tôn giáo...cũng là một chủ đề trở đi trở lại trong nhiều trang văn của Hồ Anh Thái. Tiểu thuyết Dấu về gió xóa với rất nhiều luận bàn về tôn giáo và biểu tượng đền Đa giáo trên Đảo xanh, bối cảnh của tiểu thuyết, là một ví dụ tiêu biểu. Trong thế kỉ XXI, “thế kỉ của tôn giáo”, Đảo xanh, có thể được xem là nơi chốn thiên đường của tôn giáo, khi mà mọi tôn giáo cùng được tôn trọng như nhau: “Chuông nhà thờ đánh suốt ngày, ban đầu là đánh chuông cho người Tin lành, người Thiên Chúa giáo, sau rung chuông cho người Hinđu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Ngôi đền Đa giáo trên Đảo xanh cũng thật đặc biệt khi có chính điện hình bát giác bày tỏ quan điểm Bát chính đạo của Phật giáo và “mỗi cạnh đặt một bệ thờ của một tôn giáo chính” (Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo Hinđu, đạo Sikh, đạo Jain, Hồi giáo, Hỏa giáo...). Trong đền th Đa giáo, người theo tôn giáo thứ chín trở đi thì được cầu nguyện ở vị trí tâm điểm của tòa bát giác, ở bệ thờ được đặt chính giữa đền. Như vậy, không ai không được thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh khi vào ngôi đền Đa giáo ở Đảo xanh. Trước tôn giáo, con người bình đẳng như nhau. Trong đền thờ Đa giáo, mọi tôn giáo cũng đều bình đẳng. Mọi sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo trở nên không còn có ý nghĩa. Dẫu mang một đức tin nào, con người cũng đều được thỏa mãn việc được thực hành tụng niệm trong một nơi linh thiêng, được hướng về một đấng tối cao qua kinh sách, qua những lời truyền của nhà sáng lập. Vấn đề vốn khó hòa hợp nhất của con người – hòa hợp tôn giáo trở nên nhẹ bẫng. Có thể nói, bằng tư duy biểu tượng hóa, bằng những triết luận về tôn giáo đậm đặc, tiểu thuyết Dấu về gió xóa cũng như nhiều tác phẩm khác của Hồ Anh Thái luôn hướng đến sự quy tụ về văn hóa, nhất là khi tính cộng hợp từ những đa dạng văn hóa chính là đích đến của xã hội toàn cầu hóa hiện nay.

Đối thoại thường xuất phát từ sự khác biệt. Song, mục đích của đối thoại suy cho đến cùng là để tìm kiếm những điểm tương đồng. Không duy lí đến mức tin tưởng vào cái phổ quát văn hóa dành cho mọi cộng đồng, dân tộc, triết học liên văn hóa hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng của những khác biệt văn hóa. Với tinh thần ấy, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI vẫn đề cập những nét tương đồng, xuất phát từ những phương diện mang tính bản thể của mọi tồn tại. Lúc này, tương đồng văn hóa trở thành cơ sở để giao thoa, hội nhập văn hóa, đáp ứng nhu cầu toàn cầu hóa trên nhiều phương diện, trong đó có văn chương. Không phải ngẫu nhiên trong những năm gần đây, văn học Việt Nam, nhất là văn xuôi đầu thế kỉ XXI được xuất ngoại nhiều hơn. Toàn cầu hóa khiến độc giả chờ đợi những cái “lạ mà quen” trong văn chương Việt. Với tính đa văn hóa, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI có thể gây tò mò nhờ những nét văn hóa Việt, văn hóa phương Đông mà phần lớn người phương Tây chưa hiểu hết. Từ tinh thần liên văn hóa, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI còn “lạ” bởi những đánh giá, đối thoại lại với những giá trị tưởng chừng như độc tôn, bất biến... từ một cái nhìn khác về Tây phương. Tuy thế, lạ mà không gây ra dị ứng, lạ mà vẫn có thể phù hợp với tầm đón nhận của độc giả quốc tế là bởi cách tư duy nghệ thuật và bút pháp của các nhà văn vốn tuân theo những quy tắc chung của trò chơi ngôn ngữ, của lối viết hiện đại/hậu hiện đại. Nói như dịch giả Nguyễn Đình Thành (nhân bàn về tiểu thuyết Ngựa thép với lối viết Tây hóa về cuộc sống người Việt ở nước ngoài của Phan Hồn Nhiên), khi từ quan điểm “quốc tế hóa văn chương” để nhìn về bản sắc Việt trong thời đại toàn cầu hóa: “Bản sắc Việt” cần được hiểu theo nghĩa khác, không bằng những biểu hiện dễ thấy như áo dài, nón lá, bánh chưng… Tác giả của nó là người Việt, đó chính là chất Việt”(9). Phải chăng đây chính là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa trong văn chương, trong lối viết, khi xét về phương diện kĩ thuật, các nhà văn Việt Nam cũng đã và đang tuân theo những quy luật chung của trò chơi ngôn ngữ.

