Lên đầu trang
Tin tức hoạt động của Khoa
MÌNH VÀ HỌ CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG: SỨC ÁM ẢNH TỪ CUỘC CHƠI VÔ THỨC

MÌNH VÀ HỌ CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG:
SỨC ÁM ẢNH TỪ CUỘC CHƠI VÔ THỨC

ThS. Lê Thanh Sơn

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

 

Hơn một thế kỉ trước, câu chuyện về vô thức (unconscious) – vùng tối tăm, bí hiểm nhất trong thế giới tinh thần của con người – đã được S. Freud và C.Jung đem ra ánh sáng, rồi trở thành một hệ tư tưởng vĩ đại mà dư chấn của nó đã khiến tất cả niềm tin của nhân loại suốt mấy ngàn năm qua về Con–người–ý–thức, phút chốc biến thành những “huyền thoại”. Nếu S.Freud cố gắng chứng minh vô thức là cõi tối thượng trong bộ máy tinh thần, mang tính cá nhân và có vai quyết định, chi phối mạnh mẽ tới hoạt động của phân khu ý thức, thì C.Jung lại đi tìm một “mảnh đất” chứa đựng tất cả những di sản tinh thần trong quá trình tiến hóa của con người, được tại hiện lại ở cấu trúc não thức – và gọi đó là vô thức tập thể (collective unconscious). Một cách khái quát, về mặt phương pháp, sự diễn dịch của S.Freud thực chất là hướng tới cái đích muốn tái lập lại cấu trúc khởi nguyên của các ham muốn vô thức, xuất phát từ việc giải cấu bộ máy tâm trí con người, nhưng lại chỉ đặc biệt quan tâm đến sự hình thành của vô thức từ những xung đột, dồn nén của ẩn ức nội tại, còn sự quy nạp của C.Jung với cái nhìn phóng chiếu về hình thái thủy nguyên [nguồn cội] trong tương quan với bản thể, đã khẳng định vai trò của những “siêu tượng”(1) - các yếu tố phi cá nhân - trong việc tác động đến cơ tầng vô thức. Từ những khái lược trên, chúng ta dễ hình dung ra, S.Freud đã có lí khi đứng trên lập trường về vô thức để mô tả “vùng khuất” của thế giới tinh thần (trong cá nhân), nhưng nó không đủ cho ông nuôi dưỡng tham vọng muốn cắt nghĩa cả thế giới nghệ thuật bằng học thuyết của mình(2) . Về khía cạnh này, C.Jung nói: “Nó (tác phẩm) – đó là một vật không mang tính cá nhân và vì thế cái cá nhân không phải là tiêu chí đối với nó. Và ý nghĩa đặc biệt của một tác phẩm nghệ thuật chân chính là ở chỗ người ta có thể lôi được nó từ chốn chật chội và bí lối của lĩnh vực cá nhân ra khoảng không rộng lớn, bỏ mặc lại sau tất cả tính tạm thời và hữu hạn của một cá tính bị giới hạn”(3) . Tới đây, chúng ta có thể thấy rằng, để khảo sát và lí giải một cách thấu đáo các dấu hiệu của vô thức được xây dựng như những mã thẩm mỹ/ văn hóa trong một tác phẩm nghệ thuật, cần thiết phải có sự quy chiếu trên cả hai bình diện: vô thức [cá nhân] và vô thức tập thể.

