Lên đầu trang
Nghiên cứu > Ngôn ngữ Hán Nôm
VỀ CÁC DANH NGỮ ĐƯỢC CHUYỂN NGHĨA ĐỂ CHỈ HOẠT ĐỘNG NÓI NĂNG TRONG TIẾNG VIỆT (ngày đăng: 04/15/2017)
TỪ TRƯỜNG THƠ LOẠN ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ MỚI 1932 - 1945 ThS. Chu Lê Phương Trường Đại học Quy Nhơn (ngày đăng: 09/29/2017)
HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA MIÊN TRINH TỪ GÓC NHÌN VĂN TỰ HỌC (ngày đăng: 05/14/2020)
Bài viết tập trung khảo sát những chữ Hán có bộ nữ biểu ý trong các thi phẩm (933 bài) của Vi Dã hợp tập (Miên Trinh). Về mặt cấu trúc, các chữ Hán được thống kê chủ yếu thuộc loại hình thanh. Một số chữ thuộc loại hội ý, tuy số lượng ít nhưng lại cho thấy được nguồn gốc sâu xa của các từ khiêm xưng của nữ giới. Về mặt ngôn ngữ, những chữ có bộ nữ biểu ý thuộc từ loại danh từ, động từ, tính từ. Trong nhóm từ định danh, đáng chú ý là từ khiêm xưng của người phụ nữ, từ để gọi cách thành viên thân tộc và các mĩ từ dùng để nói về một số người phụ nữ có địa vị bình thường, thậm chí thấp kém như bà góa (sương nga), hầu gái (thị cơ),… Trong nhóm tính từ, số từ mang sắc thái nghĩa tiêu cực xuất hiện ít (đố, vọng, gian, hiềm); đa số là từ đặc tả dáng vẻ mĩ miều, mềm mại, duyên dáng (kiều, nga, yên, tư), đặc biệt là các từ láy tượng hình (niệu na, quyên quyên, a na, sinh đình, vỉ vỉ). Qua cách dùng bộ nữ chỉ ý trong Vi Dã hợp tập, Miên Trinh đã thể hiện thái độ trân trọng, ưu ái cũng như sự tinh tế, nhạy cảm trong thấu hiểu, cảm thông với tâm tư, số phận của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam cuối XIX.
NGÔN NGỮ HỘI THOẠI CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ (ngày đăng: 05/30/2020)