5.Văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI (cả bộ phận trong nước và hải ngoại) hấp dẫn độc giả “tại chỗ” và “bên ngoài” theo một cách thức như nhau, tuy chiều hướng có phần ngược nhau. Bởi bản chất của sức hút ở những tác phẩm mang tính đa văn hóa chính là những đối thoại từ những điểm tương đồng và khác biệt văn hóa. Độc giả thuộc bất kì một nền văn hóa nào cũng có nhu cầu được biết về một nền văn hóa khác, được tự nhìn lại những giá trị văn hóa của dân tộc mình từ địa vị của phía bên kia. Độc giả trong nước háo hức với văn học hải ngoại hay cộng đồng người Việt ở hải ngoại luôn muốn biết về đất nước “hôm nay” qua văn chương nước nhà là vì thế. Những đặc điểm văn hóa toàn cầu hay những yếu tố địa phương, bản địa trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI cũng là yếu tố mời gọi độc giả quốc tế và Việt Nam. Có thể nói, nhờ tính đa văn hóa, liên văn hóa, văn học và văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI đã phần nào đáp ứng được những đòi hỏi ngày càngkhắt khe của kiểu độc giả toàn cầu.

Tính liên văn hóa không tồn tại như một bình diện cụ thể trong tác phẩm văn học mà chỉ là một lập trường, một quan niệm, một thái độ hay một sự thức nhận về sự đối thoại, tương tác văn hóa, được hiển lộ với các mức độ khác nhau trên nhiều phương diện của văn bản. Tuy vậy, cái nhìn liên văn hóa vẫn ít nhiều chi phối đến các nhà văn trong việc tổ chức trần thuật và lựa chọn ngôn ngữ. Khảo sát tác phẩm của Hồ Anh Thái và Thuận- hai đại diện của kiểu tác giả đa văn hóa, liên văn hóa điển hình, chúng tôi nhận thấy có một số dấu hiệu hình thức nghệ thuật nổi bật ở các văn bản văn học mang tính đa văn hóa, liên văn hóa. Hồ Anh Thái và Thuận đều rất có thức xây dựng những không gian nghệ thuật xuyên quốc gia, đa dân tộc và chỉ hướng đến những không gian mất bản sắc dân tộc tính, dù giễu nhại hay khẳng định lối sống “hội nhập” trong thời đại toàn cầu hóa (Những đứa con rải rác trên đường, Người bên này trời bên ấy- Vân Vi, Paris 11 tháng 8). Hồ Anh Thái và Thuận cũng có thể chỉ đề cập những không gian văn hóa đặc thù của một giống người, một dân tộc với cái nhìn khi ngưỡng mộ, khi xót thương (Đến muộn, Đi khỏi thung lũng mới đến nhà - Phố Tàu, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng tư). Nghệ thuật kể chuyện, phương diện đặc sắc nhất trong tự sự hiện đại của Hồ Anh Thái, của Thuận, cũng có vai trò quan trọng trong việc gia tăng cái nhìn đối thoại về văn hóa. Với kiểu người kể chuyện công dân toàn cầu (người kể chuyện với nhiều trải nghiệm văn hóa – có khi là nhân vật xưng tôi kể về những