Mình và Họ của Nguyễn Bình Phương là một bức tranh hiện thực đổ vỡ với sự xuất hiện đậm đặc những xung đột, trần trụi, nhàu nát, nhưng đó không phải cái hình thái hỗn mang của buổi thoạt kì mà là những quằn quại cuối cùng của một thế giới đang nhích dần đến bờ vực suy tàn. Mình và Họ mang vẻ đẹp của một bông hoa lạ: vừa ma mị, vừa hư huyễn, vừa nguyên sơ, vừa gai góc. Ở đó, có sự kết hợp giữa mộng và phản mộng, giữa thực và phản thực. Ở đó, tính hình tuyến của khách quan trở nên gấp khúc và trật tự của thế giới hiện thực bị “làm khác”, để thiết lập một không gian tự sự mới trong cuộc chơi vô thức. Ở đó, có cái hấp lực tiềm tàng nhưng đầy cạm bẫy trong cơn trỗi dậy mạnh mẽ của bản năng, trước sự xói mòn nghiêm trọng của quyền lực văn hóa, hay nói đúng hơn là sự kiểm định của cái Siêu Tôi trước những ham muốn đã trở nên lỏng lẽo, khiến cái Tôi được phóng thích nhanh chóng trở nên sa đọa và có xu hướng quay trở về với tình trạng thủy nguyên: “Nền văn hóa của một xã hội không có sự đe dọa nào nặng nề hơn là nhìn thấy sự sa đọa của văn hóa trước sự phóng túng của bản năng muốn quay trở về tình trạng bán khai cổ xưa”(4) . Nguyễn Bình Phương đã nhìn thẳng và sâu vào thực tế ấy, nhưng sau những đổ nát, hoang tàn của bức tranh hiện thực, người đọc vẫn nhận ra đâu đó sự ngậm ngùi, tê tái của người cầm bút, và hơn hết thảy, là một khao khát muốn vực dậy thế giới ấy, từ chính cái nơi dấy lên sự đổ vỡ: vô thức.

Từ sự phản kháng yếu ớt của ý thức trước khát lực mạnh mẽ của libido…

Học thuyết của S.Freud đã hé mở một sự thật về vô thức mà ý thức của nhân loại không thể lật đổ, rằng: vô thức cá nhân bị nguyên lí của sự thích thú chi phối một cách sâu sắc, nếu không muốn nói là cơ tầng ý thức thường xuyên bị hạn chế bởi những ham muốn ẩn tàng. Vô thức, nói chung, luôn có xu hướng đi tìm và đạt đến sự khoái cảm. Nhưng, sự thỏa mãn cá nhân này muốn đạt được thường đi ngược lại với quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội, bởi vậy, con đường đi đến khoái cảm luôn chịu sự kiểm duyệt của cái Siêu Tôi (Super Ego)(5) - nhân danh cho một dạng ý thức lý tưởng. Cuộc đấu tranh giằng co giữa cái Siêu Tôi và những ham muốn khoái cảm trong vô thức, không bao giờ chấm dứt, từ đó, tạo ra một không gian dồn nén cực độ, một đặc khu chứa đầy những xáo động giữa bản năng [cá nhân] và nhân cách [xã hội]. Ý thức con người luôn tìm cách để những ham muốn bị kìm nén được giải tỏa bằng những phương thức trá hình, vừa để thỏa mãn sự kích thích thô bạo của vô thức, vừa không phá vỡ sự chống cự của kiểm duyệt. Để làm được điều đó cần có sự can thiệp của quyền lực văn hóa, cụ thể là hệ thống chuẩn mực đạo đức của xã hội. Vấn đề đặt ra là, khi niềm tin về những huyền thoại bị đổ vỡ, kéo theo sự xói mòn nghiêm trọng của quyền lực văn hóa, thì sự trỗi dậy của bản năng – như một hệ quả tất yếu – sẽ đưa nhân loại đến một khúc cua siêu việt trên con đường tiến hóa, hay sẽ ngược về hình thái dã man, mông muội của thời kì thủy nguyên?

Sống trong cảnh nhốn nháo của xã hội thời “mở cửa”, cùng với tư duy tiểu thuyết vô cùng tinh tế, bút lực của Nguyễn Bình Phương mang một nguồn thế năng dồi dào xối thẳng vào những vấn đề nhạy cảm từ chiều sâu bản thể đến vô vàn nhức nhối của đời sống hiện thực. Ở tiểu thuyết của ông, vô thức luôn chiếm giữ vai trò yếu đạo trong cấu trúc tâm lí cũng như sự điều phối tới hành vi nhân vật. Và không phải ngẫu nhiên, hệ thống nhân vật bị “què quặt” về ý thức ấy thường loay hoay trong những mối quan hệ xã hội phức tạp, bị bế tỏa trong một môi trường sống hỗn loạn, đổ nát, thậm chí là các chuẩn mực xã hội bị xô lệch, méo mó, dẫn đến xu hướng cá nhân luôn tìm cách vượt qua những cấm kị để đạt đến sự thỏa mãn về dục vọng, hay nói cách khác, khi quyền lực khống chế của các quy chuẩn đạo đức trở nên lỏng lẽo, những ham muốn ẩn tàng trong vô thức có cơ hội trở thành những hành vi tự nhiên. Rốt cục, ý thức bị tổn thương trầm trọng khi không còn khả năng chống đỡ những kích thích mạnh mẽ từ khát lực libido. Đó là kiểu nhân vật như Cương (Người đi vắng) đã chìm sâu vào trạng thái điên loạn sau cuộc tình lén lút với Hoàn; Khẩn (Ngồi) trở thành một kẻ “lưỡng thức” trong sự quay cuồng của tiếng gọi cám dỗ, khoái lạc; Hiền (Thoạt kỳ thủy) thì rấm rức chôn vùi cái ham muốn vì người chồng điên khùng, không biết mùi chăn gối… Đến Mình và Họ, sự khát cuồng của dục tính còn trở nên khủng khiếp hơn. Hằng – người con gái đang hừng hực xuân thì phải sống miễn cưỡng trong sự “non nớt” của người chồng. Thiếu vắng “hơi đàn ông” đã trở thành ẩn ức khiến cô luôn trong trạng thái thèm khát cái giây phút bùng cháy, thăng hoa kia. Một người phụ nữ đã có chồng dù sống trong “thiếu thốn”, thì sự thèm thuồng đến dễ dãi của họ vẫn là điều khó chấp nhận, nhưng dễ hiểu! Sự kháng cự yếu ớt, hay nói đúng hơn là sự bênh vực hời hợt của ý thức không đủ sức chống lại những xung năng của vô thức bị kìm nén bao ngày. Cô để mặc cho ông chú vục mặt vào cái phần nhạy cảm nhất của mình. Rồi cô cũng biến đứa em chồng của mình trở thành một thằng đàn ông trong cái đêm bên bờ sông mà chính nó cũng chưa đủ sức nhận thức và hưởng thụ hết điều ấy là gì. Rốt cục, cô cũng bỏ luôn người chồng đang tòng quân của mình để theo người đàn ông sửa xe máy, bởi một lí do duy nhất: thứ con gái của Hằng không thắng nổi đứa đàn bà trong chị. Nào là “tiết hạnh khả phong”, là ý tứ, là đạo lý, tất cả cũng trở nên nhỏ bé trước vũ điệu của dục vọng, ham muốn. Thứ khát lực vô hình mà mãnh liệt trong cõi vô thức ấy, người ta chỉ có thế giấu đi ở một thời điểm nào đó, chứ không thể nào chối bỏ, và dù có ngụy trang bằng tấm áo của sự thủy chung hay phẩm tiết thì nó vẫn luôn để lộ ra cái quyến rũ trên cơ thể của mình nhằm chờ chực một cơ hội được vuốt ve, thỏa mãn. Đến Hiếu – anh được sinh ra trong một không gian chặt chội, luôn bị ám ảnh bởi sự thiếu thốn của tình dục. Các thành viên trong gia đình, từ “chú” đến “anh”, rồi cả chị dâu của Hiếu không ai được thỏa mãn trong chuyện chăn gối. Mỗi người mang một sự thèm khát riêng, và chính điều ấy đã kích thích sự tò mò của Hiếu ngay từ thời thơ ấu. Đến khi chứng kiến cảnh nhăng nhít của “chú” và chị dâu, rồi lại được chị dâu cho không “thứ đàn bà” tại cái đêm bên bờ sông, thì dục năng đã khuếch đại cực độ trong Hiếu. Để rồi, lúc trưởng thành, cái mặc cảm của Hiếu với chị dâu ngày nào tuy chẳng tày trời như Oedipe nhưng nó cũng đủ để trở thành một ám ảnh tội lỗi, một vết thương trong tinh thần, và nghiêm trọng hơn hết, đó là điểm khai hỏa cho sự sa đọa tình dục ở Hiếu trong tương lai. Có thể thấy, nếu không có những giây phút kích động của hiện thực cuộc chiến (từ cuốn nhật kí của “anh”), nếu không chìm trong những ám ảnh bởi tội lỗi gây ra với Vân Ly, thì cuộc sống của Hiếu chỉ còn lại những khoảnh khắc thủ dâm hay giây phút hoang lạc chớp nhoáng với người tình. Rồi đến cả những nhân vật như Vân Ly, Trang, Quých, ông Chiến, chị Thủy… cũng đốt cháy cuộc đời của mình một cách vô nghĩa trong ngọn lửa của dục vọng.