nếm trải, chứng kiến văn hóa của bản thân; có khi là một vai kể với chức năng khám phá thế giới đa văn hóa và sự tương tác giữa các nền văn hóa); với cái nhìn đa chiều kích và những quan niệm mang tầm nhân loại; mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái hay của Thuận luôn là một câu chuyện văn hóa lớn. Ở đó tư tưởng đối thoại tư tưởng; ở đó các thân phận con người được đặt cạnh nhau, soi chiếu nhau; xuyên không gian, xuyên thời gian, bất luận tương đồng hay khác biệt về văn hóa. Với tinh thần đối thoại ấy, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái và Thuận cũng đa dạng và linh hoạt. Các lớp từ vựng và cấu trúc câu tiếng Việt ít nhiều cũng bị thay đổi bởi sự tiếp xúc, cọ xát với nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Có ngôn ngữ trang nhã, huyền bí khi bàn về tôn giáo, dân tộc, thân phận con người (Đức Phật nàng Savitri và tôi - T mất tích). Có ngôn ngữ dung tục, suồng sã của đời sống, của mạng xã hội khi bàn đến những nhốn nháo, lệch chuẩn của thứ văn hóa lai căng (Mười lẻ một đêm - Thang máy Sài Gòn). Tiếng Anh như là một thứ ngôn ngữ quốc tế cũng thường được Hồ Anh Thái và Thuận đưa vào tác phẩm giúp người đọc hiểu thêm những khái niệm, thuật ngữ mang tầm quốc tế ở nhiều lĩnh vực (khoa học, chính trị, ngoại giao, tôn giáo...). Cũng có khi đó là thứ tiếng Anh được Việt hóa đến phản cảm, ngô nghê, nhằm giễu nhại những rỗng tuếch, nông cạn của những người thiếu hiểu biết, thiếu những nền tảng văn hóa cần thiết. Có lúc cả hai nhà văn đều tỏ ra quá gay gắt, thiếu bao dung đối với loại người “lùn văn hóa”. Tuy vậy, ẩn sau những giễu nhại sâu cay ấy là những đau đớn, tuyệt vọng của nhà văn trước những tha hóa của loại người thiếu kháng thể khi đụng độ những phương diện văn hóa mới. Nồng nhiệt giới thiệu các giá trị văn hóa bên ngoài, tha thiết tôn vinh những nét đẹp của văn hóa dân tộc, hay gay gắt phê phán những gì phản văn hóa, vô văn hóa, tác phẩm của Hồ Anh Thái, Thuận và nhiều nhà văn Việt Nam khác suy cho đến cùng cũng nhằm để hiểu con người hơn, không phải chỉ khi anh ta thuộc về một nền văn hóa duy nhất mà cả khi anh ta được/bị bao quanh bởi những nền văn hóa vừa tương đồng, vừa khác biệt. Có thể nói, nhờ cái nhìn liên văn hóa, các kiểu tác giả liên văn hóa như Hồ Anh Thái, Thuận đã mang vào trang văn của mình “tính cộng hợp của những khuôn mẫu văn hóa đa dạng” (10). Đây chính là điểm chung của nhiều nhà văn Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, dù mỗi nhà văn có thể đem đến một câu chuyện văn hóa, một lối viết, một phong cách nghệ thuật riêng biệt, đặc thù.

6. Xét đến cùng, văn học tự bản chất đã là một “kí hiệu đa văn hóa” (11). Tác phẩm văn học thật ra cũng luôn mang tính đối thoại, tính liên văn hóa khi là tập hợp của những tiếng nói cá nhân và xã hội khác nhau, xuất phát từ những yếu tố, nền tảng văn hóa khác nhau. Tuy vậy, bối cảnh toàn cầu hóa đã khiến đa văn hóa và liên văn hóa trở thành một “hiện thực không thể khác” của văn học. Toàn cầu hóa khiến đa văn hóa và liên văn hóa chú trọng đến không gian hơn là thời gian, chú trọng đến những tương tác hướng ngoại hơn là hướng nội. Trong sân chơi chung thời đại toàn cầu hóa, tất yếu sẽ có nhiều yếu tố bị đào thải, cũng tất yếu sẽ có những giá trị vốn là của riêng trở thành của chung. Bị đào thải hay buộc phải biến đổi đều tuân theo quy luật vận động của đời sống. Những giá trị văn hóa được gìn giữ không phải nhờ vào kiểu bảo tồn duy ý chí. Cái “còn lại” vẫn buộc phải vận động theo xu hướng chung của xã hội, trong một bối cảnh văn hóa mới. Nói cách khác, vừa đón gió lạ bên ngoài, vừa giữ cho “hương đồng gió nội” không bay đi mất (dù tất yếu sẽ bay đi ít nhiều) chính là thách thức của mọi nền văn hóa trong quá trình hội nhập. Văn hóa, văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật gìn giữ, tiếp nhận và biến đổi ấy. Tính đa văn hóa, liên văn hóa trong văn học vừa là hệ quả, vừa là biểu hiện của văn hóa nhân loại thời toàn cầu hóa. Và văn học Việt Nam, đặc biệt là văn xuôi đầu thế kỉ XXI cũng buộc phải là “nguồn riêng giữa dòng chung”.

Bản balat  Đông -  Tây (The Ballad of East and West) của Rudyard Kipling được mở đầu và kết thúc bằng bốn câu thơ đầy ý nghĩa:

Đông là Đông và Tây là Tây và cả hai không bao giờ gặp nhau.

Cho đến khi Đất và Trời hiện diện trước Ngôi Phán Xét của Thượng Đế

Nhưng cũng không phân biệt Đông hay là Tây, biên giới hay dòng giống hay nơi sinh 
Khi hai người mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ có đến từ tận cùng thế giới
!” (12)

Hẳn khi viết những vần thơ trên, Rudyard Kipling không hề nghĩ mình đang bàn đến tính đa văn hóa và liên văn hóa, mà sự khác biệt và kết nối Đông Tây là minh chứng hùng hồn nhất. Như Đông và Tây “cả hai không bao giờ gặp nhau”, thế giới vẫn luôn tồn tại những nền văn hóa, những quan niệm văn hóa khác biệt. Song, ranh giới Đông Tây hoàn toàn có thể được rút ngắn, sự khác biệt văn hóa vẫn luôn có thể được khắc phục, nếu con người dám đối diện, đối thoại và chủ động kết nối. Cuối thế kỉ XIX, Rudyard Kipling đã tin tưởng vào sự gặp gỡ từ hai thế giới cách biệt Đông Tây. Hơn một thế kỉ sau, kết nối Đông Tây trở thành xu hướng tất yếu của thời đại toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, những khác biệt Đông Tây vẫn còn đó, những va chạm, đụng độ văn hóa vẫn còn tiếp tục diễn ra. Song, từ cái nhìn đa văn hóa, liên văn hóa, khác biệt hay tương đồng không còn quá quan trọng. Quan trọng hơn cả là sự thông hiểu, là sự hòa hợp và đối thoại văn hóa, không chỉ giữa Đông - Tây, mà giữa tất cả các vùng, các nền văn hóa vừa tách bạch vừa giao thoa. Trong thế giới phẳng hôm nay, khi đường biên văn hóa ngày một nhòe mờ, không còn đồng nhất với đường biên địa lí của vùng miền, quốc gia, khu vực; việc nhận diện đời sống văn hóa, chính trị, xã hội của con người càng cần chú trọng đến tính đa văn hóa, liên văn hóa. Nghiên cứu văn học từ cái nhìn đa văn hóa, liên văn hóa, nhận diện văn học Việt Nam đương đại từ kiểu nhà văn đa văn hóa, liên văn hóa ít nhiều đã mở ra một hướng nghiên cứu liên ngành nhiều triển vọng.