Như vậy, trong mỗi con người, phần ham muốn tính dục luôn mạnh mẽ và quyết liệt, được che giấu hời hợt dưới lớp bọc của ý thức – nhân cách. Nhưng, ở bất kì một thời điểm nào, cái thân thể cường tráng và tràn đầy sinh lực ấy cũng có thể xé nát lớp vỏ chặt chội nhưng mỏng manh kia, để vùng vẫy trong khát vọng của mình. Kiểm soát hay chế ngự ham muốn vô thức là điều vô cùng khó, nếu không muốn nói là bất khả. Để nó tiếm quyền kiểm soát ý thức là tội lỗi của mỗi người. Thực tế ấy vẫn đang tồn tại trong Mình và Họ, và hẳn nhiên, là cả ở thế giới thực tại.

… đến hình ảnh của một “thế giới suy tàn”

Cả S.Freud và C.Jung đều chung quan điểm rằng, ý thức là cái gì đó rất mong manh trong bộ máy tâm trí, dễ bị tổn thương và luôn bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, mà mối nguy lớn nhất của ý thức, chính là sự trỗi dậy của vô thức trong trạng thái thiếu vắng kiểm duyệt. Với S.Freud, nếu như sự kiểm duyệt của cái Siêu Tôi trở nên lơi lỏng, bởi những xung năng trá hình [trong cơ tầng vô thức] được thỏa mãn đầy đủ trong những giấc mơ, hoặc với C.Jung, khi vô thức cá nhân bị mù lòa trước sự quyến rũ của những mô thức đại thể (schème général), hay những huyền thoại văn hóa - thì khi ấy, quyền tự trị tạm thời của ý thức bị mất kiểm soát nghiêm trọng, và cơ hồ biến thành một thứ công cụ để chiều chuộng cho những ham muốn vô thức.

Con người ở xã hội đương đại – được mô phỏng phần nào qua thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương - tuy chưa hẳn là những phóng thể trong cơn vật vờ đi tìm nhân vị, nhưng cũng đã mang cái thân phận mỏng manh, bất định, bị ném vào vùng xoáy của quyền lực tập thể, và vì thế, cái vô thức cá nhân luôn ở trạng thái bị kích động mạnh, muốn bứt lên khỏi sự phong bế của thứ quyền lực ấy. Đây là mối quan hệ xung đột không có điểm dừng, biểu hiện cho sự tiến hóa trong tinh thần nhân loại, nhưng quan trọng hơn, còn là điều kiện cho một trật tự ổn định. Xung đột ấy nếu bị triệt tiêu, hoặc sự vượt ngưỡng của vô thức cá nhân trở nên thiếu kiểm soát hay sự định hướng lệch lạc của huyền thoại tập thể với việc vắng bóng cái Đẹp, sẽ phá vỡ trật tự xã hội, và sự diệt vong trên mặt trận ý thức hệ là điều tất yếu.