 

CHÚ THÍCH

(1) Trước khi nhấn mạnh đến những điểm nổi bật của văn hóa toàn cầu, Nguyễn Văn Dân vẫn đặt ra câu hỏi Có toàn cầu hoá văn hoá và văn hoá toàn cầu không? Xem Nguyễn Văn Dân, “Toàn cầu hóa văn hóa và đa dạng văn hóa”, Tạp  chí Sông Hương, số 214/12, 2006, tr. 53-60.

(2), (8). Xem Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, NXB Văn Mới, USA, 2010, tr 14; tr 36.

(3) Xem Hồ Anh Thái (2010), Con đường xuất ngoại cho văn học Việt Nam, http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/con-duong-xuat-ngoai-cho-van-hoc-viet-nam-2136511.html

(4) Xem Nguyễn Toàn Thắng (2015), “Toàn cầu hóa và sự đa dạng văn hóa, văn học”, Tạp chí Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, số 32 (tháng 04), tr 7 – 13.

 (5) Trả lời phỏng vấn báo Newshouse online, Orhan Pamuk nói: “Tôi muốn mình là một chiếc cầu với cảm giác là chiếc cầu không thuộc về một lục địa nào hết, không thuộc về một nền văn minh nào hết và chiếc cầu lại có cơ hội độc đáo là được nhìn thấy cả hai nền văn minh và đồng thời lại nằm ngoài chúng. Thật là một đặc ân kỳ diệu!”. Xem Orhan Pamuk, “Nối liền hai thế giới”, Damau.org, 21.10.2006. Nguồn: http://www.pbs.org/newshour/conversation/july-dec02/pamuk_11-20.html

(6), (11) Xem Lê Huy Bắc (2016), Văn chương như ký hiệu đa văn hóa, http://vanvn.net/tim-toi-the-nghiem/van-chuongnhu-ky-hieu-da-van-hoa/561

(7) Theo Nguyễn Hưng Quốc,“nơi ở của người lưu vong là một thứ địa phương tính vô giới hạn (nonlimited locality). Nghĩa là không thực sự ở đâu cả...... không thuộc về nơi nào là vì mọi không gian đều bị lọc qua lăng kính của quê gốc trong khi chính cái gọi là quê gốc lại chỉ là một kết tập của hồi ức và dự phóng, một cái gì vừa thuộc về quá khứ lại vừa thuộc về tương lai. Làm quen với một không gian, do đó, với người lưu vong, là một chuỗi kinh nghiệm về giải lãnh thổ hoá và tái lãnh thổ hoá liên tục”, tr 69 -70, Văn học Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, NXB Văn Mới, USA, 2010.

(9)Xem Mi Ly,Phan Hồn Nhiên hết… hồn nhiên, http://thethaovanhoa.vn/buixuanphai/details/c173n20141017072527945/phan-hon-nhien-het-hon-nhien.htm

(10) Xem Hyundok, Choe (2008), Triết học liên văn hóa: Khái niệm và lịch sử” (Lương Mỹ Vân dịch, Trần Tuấn Phong hiệu đính), Tạp chí Triết học, số 2 (201), tháng 2.

(12) Đoạn thơ mở đầu và kết thúc của Bản Balat của Đông và Tây nguyên văn như sau:

Oh, East is East, and West is West, and never the two shall meet,

Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;

            But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,

When two strong men stand face to face,

tho’ they come from the ends of the earth.

Xem Rudyard, Kipling (2004), The Ballad of East and West,http://www.bartleby.com/246/1129.html.


Bài khác