Có thể thấy rằng, chưa ở đâu, trên văn đàn nước nhà, thế giới của người điên lại đông đảo và nhộn nhịp như trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Từ “hắn” (Vào cõi), rồi Tính, Hiền, ông Phùng (Thoạt kì thủy), đến “anh” (Mình và Họ)... Đó là chưa kể đến những kiểu nhân vật bị hôn mê như Hoàn (Người đi vắng), bị ám ảnh giữa hai cõi thực và mơ như Khẩn (Ngồi). Các nhân vật này luôn ở trong trạng thái nhập nhằng giữa ý thức và vô thức, bộ máy tâm trí của họ bị tổn thương vĩnh viễn bởi những biến cố kinh hoàng từ đời sống bên ngoài. Sự xuất hiện của Hiếu (Mình và Họ) chính là sự nâng cấp tận cùng cho thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, đã trải qua cả ba trạng thái kinh hoàng: cô đơn - cái chết - hư vô, đã phá vỡ sự lấp lửng giữa ý thức và vô thức, để tiến đến giới hạn của một linh hồn. Nếu các nhân vật như Hiếu (khi sống), Trang, Vân Ly, Chiến, “anh”… mang đến cái cảm quan về một thế giới chất đầy những oan nghiệt, tội lỗi và ham muốn dục vọng, thì sự chấp chới giữa sự sống và cái chết, giữa cõi thực và hư của linh hồn Hiếu (sau khi nhảy xuống vực) đem lại cho chúng ta cái lo âu thật sự về một thực tại bấp bênh, bất ổn, có thể sụp đổ bất cứ khi nào. Ngay cả khi đã nhập vào thế giới hư vô - với quyền năng vượt qua giới hạn của ý thức – Hiếu vẫn không thể nào phân biệt được cái ranh giới mong manh, mơ hồ giữa mình họ: “mà làm sao để phân biệt được lên với xuống ở cái vùng biên ải lúc nào cũng hoang mang, bồng bềnh này? Làm sao để phân biệt được mình với họ? Cừ rừm”(6) . Mình và Họ khép lại trên trang giấy bằng một tiếng khô khốc: cừ rừm – một âm thanh thoát ra trong vô thức, chứa đựng sự phẫn uất, bực dọc, nhưng trên hết thảy, tôi nghĩ rằng, đó là tiếng lảm nhảm bất lực vang lên từ cõi chết! Một nhân loại mông lung, mê sảng, nơi mà người ta chẳng thể phân biệt được giữa bạn và thù, giữa thổ phỉ và đồng bào, giữa mình họ; một xã hội vô cảm, nơi mà con người tôn thờ những bản năng khoái dục, nhưng lại thờ ơ với máu xương của đồng loại, sẵn sàng gằn gạ, triệt tiêu nhau để bảo vệ quyền lợi; một không gian văn hóa xộc xệch, sa đọa và bao trùm bởi bạo lực, chém giết, nơi mà người ta không thể phân biệt được văn minh và mông muội; một thế giới mà thiên nhiên bị cày xới, cuộc sống bị đổ vỡ, văn hóa bị suy thoái, còn con người thì nhàu nát cả về ngoại hình lẫn tâm hồn – một bức tranh hiện thực rộng lớn ở cả quãng dài thời gian (chừng 30 năm, trong và sau cuộc chiến biên giới) lẫn chiều kích không gian (từ thành thị nhộn nhịp đến miền núi hoang vu) nhưng người ta không thể tìm ra một cái Đẹp trọn vẹn, thay vì vô số những rách rưới, xấu xa, trần trụi, oan khuất - đó khác gì hình ảnh của một thế giới bên bờ vực suy tàn?

Để giải phóng cho Hiếu khỏi thứ hiện thực kinh hoàng ấy, Nguyễn Bình Phương đã tìm đến sức mạnh của Lửa. Từ trong vô thức tập thể, Lửa (Hỏa) là một siêu tượng - “là hiện tượng duy nhất có thể tiếp nhận rõ rệt đến như thế cả hai mặt giá trị đối lập: cái tốt và cái xấu. Nó sáng long lanh trên Thiên đàng. Nó cháy rực đỏ dưới Địa ngục. Nó là sự mơn trớn và sự hành hạ. Nó là bếp núc và ngày tận thế”(7) . Một mặt, Lửa trong Mình và Họ là sự hủy diệt, gắn liền với những tội lỗi, hận thù, sợ hãi, đau đớn tột cùng: “Hơi nóng bốc thành lửa trong hốc mắt mình, những búp lửa nhoi nhóp, rụt rè sau đó lan rộng ra. Vân Ly vùng vẫy, quật ngã mà không vang lên bất cứ tiếng thét nào. Chỉ có lửa diễn đạt sự phẫn nộ của âm thanh, với những cơn bùng lên, rạp xuống, nghiêng ngả đổ và lại rướn lên trong sự im lặng”(8) ; nhưng mặt khác, Lửa cũng là sự tái tạo. Thi pháp của Lửa là đi từ khởi nguyên đến tận thế, rồi từ tận thế chuyển vị sang tái sinh. Những đám lửa xanh lè từ xác thịt “anh” bị đốt đêm sang mộ, đến cái chết quằn quại của Vân Ly dưới ngọn lửa oan nghiệt, chính là thứ kích lực [vô thức] quan trọng tác động mạnh mẽ nhất đến vùng ý thức trong một tâm hồn đã quá khô cằn và chai sạn như Hiếu. Nó đeo đẳng Hiếu như một thứ mặc cảm tội lỗi, để rồi, từ trong vô thức, một cuộc trốn chạy đã hình thành tự bao giờ. “Đừng bao giờ để bị bắt” – là câu cuối cùng vang lên trong đầu Hiếu khi anh nhảy xuống vực. Với Hiếu, cái chết – để chấm dứt sự trốn chạy, còn tốt hơn là bị bắt, bị giam hãm trong cái không gian đặc quánh tội lỗi, hận thù. Hiếu, Vân Ly đã đốt cháy tuổi trẻ của mình trong những thứ ham muốn tầm thường, và rồi cũng chính ngọn lửa ấy tái sinh họ. Lửa – mỹ học của đau đớn – tiêu hủy cái hoại tử và phục sinh những điều tốt đẹp: trên cái đống tro tưởng như hoang tàn, nguội lạnh, nhưng lại nóng riết những chồi non chờ đến thời khắc được vươn mình, “phải có tro thì mới có ngày ngọn lửa hồi sinh” (Chế Lan Viên).

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, hiện thực xã hội luôn đặc quánh những tội lỗi, chết chóc, xung đột, rạn nứt, đổ vỡ, còn thế giới tâm hồn thì luôn là cái gì đó điên loạn, bất ổn, chấp chới, âu lo. “Văn học là cơ sở của tồn tại hoặc không là gì cả. Nó là hình thức thể hiện rõ nét của các Ác, một cái Ác theo tôi nghĩ, có một giá trị tối thượng. Quan điểm này không đòi hỏi sự thiếu vắng đạo đức, nó yêu cầu một “siêu đạo đức”(9) . Cái nhân tính trở nên eo ót, và bị bóp nghẹt trước sự bành trướng, phì nộn của thú tính, của bản năng, bạo lực, là một thực tế đáng báo động; từ một không gian xã hội đang đứng trước bờ vực của sự băng hoại và những ám ảnh ma quái trong làng Phan (Thoạt kỳ thủy), làng Linh Nham (Những đứa trẻ chết già), đến một xã hội với hình thái văn minh nhưng đang chuyển về bản chất hoang dã, tự nhiên của trạng thái thủy nguyên, là một “bước thụt lùi” nguy hiểm của xã hội loài người. Bởi thế, việc đào sâu vào mạch ngầm vô thức, trong cái nhìn từ sự xói mòn niềm tin ý thức và suy thoái quyền lực tập thể của nhà văn là một công việc khó khăn nhưng đáng để chúng ta tôn vinh và trải nghiệm. C.Jung cho rằng: “đương đầu với shadow(10) trước hết tạo ra một sự cân bằng nguy hiểm, một bế tắc cản trở những quyết định đạo đức và khiến cho mọi sự tin tưởng trở nên vô hiệu và thậm chí là không thể(11), nhưng, nếu né tránh hay phủ nhận shadow, đồng nghĩa với việc chúng ta tự loại bỏ đi cơ hội thực sự để khám phá cái phần sâu thẳm nhất trong cơ tầng vô thức, mang tính điều phối toàn bộ sự phát triển tâm lí cá nhân, điều đó cũng giống việc chạy chữa những căn bệnh nguy hiểm bằng một phương thuốc mơ hồ vậy.

Khát vọng hàn gắn lại thế giới bên bờ vực suy tàn của Nguyễn Bình Phương trong Mình và Họ (cũng như các tiểu thuyết trước đó của ông) không bắt đầu bằng phương diện hình thức, mà xuất phát từ trong tư duy – cuộc chơi của vô thức. Điều đó cũng lí giải tại sao lối hành văn của Nguyễn Bình Phương luôn khô khốc, rời rạc, thiếu vắng sự gắn kết, hài hòa, câu thoại bị chẻ nhỏ và cô lập bởi chính cái không gian tự sự đa tầng trong hình thái phân mảnh, cắt ghép. Chính điểm ấy thôi cũng được xem như là thứ “đặc sản” trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.

Để thế giới nhân vật vẫy vùng trong cuộc chơi vô thức, Nguyễn Bình Phương không phủ nhận cái ham muốn – bản năng trong bộ máy tâm trí, mà đối diện với nó bằng một cái nhìn tự nhiên: bản năng cần được bảo toàn, nhưng không phải là sự sa đọa tách rời khỏi những chuẩn mực xã hội. Nguyễn Bình Phương đang phác thảo cái cấu trúc phổ quát và cá biệt của con người từ trong chiều sâu bản thể, ở đó, ý thức và vô thức cùng song hành, cấm kị và ham muốn cùng tồn tại. Hơn nữa, việc bộ máy tâm trí phải thường xuyên giảm tích năng lượng dư thừa do xung năng mang lại hay những tham vọng triệt tiêu cái libido, chẳng khác nào việc tìm đến cái chết của sự sống. Vả lại, niềm tin về một thực thể con người có khả năng làm chủ ý thức “đã chết” từ khi học thuyết của S.Freud ra đời.

Sự đối kháng của “cái tự nhiên” và “cái văn hoá” trong mỗi bản thể cũng như sự đối chọi giữa những khát vọng cá nhân và chuẩn mực cộng đồng là một cuộc chiến khốc liệt, dai dẳng. Thời điểm mà cái Đẹp dần trở nên vô hình trước sự bành trướng của cái Khác, thì cơ hội dung hòa những xung lực cơ hữu ấy là điều mà mỗi cá nhân phải tự tạo ra cho mình, trước khi trông chờ một thứ huyền thoại khác xuất hiện.

-----------------------

(1) Dẫn theo Đỗ Lai Thúy (chủ biên), Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004, tr.164.

(2) Học thuyết về vô thức đã chỉ ra rằng, Cái bất thức (Not – Knowing) mới là vùng đất thật sự của sức sáng tạo – một “thảo nguyên chân không” nâng niu cho đôi cánh tưởng tượng, thoát khỏi sự ướt át của ý thức, vượt lên sự trần trụi của hiện thực được điểm trang bằng những thứ ngụy tạo, trượt ra khỏi những định thức chuẩn mực [ổn định] của những cái đã biết, thay vào đó là những miền đất ẩn sâu trong tâm thức, vùng vẫy trong tính bất tận của bộ máy tâm trí, được vực đẩy bởi kích lực vô thức. Nhưng chừng đó chỉ đủ chứng minh cho những sự sáng tạo cá nhân, còn để cắt nghĩa những vấn đề sâu xa có nguồn cội thuộc về văn hóa – cộng đồng [trong một tác phẩm nghệ thuật], thì chỉ đến C.Jung với lí thuyết về hệ thống cổ mẫu (gồm Shadow, Anima, Animus, Self) mới phần nào đủ sức thuyết phục.

(3) Đỗ Lai Thúy (chủ biên), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004, tr.55.

(4) Sigmund Freud, Phân tâm học nhập môn (Nguyễn Xuân Hiến dịch), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002, tr.26.

(5) “Siêu Tôi” được hiểu như là cái “tâm thức đạo đức”. Nó ở trên “cái tôi hiện thực”, có xu hướng phê phán và áp đặt những bó buộc, để vô thức ở trong trạng thái bị kìm nén, hay nói cách khác, nó là bộ máy kiểm duyệt những ham muốn vô thức vượt ra khỏi khuôn khổ đạo đức, chuẩn mực xã hội.

(6) Nguyễn Bình Phương (2014), Mình và Họ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr.302.

(7) Đỗ Lai Thúy (chủ biên), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004, tr.207.

(8) Nguyễn Bình Phương (2014), Mình và Họ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr.65.

(9) G. Bataille, Văn học và cái Ác (Ngân Xuyên dịch), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2013, tr.18.

(10) Về bản chất, shadow (một loại cổ mẫu) được cấu thành chủ yếu từ ham muốn bị dồn nén và những xung lực hoang dã, những động cơ thấp kém về đạo đức, những huyễn tưởng trẻ con và những sự thù hận... tức là tất cả những gì mà con người không tự hào.

(11) Dẫn theo, Bùi Lưu Phi Khanh, https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach/xxx/x

-------------Kỷ yếu Hội thảo Khoa Ngữ văn-----------------

 


Bài khác